Ví điện tử và Mobile Money - Cạnh tranh là cơ hội cho cả hai bên

Kinh tế - xã hội
Thanh toán điện tử tại Việt Nam những năm gần đây phát triển mạnh mẽ với sự nở rộ các ví điện tử, đưa lại nhiều tiện ích cho người dùng. Thanh toán điện tử tại Việt Nam những năm gần đây phát triển m...
aa

Thanh toán điện tử tại Việt Nam những năm gần đây phát triển mạnh mẽ với sự nở rộ các ví điện tử, đưa lại nhiều tiện ích cho người dùng.

Thanh toán điện tử tại Việt Nam những năm gần đây phát triển mạnh mẽ với sự nở rộ các ví điện tử, đưa lại nhiều tiện ích cho người dùng. Hiện nay, khi việc triển khai dịch vụ Mobile Money (tiền di động) gần kề thì các nhà cung ứng ví điện tử lại có những lo ngại về khả năng mở rộng thị phần. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, mỗi loại hình có một thế mạnh riêng, cạnh tranh sẽ là cơ hội cho cả hai và đích đến là phục vụ tốt hơn nhu cầu thanh toán đa dạng của người dùng.

Ví điện tử ngày càng được ưa chuộng

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có Văn bản số 37/GP-NHNN về việc cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho Công ty Cổ phần Thanh toán G (GPAY).

Theo giấy phép này, các dịch vụ trung gian thanh toán mà GPAY được cấp phép là: Dịch vụ Cổng thanh toán điện tử; dịch vụ Hỗ trợ thu hộ, chi hộ và dịch vụ ví điện tử. Công ty Cổ phần Thanh toán G (GPAY) là một đơn vị thành viên trực thuộc Tập đoàn G-Group. Được thành lập vào tháng 6 năm 2018, khởi điểm của GPAY là ứng dụng hỗ trợ kết nối dịch vụ chuyển tiền 24/7. Đây là nền tảng để người dùng có thể cung cấp dịch vụ như các ATM di động. Tổng giá trị giao dịch của GPAY rơi vào khoảng 50 triệu USD trong năm 2019. GPAY đặt mục tiêu mở rộng mạng lưới tới 63 tỉnh thành phố của Việt Nam và cung cấp toàn diện các dịch vụ thanh toán và tài chính bao gồm cổng thanh toán; ví điện tử; thu hộ, chi hộ và đầu tư số... cho hơn 5 triệu người dùng vào năm 2023.


Mobile Money dự kiến được cấp phép thử nghiệm năm 2020

Trước đó, Công ty Cổ phần VINID PAY (trực thuộc Tập đoàn Vingroup) cũng đã được cấp phép dịch vụ trung gian thanh toán dưới hình thức dịch vụ ví điện tử.

Đến nay, đã có 33 tổ chức tại Việt Nam không phải là ngân hàng đã được NHNN cấp phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Riêng ở TP.HCM và Hà Nội, nghiên cứu gần đây của Cimigo cho thấy, Momo, Moca và ZaloPay là 3 ví được sử dụng phổ biến nhất, chiếm đến 90% thị phần người dùng ví điện tử. Trong khảo sát của Cimigo, người dùng Moca hiện có tần suất sử dụng ví thường xuyên nhất. Trung bình mỗi ngày, người dùng Moca thực hiện 2,2 giao dịch, cao hơn người dùng Momo với 2,0 giao dịch và người dùng ZaloPay với 1,6 giao dịch.

Cùng với đó, nghiên cứu cũng chỉ ra Moca hiện đang là ví điện tử dẫn đầu về mức độ gắn bó với ví, với 95% khách hàng sử dụng Moca nói rằng họ vẫn tiếp tục sử dụng ví này cho dù không có khuyến mãi. Tỷ lệ này của Momo là 89% và ZaloPay là 84%.

Một ví dụ điển hình khác cho sự phát triển mạnh mẽ và ấn tượng về thị phần của ví điện tử được nhắc đến là ứng dụng Momo. Mới đầu năm 2019, Momo công bố đã tiếp cận được 10 triệu người dùng với khối lượng giao dịch tăng gấp 3 lần năm 2017. Thậm chí, sự sôi động và hấp dẫn của ví điện tử đã thu hút các ngân hàng cũng như các công ty, tập đoàn công nghệ lớn từng bước thâm nhập vào thị trường mới nổi này. Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt có sản phẩm Ví Việt, hay Bank Plus ra đời là sự kết nối giữa Viettel và MBBank, VPBank với Timo và Maritime Bank với MEED, Sacombank cũng đã cho ra mắt ví Sacombank Pay... Ngoài ra còn có những công ty, tập đoàn công nghệ lớn như WePay (của VC Corp), ViettelPay của Viettel... Không những thế, một số doanh nghiệp nước ngoài cũng chọn cách bắt tay với các doanh nghiệp nội trong cuộc đua giành thị phần ví điện tử, phải kể đến Quỹ Đầu tư Standard Chartered Private Equity và Ngân hàng đầu tư toàn cầu Goldman Sachs đã hợp tác với Công ty cổ phần M-Service bỏ vốn vào Momo. VNPT Epay có 65% vốn sở hữu thuộc Quỹ Đầu tư của Hàn Quốc, 90% vốn của Công ty cổ phần OnePay thuộc về Tập đoàn TrueMoney đến từ Thái Lan...

Sở dĩ, ví điện tử có nhiều cơ hội để phát triển tại Việt Nam, là bởi những tiện ích, sử dụng nhanh chóng, an toàn của loại hình thanh toán này. Một là: Ví điện tử tạo nên sức hút hiện nay là miễn phí tất cả các giao dịch thanh toán, chuyển khoản và tích điểm cho người tiêu dùng thường xuyên thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Hai là: Khi mua sắm trên các trang thương mại điện tử, người dùng ví điện tử có thể bảo mật các thông tin về thẻ cũng như tài khoản ngân hàng mà không cần phải cung cấp cho các website thông qua ví điện tử, giúp hạn chế được rò rỉ thông tin.

Các khảo sát gần đây cho thấy, Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho các ví điện tử phát triển. Theo khảo sát tiêu dùng toàn cầu năm 2019 của PwC (1 trong 4 công ty kiểm toán, tài chính ngân hàng hàng đầu thế giới) đối với 27 nước/vùng lãnh thổ, cho thấy, dự kiến Việt Nam sẽ là thị trưởng tăng trưởng nhanh nhất về thanh toán di động. Tỷ lệ thanh toán bằng di động ở Việt Nam đã tăng từ 37% năm 2018 lên mức 61% năm 2019, là mức tăng cao nhất trong số 6 quốc gia Đông Nam Á tham gia khảo sát.

Từ đó có thể thấy, Việt Nam là một trong những thị trường ứng dụng thanh toán di động tiềm năng, phát triển nhanh nhất khu vực và có sức tác động mạnh mẽ, thúc đẩy sự tăng trưởng của các hình thức thanh toán điện tử nói chung và ví điện tử nói riêng. Bên cạnh đó, phải kể đến những điều kiện khác như: Chính phủ khuyến khích phát triển TTKDTM; các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng công nghệ thanh toán hiện đại; các loại hình thương mại điện tử, kinh doanh, hoạt động tiêu dùng, thương mại, mua sắm, dịch vụ, du lịch trong nước phát triển mạnh mẽ.

Chính sách quản lý ví điện tử ngày càng được hoàn thiện

Liên quan đến chính sách quản lý hoạt động và sử dụng ví điện tử, cuối năm 2019, NHNN đã ban hành tại Thông tư 23/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có quy định: Việc nạp tiền vào ví phải qua tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ của khách hàng hoặc nhận tiền từ ví khác do cùng tổ chức cung ứng.

Về tổng hạn mức giao dịch của một ví điện tử cá nhân, bao gồm cả thanh toán và chuyển cho ví khác, không quá 100 triệu đồng trong một tháng. Cụ thể, tại điểm c, khoản 6, Điều 9 của Thông tư 23 quy định: Tổng hạn mức giao dịch qua các ví điện tử cá nhân của 01 khách hàng tại 01 tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử (bao gồm giao dịch thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và giao dịch chuyển tiền từ ví điện tử này cho ví điện tử khác do cùng tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử mở) tối đa là 100 triệu đồng trong một tháng.

So với dự thảo trước đây, quy định chính thức đã bỏ hạn mức 20 triệu đồng mỗi ngày. Quy định này được đưa ra nhằm quản lý tốt hơn hoạt động ví điện tử, tránh việc khách hàng đăng ký mở ví điện tử tràn lan, không thực chất, phù hợp với thực trạng phát triển thị trường ví điện tử tại Việt Nam.

Hơn nữa, bản chất dịch vụ trung gian thanh toán là trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán. Do đó, các dịch vụ trung gian thanh toán (bao gồm dịch vụ ví điện tử) phải được cung ứng cho đối tượng khách hàng là người đã có tài khoản tại ngân hàng. Dịch vụ ví điện tử cần đảm bảo tính định danh và phải được liên kết với tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Với vai trò cung ứng ví điện tử, tổ chức trung gian thanh toán cũng phải đảm bảo có đủ dữ liệu khách hàng của mình để phục vụ yêu cầu tra soát, khiếu nại của khách hàng, cũng như phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra của cơ quan chức năng khi có yêu cầu (tổ chức trung gian thanh toán không thể không nắm được thông tin về khách hàng của mình).

Theo thống kê của NHNN, trong Quý I/2019, tại Việt Nam, số lượng giao dịch bình quân của 01 ví điện tử là khoảng 2,54 giao dịch/tháng, giá trị giao dịch bình quân của 01 Ví điện tử là khoảng hơn 966.000 VND/tháng.

Trên thế giới, kinh nghiệm của một số nước về quản lý tiền điện tử (Ví điện tử), các Ngân hàng Trung ương đều có quy định về hạn mức sử dụng Ví điện tử ở mức tương đối thấp để giảm thiểu các rủi ro, như: Tại Philippin, phương tiện tiền điện tử được phát hành sẽ có tổng số tiền nạp hàng tháng không được vượt quá 100.000 Peso (khoảng 44 triệu đồng), trừ trường hợp khác được NHTW chấp nhận; hoặc tại Trung Quốc, tài khoản ví điện tử cấp độ 3 (việc xác thực khách hàng được thực hiện thông qua gặp mặt trực tiếp hoặc định danh không gặp mặt trực tiếp thông qua xác thực chéo với ít nhất 05 kênh định danh hợp lệ), khách hàng được sử dụng ví điện tử để thanh toán tiêu dùng, chuyển tiền và đầu tư vào các tài sản, sản phẩm tài chính với hạn mức lũy kế cả năm không quá 200.000 nhân dân tệ/năm (khoảng 680 triệu đồng/năm).

Thông tư mới cũng bỏ hạn mức giao dịch với ví điện tử dành cho tổ chức, trước đó hạn mức trong dự thảo tối đa không quá 100 triệu mỗi ngày và 500 triệu đồng mỗi tháng. Sở dĩ có sự lược bỏ quy định về hạn mức ví điện tử của tổ chức do khách hàng tổ chức có mức xác thực cao hơn khách hàng cá nhân, ví điện tử của tổ chức thường được sử dụng với nhiều mục đích đa dạng như chi trả lương cho cán bộ của công ty, quản lý các khoản thu, chi nội bộ.

Cũng theo Thông tư 23, các hành vi nghiêm cấm gồm: Việc sử dụng ví điện tử để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác; nghiêm cấm việc thuê, cho thuê, mượn, cho mượn ví điện tử hoặc mua, bán thông tin ví điện tử; Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử không được phép cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng ví điện tử, trả lãi trên số dư ví điện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên ví điện tử so với giá trị tiền khách hàng nạp vào ví điện tử.

Theo quy định, khách hàng được sử dụng ví điện tử để: Thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ hợp pháp; Chuyển tiền cho ví điện tử khác do cùng tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử mở; Rút tiền ra khỏi ví điện tử về tài khoản thanh toán hoặc thẻ ghi nợ của khách hàng (chủ ví điện tử) tại ngân hàng.

Gần đây đã có những phân tích về khả năng dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán ví điện tử và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Mobile Money (tiền di động). Thực tế, một số tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử đã bày tỏ sự lo ngại về việc mở rộng thị phần và phát triển khách hàng của ví điện tử nếu Mobile Money được triển khai trong tương lai không xa.

Cạnh tranh sẽ là cơ hội cho hai bên

Dự thảo Nghị định thay thế Nghị đinh 101/2012/NĐ-CP quy định về TTKDTM có đưa ra khái niệm: “Tiền di động là tiền điện tử do tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán kinh doanh dịch vụ viễn thông phát hành và định danh khách hàng thông qua cơ sở dữ liệu thuê bao di động”. Khái niệm này có sự tương đồng với khái niệm về tiền di động của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC). Theo IFC, Mobile-Money về bản chất là hình thức tiền điện tử (e-money), trong đó các giao dịch thanh toán và tài chính được thực hiện trên điện thoại di động, có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp gắn kết với tài khoản ngân hàng. Nói cách khác, Mobile Money là kết hợp của tiền điện tử (như thẻ trả trước, ví điện tử) và sử dụng nền tảng kỹ thuật di động để thực hiện các giao dịch tài chính, sử dụng cơ sở dữ liệu thuê bao di động để định danh khách hàng.

Về những lợi ích khi triển khai Mobile Money, có thể thấy, dịch vụ này sẽ tận dụng hạ tầng viễn thông, do đó, giúp giảm các chi phí xã hội để phát triển, mở rộng các dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, thị trường sẽ có thêm các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, góp phần thúc đẩy hoạt động TTKDTM, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính. Qua đó góp phần thay đổi dần thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người dân vẫn còn khá phổ biến hiện nay. Hơn nữa, Mobile Money góp phần cung ứng cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng kênh giao dịch nhanh chóng và thuận tiện. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ 24/7, thanh toán mọi lúc, mọi nơi. Qua đó góp phần phổ cập tài chính, thúc đẩy tài chính toàn diện.


Mặc dù Mobile Money có những lợi thế nhất định, nhưng với bề dày về kinh nghiệm và được đông đảo khách hàng đón nhận nhờ nhiều tiện ích, các ví điện tử, trung gian thanh toán cũng có những lợi thế nhất định khi đã phát triển trước.

Việc chấp thuận tiền di động là nhằm cung cấp cho người dân ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo thêm phương tiện thanh toán mới. Trong khi các ngân hàng có thể tiếp cận tương đối người dân ở thành thị, hướng tới những giao dịch lớn, khách hàng lớn, những đối tượng người dân ở nông thôn, vùng sâu khó vươn tới được. Với ví điện tử và Mobile Money mỗi bên sẽ có một đối tượng khác nhau để phục vụ. Mobile Money có thế mạnh khi tiếp cận khách hàng vùng sâu, vùng xa, những đối tượng chưa có tài khoản ngân hàng, đáp ứng được các giao dịch nhỏ lẻ chủ yếu thực hiện trên điện thoại di động. Trong khi, với ví điện tử, khách hàng cần có tài khoản mở tại ngân hàng liên kết. Điều này sẽ tạo nên hệ sinh thái đầy đủ cho lĩnh vực tài chính. Và đích đến cuối cùng là để người dân thuận tiện giao dịch, thanh toán dịch vụ. Khi đó mạng lưới của công ty viễn thông sẽ hỗ trợ việc cung cấp giải pháp tài chính toàn diện đến người dân, phổ cập nhanh hiệu quả với chi phí thấp hơn.

Tuy nhiên, xét về độ rủi ro, đối với dịch vụ Mobile Money, việc định danh, xác thực (KYC) khách hàng do các doanh nghiệp viễn thông tự thiết lập có thể không đảm bảo KYC chính xác khách hàng, đặc biệt trong tình trạng SIM rác (sử dụng thông tin không chính danh để đăng ký thông tin thuê bao, kích hoạt sẵn SIM thuê bao), mua bán SIM kích hoạt sẵn vẫn còn khá phổ biến tại Việt Nam hiện nay. Từ đó, dẫn tới các hành vi mạo danh khách hàng trong việc mở và sử dụng Mobile Money, thực hiện các giao dịch giả mạo, gian lận, giao dịch bất hợp pháp bằng Mobile Money.

Bên cạnh đó là rủi ro trong công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố; rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt khi các doanh nghiệp viễn thông khó có thể kiểm soát chính xác số lượng, giá trị tiền mặt các điểm kinh doanh đã nhận của khách hàng; rủi ro trong công tác kho quỹ, an toàn kho quỹ đối với các điểm kinh doanh; rủi ro nhận tiền giả khi thực hiện giao dịch thu/chi tiền mặt trực tiếp; rủi ro xảy ra trong trường hợp các khách hàng không đủ khả năng chi trả.

Ngoài ra là vấn đề kỹ thuật công nghệ, hạ tầng viễn thông, cơ sở vật chất, không đáp ứng các điều kiện an toàn, bảo mật, gây lộ, lọt thông tin của khách hàng, mất tiền trên tài khoản Mobile Money của khách hàng.

Trong khi đó, nếu xét về độ an toàn, thì các ví điện tử có thể chiếm ưu thế hơn nhờ nền tảng công nghệ bảo mật đối với thông tin khách hàng của các ngân hàng, đặc biệt khi khách hàng mở ví điện tử sẽ có những yêu cầu chặt chẽ hơn về thông tin và liên kết với tài khoản thanh toán.

Cụ thể, theo Thông tư 23, khách hàng phải hoàn thành việc liên kết ví điện tử với tài khoản thanh toán hoặc thẻ ghi nợ của khách hàng mở tại ngân hàng liên kết trước khi khách hàng sử dụng ví điện tử; ví điện tử phải được liên kết với tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam hoặc thẻ ghi nợ (có gắn với tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam) của khách hàng mở tại ngân hàng liên kết; Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải thỏa thuận với ngân hàng liên kết hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và dịch vụ bù trừ điện tử về quy trình, cách thức liên kết ví điện tử với tài khoản thanh toán hoặc thẻ ghi nợ của khách hàng.

Điều này đảm bảo an toàn thông tin và tài khoản cho cả khách hàng và ngân hàng, tránh những hành vi gian lận, lừa đảo, thậm chí là rửa tiền. Quy định này cũng phù hợp với bản chất dịch vụ trung gian thanh toán là trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán.

Tài liệu tham khảo:

- Thông tư 23/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán;

- Cổng thông tin điện tử NHNN: sbv.gov.vn;

- Trang tin điện tử của Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: consosukien.vn.

Phạm Linh Anh

Theo Chuyên đề CN và NHS số 4/2020

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Chuyển đổi số “vun đắp” khát vọng xây dựng ngành Ngân hàng hiện đại, thông minh, phát triển

Trong hai ngày 22 - 23/5/2026, Hội thi Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức đã diễn ra thành công tốt đẹp. Hội thi năm 2026 ghi nhận quy mô lớn với sự tham gia của 32 đội thi đến từ 32 đơn vị trong ngành và công ty công nghệ tài chính (Fintech) hàng đầu, đại diện cho trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng chuyển đổi số của toàn ngành Ngân hàng.
Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn ngành Ngân hàng

Sáng 22/5/2026, Hội thi “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” năm 2026 với chủ đề “Chủ động số hóa - Bứt phá tương lai” nhằm chào mừng 75 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam (06/5/1951 - 06/5/2026) và hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (11/5/2026) do Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tổ chức chính thức khai mạc.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo -  Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Infographic: Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031

Sáng 08/4, Quốc hội biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ông Phạm Đức Ấn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sáng 08/4/2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ

Với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các Nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm 6 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Khơi thông nguồn lực tài chính cho lộ trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp

Trước áp lực kép từ biến động địa chính trị năng lượng và các rào cản thương mại xanh khắt khe, chuyển đổi xanh đã không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành yêu cầu cấp bách để kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế. Trong khuôn khổ Tọa đàm “Chuyển đổi xanh - chìa khoá tiết kiệm nguồn lực” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 27/3/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia quản lý và kinh tế đã cùng nhận diện những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, dữ liệu. Đồng thời, nhiều đề xuất quan trọng về việc hoàn thiện Danh mục phân loại xanh, cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách đã được gợi mở, nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, giúp ngành Ngân hàng thực hiện tốt vai trò dẫn dắt nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Xem thêm
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng