Xác lập hợp đồng thế chấp tài sản theo Bộ luật dân sự

Nghiên cứu - Trao đổi
Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (BLDS) dành khá nhiều quy định cho thế chấp tài sản, đặc biệt trên phương diện xác lập giao dịch bảo đảm này. Bài viết tập trung phân tích một...
aa

Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (BLDS) dành khá nhiều quy định cho thế chấp tài sản, đặc biệt trên phương diện xác lập giao dịch bảo đảm này. Bài viết tập trung phân tích một số nét lớn của quá trình này và đề xuất một số giải pháp hạn chế các rủi ro có thể phát sinh cho các tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp tài sản.

Khái niệm thế chấp tài sản và đặc điểm của tài sản thế chấp

Khoản 1, Điều 317, Bộ luật dân sự định nghĩa thế chấp tài sản là “việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Từ định nghĩa này có thể thấy:

- Thế chấp không đặt ra yêu cầu việc giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp do bên thế chấp hoặc một bên thứ ba giữ (khoản 2, Điều 317, BLDS). Do đó, bên thế chấp có quyền “khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận” (khoản 1, Điều 321, BLDS) và “đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp” (khoản 2, Điều 321, BLDS). Trong nhiều trường hợp (chẳng hạn như thế chấp máy móc thuộc dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp hay thế chấp tòa nhà thương mại), việc tiếp tục được sử dụng, khai thác tài sản thế chấp có ý nghĩa quan trọng cho việc tạo ra dòng tiền dùng để hoàn trả khoản vay được bảo đảm. Điểm khác biệt cơ bản giữa thế chấp tài sản và cầm cố tài sản là nếu như thế chấp tài sản không đặt ra yêu cầu giao tài sản cho bên nhận thế chấp thì trong trường hợp cầm cố tài sản, bên cầm cố phải giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố (Điều 309, BLDS) và bên nhận cầm cố có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố (khoản 1, Điều 303, BLDS)[1]. Chính vì lý do này mà thế chấp được sử dụng rộng rãi hơn rất nhiều so với cầm cố trong thực tế cấp tín dụng có bảo đảm. Cần lưu ý là về bản chất pháp lý, các quyền tài sản (như quyền đòi nợ, quyền khác phát sinh từ hợp đồng, quyền sở hữu trí tuệ, phần vốn góp, cổ phần, số dư tài khoản…) không thể chuyển giao được về mặt vật chất nên không thể trở thành đối tượng của biện pháp cầm cố mà chỉ có thể được thế chấp mà thôi. Trong thực tế, mẫu hợp đồng bảo đảm của một số ngân hàng vẫn chưa ghi nhận nguyên tắc cơ bản này.

- Định nghĩa thế chấp nêu trên cũng không giới hạn việc sử dụng tài sản thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính bên thế chấp nên có thể hiểu rằng, nó công nhận một cách ngầm định việc một bên dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của một bên khác. Nói cách khác, biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba được sử dụng rộng rãi trong thực tế là hợp pháp theo định nghĩa này [2].

Định nghĩa nêu trên cũng đặt ra yêu cầu tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Nguyên tắc này cũng được ghi nhận tại khoản 1, Điều 295, BLDS; theo đó, “tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm […]”. Đối với việc thế chấp quyền sử dụng đất, quy định này được hiểu rộng là tài sản thế chấp phải thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp. Như vậy, một người không thể thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác và biện pháp thế chấp sẽ bị vô hiệu trong trường hợp này do vi phạm điều cấm (hàm ý) của luật (Điều 123, BLDS [3]). Đối với tài sản là đối tượng của điều khoản bảo lưu quyền sở hữu, do bên mua chưa có quyền sở hữu đối với tài sản này trong thời hạn có hiệu lực của điều khoản bảo lưu quyền sở hữu (khoản 1, Điều 331, BLDS), nên không có quyền thế chấp tài sản này. Ngược lại, về nguyên tắc, bên bán tài sản là đối tượng của điều khoản bảo lưu quyền sở hữu có thể thế chấp tài sản này (do bên này vẫn là chủ sở hữu của tài sản), nhưng quyền của bên nhận thế chấp sẽ xếp ở vị trí sau quyền của bên mua tài sản.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 295, BLDS, “tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”. Đây được xem như là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản. Có lẽ triết lý đằng sau quy định này là phải xác định được tài sản bảo đảm thì mới giúp hạn chế được các xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể khác nhau đối với tài sản. Tất nhiên, không có quy tắc chung cho việc phải mô tả tài sản bảo đảm như thế nào thì mới tuân thủ quy định trên của BLDS, mà việc mô tả này phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Về giá trị của tài sản thế chấp, khoản 4, Điều 295, BLDS nêu rõ: “giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”. Cần lưu ý, BLDS chỉ đề cập tới việc định giá tài sản bảo đảm khi xử lý (Điều 306), mà không đặt ra nguyên tắc nào đối với việc định giá tài sản bảo đảm khi xác lập hợp đồng bảo đảm, trong đó có hợp đồng thế chấp.

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 318, BLDS, “trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của động sản hay bất động sản, là một bộ phận của động sản hay bất động sản, nhưng có thể tách rời động sản hay bất động sản (khoản 2, Điều 110, BLDS).

Việc được sử dụng, khai thác tài sản thế chấp có ý nghĩa quan trọng

cho việc tạo ra dòng tiền dùng để hoàn trả khoản vay được bảo đảm

Sử dụng tài sản hình thành trong tương lai làm tài sản thế chấp

Hiện nay, vẫn còn một số ý kiến phản đối việc thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, phần lớn là do tính không chắc chắn của loại tài sản đặc biệt này [4]. Khoản 3, Điều 295, BLDS cho phép sử dụng tài sản hình thành trong tương lai làm tài sản bảo đảm (được hiểu là bao gồm cả tài sản thế chấp).

Khoản 2, Điều 108, BLDS nêu rõ tài sản hình thành trong tương lai bao gồm (i) tài sản chưa hình thành; và (ii) tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Như vậy, trong quan hệ thế chấp, tài sản hình thành trong tương lai có thể là tài sản còn chưa tồn tại về mặt vật chất hoặc là tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp. Cách tiếp cận này cũng là cách tiếp cận chung của các nền pháp luật tiên tiến trên thế giới như Anh, Úc…

Một điểm cần lưu ý là như nêu ở trên theo quy định tại khoản 1, Điều 295, BLDS, tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Rõ ràng là tại thời điểm xác lập hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, bên thế chấp vẫn chưa xác lập (được) quyền sở hữu của mình đối với tài sản này. Vậy, đâu là triết lý đằng sau quy định cho phép thế chấp tài sản hình thành trong tương lai?

Về điểm này, theo quy định tại khoản 1, Điều 319, BLDS, “hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Áp dụng vào trường hợp thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, để dung hòa với yêu cầu về việc tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp có thể lập luận rằng, biện pháp bảo đảm này chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, tức là thời điểm tài sản thế chấp đã hình thành và/hoặc bên thế chấp đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp. Các văn bản hướng dẫn BLDS cần làm rõ khía cạnh này để tránh các tranh chấp có thể phát sinh từ việc giải thích khác nhau quy định.

Thêm vào đó, khoản 2, Điều 295 đặt ra yêu cầu là “tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”. Điều đó, có nghĩa là tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng của biện pháp thế chấp phải có thể xác định được một cách đầy đủ tại thời điểm tài sản đó hình thành hoặc tại thời điểm tài sản đó thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp căn cứ vào việc mô tả nêu trong hợp đồng thế chấp.

Hiệu lực giữa các bên và giá trị pháp lý với bên thứ ba

Điều 319, BLDS phân biệt giữa hiệu lực (được hiểu là giữa các bên) của thế chấp tài sản và hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Theo đó, “hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”, và “thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”.

Cho dù cách sử dụng thuật ngữ nêu trên ít nhiều khó hiểu song có thể hiểu về nguyên tắc hợp đồng thế chấp được xác lập hợp pháp giữa các bên sẽ có hiệu lực đối với các bên (các bên bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ của mình cũng như có các quyền theo hợp đồng) kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc một văn bản luật có quy định khác. Khoản 1, Điều 298, BLDS quy định “việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định”. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản (khoản 4, Điều 400, BLDS).

Một văn bản luật có thể quy định hợp đồng thế chấp có hiệu lực sau thời điểm giao kết. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 188.3, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013, “việc […] thế chấp quyền sử dụng đất, […] phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Đối với việc thế chấp nhà ở thì thời điểm “có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng” theo quy định tại đoạn 2, Khoản 1, Điều 122, Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (“Luật nhà ở”).

Tương tự việc thế chấp tàu bay “có hiệu lực từ thời điểm được cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam” (Điều 29.3 và 28.1(c), Luật hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Việc thế chấp tàu biển có hiệu lực sau khi được ghi trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam theo quy định tại khoản 2, Điều 39, Bộ luật hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Khoản 1, Điều 4, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (“Nghị định 102”) quy định các biện pháp thế chấp sau đây phải đăng ký:

- Thế chấp quyền sử dụng đất;

- Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

- Thế chấp tàu bay; và

- Thế chấp tàu biển.

Dễ thấy là danh sách này bổ sung thêm trường hợp bắt buộc phải đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và dường như nhà làm luật ngầm định việc đăng ký này để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng thế chấp đối với các bên như được phân tích ở trên. Tuy nhiên, do nguyên tắc này không được ghi nhận trong Luật nhà ở nên cách tiếp cận của Nghị định 102 chưa thực sự phù hợp.

Nếu biện pháp thế chấp được đăng ký hợp lệ thì sẽ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký (khoản 1, Điều 297, khoản 2, Điều 298, và khoản 2, Điều 319, BLDS). Bên nhận thế chấp sẽ được quyền truy đòi tài sản thế chấp và được quyền ưu tiên thanh toán từ giá trị của tài sản đó (khoản 2, Điều 297, BLDS). Cần lưu ý là BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này vẫn chưa giải thích rõ khái niệm “quyền truy đòi tài sản” và các cách thức mà bên nhận thế chấp nói riêng hay bên nhận bảo đảm nói chung có thể thực thi được quyền này.

“Người thứ ba” không phải là bất kỳ ai mà phải được hiểu là một bên khác (ngoài bên thế chấp hay bên nhận thế chấp) có một quyền và/hoặc lợi ích đối kháng với bên nhận thế chấp, như một bên nhận bảo đảm khác (bên nhận thế chấp khác hay bên nhận cầm cố chính tài sản thế chấp), bên mua tài sản thế chấp, bên thuê tài sản thế chấp, bên bán trong trường hợp tài sản thế chấp là đối tượng của thỏa thuận bảo lưu quyền sở hữu, bên được thi hành án trong trường hợp bên thế chấp là người phải thi hành án, cơ quan thuế…

Như vậy, đối với các tài sản nêu ở trên mà một văn bản luật quy định việc đăng ký đảm bảo hiệu lực của thế chấp đối với các bên, thì việc đăng ký thế chấp này còn đảm nhiệm thêm một vai trò khác là để giao dịch thế chấp có hiệu lực đối kháng với các bên thứ ba.

Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp

Khoản 1, Điều 320, BLDS quy định bên thế chấp có nghĩa vụ “giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Như vậy, trừ trường hợp một văn bản luật có quy định khác, bên thế chấp chỉ phải giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ngân hàng nếu điều đó được quy định trong hợp đồng thế chấp hoặc được các bên thỏa thuận về sau. Nói cách khác, việc giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp không phải là quyền đương nhiên của ngân hàng.

Tất nhiên, nếu nắm giữ được giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cũng sẽ giúp bên thế chấp hạn chế được nguy cơ bên thế chấp thực hiện các giao dịch đối với tài sản này khi chưa có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, nhất là trong trường hợp tài sản thuộc diện đăng ký sở hữu như bất động sản.

Các phân tích nêu trên cho thấy, BLDS đã xác lập một hành lang pháp lý mới cho việc thế chấp tài sản với một số quy định ít nhiều mang tính đột phá. Tuy nhiên, vẫn còn có một số hạn chế hay khoảng trống trong các quy định này và các tổ chức tín dụng cần hết sức thận trọng khi xác lập hợp đồng thế chấp để có thể khắc phục được các rủi ro có thể phát sinh.

__________

[1] Nhược điểm lớn của cầm cố là đặt ra nghĩa vụ đối với các tổ chức tín dụng phải bố trí kho để lưu hàng hóa được cầm cố và bảo quản chúng.

[2] Xem thêm, Bùi Đức Giang, “Bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 33 (2016), ngày 11/8/2016, trang 6.

[3] Điều 123, BLDS: “giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật […] thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định […]”.

[4] Xem thêm Trương Thanh Đức, “9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2017, 161 - 168.

TS. Bùi Đức Giang

Nguồn: TCNH số 4/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành