Vắc-xin Covid-19: Vai trò của Nhà nước và chương trình tiêm phòng quốc gia

Nghiên cứu - Trao đổi
Từ các bàn luận hay đề xuất xã hội về chương trình tiêm phòng dịch vụ vắc-xin phòng Covid-19 (vắc-xin), bài viết mong muốn lý giải tính cần thiết của chương trình tiêm phòng quốc gia và đề xuất lựa c...
aa

Từ các bàn luận hay đề xuất xã hội về chương trình tiêm phòng dịch vụ vắc-xin phòng Covid-19 (vắc-xin), bài viết mong muốn lý giải tính cần thiết của chương trình tiêm phòng quốc gia và đề xuất lựa chọn thực hiện tiêm phòng miễn phí hay dịch vụ...

Tóm tắt:

Từ các bàn luận hay đề xuất xã hội về chương trình tiêm phòng dịch vụ vắc-xin phòng Covid-19 (vắc-xin), bài viết mong muốn lý giải tính cần thiết của chương trình tiêm phòng quốc gia và đề xuất lựa chọn thực hiện tiêm phòng miễn phí hay dịch vụ. Bằng các phân tích, lập luận theo hai tiêu chí hiệu quả và công bằng gắn liền với mục tiêu y tế, bài viết làm rõ các bất ổn thị trường là cơ sở cần thiết cho chương trình tiêm phòng quốc gia và tối ưu hóa lợi ích là cơ sở lựa chọn hình thức tiêm phòng. Bài viết khuyến nghị thực hiện chương trình tiêm phòng miễn phí đảm bảo công bằng tiếp cận dịch vụ và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

Từ khóa: Vắc-xin, Covid-19, tiêm phòng, hiệu quả, công bằng, tiếp cận dịch vụ.



1. Đặt vấn đề

Việt Nam đang đối mặt với làn sóng bùng phát thứ 4 của dịch bệnh Covid-19, song được đánh giá là một trong những nước có số ca tử vong thấp nhất ở châu Á trong thời điểm hiện nay và cũng là nước duy nhất đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế dương ở Đông Nam Á trong năm vừa qua. Để đạt mục tiêu kép vừa đẩy lùi dịch bệnh vừa đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống người dân trước tình hình dịch bệnh, Chính phủ đã ứng phó bằng nhiều biện pháp hành chính và kinh tế. Một số thành công nhất định của Chính phủ đã dành được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và sự ủng hộ của toàn dân, mặc dù vậy cũng có một số ý kiến hay đề xuất điều chỉnh xoay quanh các biện pháp như hiện nay. Chẳng hạn như việc thành lập Quỹ vắc-xin là nhằm mục đích sớm có đủ kinh phí mua vắc-xin, nhưng cũng có ý kiến cho rằng nên sớm cho phép tiêm phòng dịch vụ để giảm áp lực tài chính công, ngược lại cũng có ý kiến cho rằng tiêm phòng dịch vụ sẽ là không công bằng trong tiếp cận. Vậy, vấn đề đặt ra là nên tiêm phòng miễn phí hay tiêm phòng dịch vụ vắc-xin, Nhà nước có vai trò như thế nào trong việc đảm bảo người dân tiếp cận vắc-xin nhằm đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng? Từ góc độ kinh tế học khu vực công, bài viết sẽ lý giải các bất ổn của thị trường theo tiêu chí hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội gắn với mục tiêu miễn dịch cộng đồng để làm rõ vai trò điều tiết của Nhà nước và cơ sở lựa chọn chương trình tiêm phòng miễn phí hay tiêm phòng dịch vụ.

2. Vắc-xin: Hàng hóa đặc biệt và các bất ổn thị trường

Các bất ổn thị trường được đề cập đến theo hai tiêu chí: Không hiệu quả và không công bằng. Thị trường không đạt hiệu quả, còn gọi là thất bại thị trường, là tình huống thị trường phân bổ nguồn lực không đạt tối đa hóa phúc lợi xã hội và gây ra các tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền, thông tin bất cân xứng, ngoại tác, hàng hóa khuyến dụng - phi khuyến dụng và hàng hóa công,… Thị trường không đảm bảo công bằng là tình huống thị trường phân bổ nguồn lực không như nhau cho các đối tượng có tình trạng ban đầu giống nhau bao gồm tình trạng kinh tế, bẩm sinh, sức khỏe, rủi ro,… Hệ quả mà các bất ổn thị trường gây ra là tình trạng sản xuất hay tiêu dùng dưới mức hay quá mức tối ưu của xã hội và từ đó gây ra tổn thất phúc lợi xã hội.

Vắc-xin là một loại hàng hóa đặc biệt bởi vì có tính khan hiếm cao, đồng thời tính khuyến dụng cũng rất cao, hai tính chất đặc biệt này không chỉ hiện hữu ở từng quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu. Thị trường vắc-xin sẽ không hiệu quả nếu không có bất kỳ sự can thiệp nào của Nhà nước, hệ quả là nhu cầu cung ứng sẽ dưới mức hay quá mức ở các phân khúc thị trường khác nhau, nhu cầu tiêm phòng cũng sẽ quá ít hay quá nhiều ở các nhóm dân cư khác nhau, từ đó vắc-xin không được phân bổ đồng đều giữa các nước khác nhau và mỗi quốc gia sẽ khó đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Nếu không có điều tiết của Nhà nước, thị trường vắc-xin sẽ có các vấn đề bất ổn sau đây:

Thứ nhất, thị trường độc quyền. Nga là nước duy nhất trên thế giới có 3 loại vắc-xin và cũng là nước đầu tiên công bố vắc-xin được cấp phép và phân phối; kế đến là Anh, Mỹ, Đức, Thụy Sĩ và Trung Quốc. Nguồn cung khan hiếm này khởi nguồn từ đại dịch Covid-19 toàn cầu và tính khẩn cấp đẩy lùi dịch bệnh, khả năng đầu tư nghiên cứu phát triển và khả năng thành công của mỗi quốc gia, do đó, chỉ có một số ít quốc gia sản xuất được và có quyền sở hữu trí tuệ. Đặc tính của mỗi loại vắc-xin cũng khác nhau về mức độ hiệu quả, thời gian giữa các lần tiêm, độ tuổi được tiêm,… Theo đánh giá ở một số nước, Moderna, Sputnik và Pfizer đạt hiệu quả phòng Covid-19 cao nhất (trên 90%), kế đến là Sinopharm và Novavax (trên 70%), Johnson & Johnson và AstraZeneca (trên 60%) do sự xuất hiện của các biến thể mới của SARS-CoV-2. Đồng thời, việc sản xuất vắc-xin, chẳng hạn như loại mRNA, đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ đặc biệt, nguyên liệu đặc biệt, lao động trình độ cao. Với các đặc điểm trên, có thể thấy, thị trường vắc-xin có tính độc quyền cao, nếu không có điều tiết của Nhà nước thì vắc-xin sẽ có giá thương mại rất cao và chỉ được phân phối đến các nước giàu.

Thứ hai, ngoại tác tích cực. Tiêm vắc-xin không chỉ có tác dụng bảo vệ cho người được tiêm mà còn cho cả người chưa được tiêm và khi dân số được tiêm đạt đến một tỉ lệ nhất định sẽ tạo ra miễn dịch cộng đồng. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho trường hợp Israel, cứ mỗi 20% tỉ lệ người từ 16 - 50 tuổi được tiêm thì tỷ lệ người dưới 16 tuổi chưa được tiêm bị nhiễm giảm đi 50%. Đây chính là ngoại tác tích cực, do đó, vắc-xin là hàng hóa khuyến dụng, nếu không có điều tiết của Nhà nước thì tỉ lệ dân số thực hiện tiêm phòng sẽ rất thấp và kết cục sẽ không đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Một cuộc khảo sát vào tháng 5/2021 ở Philippines cho thấy, có đến 68% người được hỏi là không chắc chắn hoặc không muốn tiêm. Mỹ là một trong những nước sản xuất thành công và tiêm phòng miễn phí cho toàn dân nhưng chỉ có 32% dân số được tiêm phòng đầy đủ và 47% được tiêm lần 1, có 25% người được hỏi từ chối tiêm vắc-xin. Ở Việt Nam, tỉ lệ người dân được hỏi đồng ý tiêm phòng là khá cao (98%), mặc dù vậy, đây là kết quả khảo sát vào thời điểm đang rất khan hiếm vắc-xin vì nhập về chưa nhiều và đang trong thời gian đầu làn sóng dịch bệnh lây lan mạnh, chủ trương được tiêm phòng miễn phí. Giả sử trong tình trạng tương đồng như các nước hoặc thực hiện tiêm phòng dịch vụ, tỉ lệ này sẽ thấp hơn rất nhiều, bởi vì một tỉ lệ dân số sẽ thay đổi ý kiến khi không có khả năng chi trả hay không sẵn sàng tự chi trả cho tiêm phòng dịch vụ.

Thứ ba, thông tin bất cân xứng. Một trong những nguyên nhân tỉ lệ dân số không muốn tiêm phòng ở các nước rất cao là do chưa tin vào tác dụng miễn dịch của vắc-xin, nhất là các biến chủng mới, e dè việc nghiên cứu phát triển được thực hiện trong thời gian ngắn, lo sợ các triệu chứng phụ hay sốc phản vệ sau tiêm, rủi ro tính mạng, chờ quan sát kết quả tiêm phòng hay chờ một số loại vắc-xin khác,... càng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh - được gọi là lựa chọn ngược. Ngoài ra, nguyên nhân còn do sử dụng cách chữa trị bằng cỏ cây như một số loại cúm khác, theo tục lệ địa phương,... như ở Philippines, Ấn Độ,... - được gọi là tâm lý ỷ lại. Đây chính là vấn đề của bất cân xứng thông tin, nếu không có điều tiết của Nhà nước thì tỉ lệ tiêm phòng sẽ dưới mức mong muốn và không đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Tình trạng tỉ lệ tiêm phòng thấp đã dẫn đến hai xu hướng trái ngược: khủng hoảng thừa ở các nước sản xuất và khủng hoảng thiếu ở các nước nhập khẩu và do đó, vắc-xin được rao bán với các mức giá khác nhau trên các trang mạng. Nếu không có điều tiết của Nhà nước, nhóm dân số có tâm lý hoang mang lo lắng và có khả năng chi trả sẽ tự tiếp cận các nguồn mua bán trên thay vì chờ đợi chương trình tiêm phòng quốc gia, kết quả có thể lựa chọn ngược: người mua mua được vắc-xin nhưng nguồn gốc không rõ ràng hoặc hiệu quả thấp và rủi ro đạo đức: người bán không giao vắc-xin vì không có hoặc giao vắc-xin giả hay hiệu quả thấp.

Ngoài ra, khi thị trường là không hiệu quả, vắc-xin cũng sẽ không được phân phối công bằng giữa các quốc gia hay giữa các nhóm dân số trong cùng một quốc gia. Ở Việt Nam, Bộ Y tế cho biết đã đàm phán đặt mua 170 triệu liều vắc-xin để tiêm chủng phòng Covid-19 cho khoảng 70% dân số trong năm 2021. Tuy nhiên, nguồn cung vắc-xin hiện giờ khá khan hiếm. Trong tình trạng khan hiếm vắc-xin và nhu cầu tăng cao, giả sử nếu có tiêm phòng dịch vụ, vắc-xin sẽ là hàng hóa thương mại và giá cả sẽ được áp đặt theo thị trường độc quyền. Khi đó, nếu không có điều tiết của Nhà nước, một tỉ lệ lớn vắc-xin sẽ được phân bổ trước đến tiêm phòng dịch vụ và chỉ có nhóm dân số có khả năng chi trả và khả năng chi trả cao tiếp cận được vắc-xin.

Một rào cản vô hình sẽ được hình thành, chẳng hạn như nhận đặt lịch tiêm phòng sắp xếp theo thứ tự và phải chờ đợi rất lâu, thông tin lịch trình vắc-xin sẵn có không chắc chắn, thông báo hết vắc-xin khi đến ngày tiêm phòng,... tương tự như đã xảy ra trong trường hợp vắc-xin 5 trong 1 hay 6 trong 1 trước đây, vô hình trung sẽ cản trở việc tiếp cận tiêm phòng của nhóm dân số không có khả năng chi trả hay khả năng chi trả thấp. Đây cũng chính là bất ổn của thị trường, thị trường sẽ không thể đảm bảo công bằng về giá cả hay bình đẳng về cơ hội tiếp cận tiêm phòng cho tất cả các nhóm dân số. Nếu nhóm dân số này cùng với nhóm dân số có tâm lý chủ quan trước dịch bệnh hay tâm lý e dè việc tiêm phòng là đủ lớn thì tiêm phòng dịch vụ sẽ không thể đảm bảo đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng trong thời gian ngắn nhất.



Triển khai tiêm vắc-xin Covid-19 cho người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3. Một số giải pháp điều tiết của Nhà nước

Những bất ổn của thị trường về hiệu quả và công bằng làm ảnh hưởng đến mục tiêu sớm đạt miễn dịch cộng đồng, Nhà nước có vai trò rất quan trọng không chỉ riêng ở mỗi quốc gia mà còn phối hợp giữa các quốc gia.

Xét trên phạm vi toàn cầu, vắc-xin đang được phân phối qua sự điều phối của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình Tiếp cận toàn cầu với vắc-xin (COVAX) nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận nhanh chóng, công bằng và bình đẳng trên toàn thế giới. Mỗi quốc gia cũng có một số giải pháp như Chính phủ chi đầu tư nghiên cứu phát triển vắc-xin và chương trình tiêm phòng miễn phí toàn dân giúp tránh tình trạng độc quyền của thị trường, giảm tình trạng thông tin bất cân xứng, đảm bảo công bằng theo khả năng chi trả và bình đẳng về cơ hội trong tiếp cận vắc-xin nhằm khuyến khích người dân tích cực thực hiện tiêm phòng, từ đó tạo ra các ngoại tác tích cực và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Bên cạnh đó, Chính phủ còn thúc đẩy thực hiện các giải pháp như đại diện thương lượng và đàm phán với các hãng dược để tiếp cận được nguồn cung, ngoại giao với các quốc gia để đẩy nhanh tiến độ có được vắc-xin với mức giá hợp lý; thực hiện chương trình trúng thưởng bằng tiền hay bằng xe, cam kết bồi thường rủi ro nếu tiêm phòng theo chương trình quốc gia, cho thôi việc nếu không tiêm phòng,… để khuyến khích người dân thực hiện tiêm phòng. Trong xu thế chung đó, Chính phủ Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều giải pháp quan trọng như chi ngân sách hỗ trợ nghiên cứu phát triển vắc-xin; đại diện thương lượng, đàm phán và đặt hàng vắc-xin; xác định các nhóm đối tượng ưu tiên tiêm phòng và thực hiện tiêm phòng miễn phí cho các nhóm đối tượng ưu tiên; thành lập Quỹ vắc-xin phòng Covid-19...

Nhìn chung, giải pháp tương đồng ở các nước chính là thực hiện chương trình tiêm phòng quốc gia miễn phí toàn dân. Đây là giải pháp có thể giải quyết đồng thời các bất ổn của thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả - công bằng và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng, cũng là giải pháp hữu hiệu duy nhất để đẩy lùi dịch bệnh và sớm trở lại trạng thái bình thường về y tế, kinh tế - xã hội.

4. Lựa chọn chương trình tiêm phòng vắc-xin miễn phí hay thu tiền

Dịch vụ tiêm phòng miễn phí hay có thu tiền được gọi là chương trình tiêm phòng quốc gia hay chương trình tiêm phòng dịch vụ. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chương trình tiêm phòng quốc gia cho 9 nhóm đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 và Bộ Y tế đang thực hiện phân bổ vắc-xin phòng Covid-19 về các địa phương. Làn sóng lây nhiễm tăng cao của đợt dịch thứ 4 đã làm tăng nhanh nhu cầu vắc-xin của cá nhân và quốc gia, làm tăng áp lực gánh nặng ngân sách Nhà nước khi thực hiện chương trình tiêm phòng quốc gia đảm bảo nhanh và trên diện rộng để sớm đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng, vì vậy, thực tế đã có các ý kiến khác nhau về tiêm phòng miễn phí và dịch vụ. Có nhóm ý kiến cho rằng nên sớm cho phép thực hiện tiêm phòng dịch vụ để đạt hiệu quả từ giảm áp lực tài chính công, tự do lựa chọn loại vắc-xin theo nhu cầu và khả năng chi trả của doanh nghiệp và người dân, từ đó người dân có thể thực hiện tiêm phòng và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Ngược lại, cũng có nhóm ý kiến cho rằng chỉ nên thực hiện tiêm phòng miễn phí toàn dân để đảm bảo công bằng theo khả năng chi trả và bình đẳng về cơ hội tiếp cận vắc-xin nhằm khuyến khích người dân thực hiện tiêm phòng và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

Những quan điểm này mặc dù đều hướng đến đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng, nhưng cho thấy khó có thể vừa đạt mục tiêu hiệu quả, vừa đạt mục tiêu công bằng. Nếu triển khai tiêm phòng dịch vụ, người dân được chọn loại vắc-xin tương ứng với nhu cầu và khả năng chi trả, chi phí vắc-xin được trang trải bằng nguồn tài chính công và tài chính cá nhân, khi đó nguồn tài chính càng lớn thì quốc gia càng dễ tiếp cận được nguồn cung từ các hãng dược; nhưng ngược lại, sau khi tiếp cận được nguồn cung từ các hãng dược thì tiêm phòng dịch vụ không đảm bảo được công bằng giữa các nhóm dân số như đã mô tả. Ngược lại, nếu thực hiện tiêm phòng miễn phí toàn dân, người dân có cơ hội như nhau trong tiếp cận dịch vụ tiêm phòng và không có bất kỳ phân biệt nào theo khả năng chi trả; nhưng như vậy, chi phí vắc-xin chỉ được trang trải duy nhất từ nguồn tài chính công rất hạn hẹp, do đó, càng khó tiếp cận được nguồn cung từ các hãng dược.

Như vậy, chương trình tiêm phòng nên miễn phí hay có thu tiền? Chương trình nào sẽ tốt hơn?

Vắc-xin có tính khan hiếm nên có tính cạnh tranh, nếu liều vắc-xin này được tiêm phòng cho người dân này sẽ làm giảm một liều vắc-xin có thể dùng để tiêm phòng cho người khác. Bên cạnh đó, vắc-xin được tiêm phòng miễn phí theo các nhóm đối tượng ưu tiên như hiện nay hoặc nếu vắc-xin là hàng hóa thương mại được tiêm phòng dịch vụ thì có tính loại trừ, chỉ những người dân thuộc nhóm đối tượng ưu tiên hoặc có khả năng chi trả mới được tiêm phòng; hoặc nếu tiêm phòng miễn phí toàn dân thì có tính không loại trừ. Và do đó, vắc-xin không là hàng hóa công thuần túy nhưng vắc-xin tạo ra ngoại tác tích cực như mô tả trong mục 2. Chính vì vậy, chương trình tiêm phòng dù là miễn phí hay dịch vụ đều cần được thực hiện bởi Chính phủ nhằm đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, đó chính là mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

Theo Kinh tế học, đánh giá một chương trình nào nên thực hiện phân tích theo hai tiêu chí: hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội. Hiệu quả kinh tế được xác định theo tổng lợi ích ròng người tiêu dùng và người cung cấp bao gồm cả lợi ích ngoại tác, lợi ích ròng có thể được hiểu là chênh lệch giữa lợi ích và chi phí. Trong trường hợp tiêm phòng vắc-xin, lợi ích người dân có được là giá trị chênh lệch giữa lợi ích từ tiêm phòng và chi phí tiêm phòng, lợi ích người cung cấp là chênh lệch giữa doanh thu tiêm phòng và chi phí cung cấp. Chương trình đạt hiệu quả là chương trình có tổng lợi ích ròng lớn nhất, bao gồm lợi ích người dân, người cung cấp và ngoại tác. Công bằng xã hội được hiểu rằng những người có hoàn cảnh ban đầu như nhau sẽ được đối xử như nhau và có hoàn cảnh ban đầu khác nhau sẽ được đối xử khác nhau, nghĩa là tất cả người dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng như nhau khi tiếp cận dịch vụ tiêm phòng và nếu người dân có thu nhập, cuộc sống hay nguy cơ dịch bệnh như nhau sẽ có cơ hội tiếp cận dịch vụ tiêm phòng như nhau.

Mô hình cung - cầu dịch vụ tiêm phòng. (Xem mô hình)


Ba trường hợp có thể xảy ra:

Trường hợp 1: Tiêm phòng miễn phí cho các nhóm ưu tiên (Qg), tiêm phòng có thu tiền cho nhóm dân số còn lại và không có điều tiết của Nhà nước (QgQm). Tính đến thời điểm hiện tại, lượng vắc-xin đang có hoặc sắp được chuyển giao sẽ đủ tiêm miễn phí 2 liều cho 20% dân số thuộc nhóm ưu tiên tương ứng lượng Qg. Giả sử rằng sau khi kết thúc chiến dịch tiêm phòng miễn phí và không có giải pháp điều tiết của Nhà nước, 80% dân số còn lại sẽ tiêm phòng dịch vụ, khi đó giá tiêm phòng sẽ là Pm, kết quả là chỉ có một lượng dân số thực hiện tiêm phòng tương ứng QgQm, lợi ích ròng sẽ là OAGH và lợi ích ngoại tác là aQm.

Trường hợp 2: Tiêm phòng miễn phí cho các nhóm ưu tiên (Qg), tiêm phòng có thu tiền cho nhóm dân số còn lại và có điều tiết của Nhà nước (QgQc). Giả sử Nhà nước điều tiết dịch vụ tiêm phòng bằng kiểm soát giá, khi đó giá tiêm phòng là Pc, kết quả lượng dân số thực hiện tiêm phòng tương ứng QgQc, lợi ích ròng OAE và lợi ích ngoại tác bQc.

Trường hợp 3: Tiêm phòng miễn phí hoàn toàn. Giả sử tỉ lệ dân số tiêm phòng đạt miễn dịch cộng đồng được tiêm phòng miễn phí, khi đó lượng dân số thực hiện tiêm phòng tương ứng Qd, lợi ích ròng (OAE-EIJ) và lợi ích ngoại tác cQd.

Qua so sánh các trường hợp trên có thể thấy, trường hợp 2 đạt hiệu quả kinh tế cao nhất vì có giá trị lợi ích ròng lớn nhất, nhưng lượng dân số thực hiện tiêm phòng cũng thấp hơn và do đó lợi ích ngoại tác cũng thấp hơn trường hợp 3 và không đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Ngược lại, trường hợp 3 đảm bảo công bằng xã hội cao nhất vì lượng dân số được tiêm phòng miễn phí là lớn nhất và lợi ích ngoại tác cũng cao nhất nên đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

5. Kết luận và một số khuyến nghị

Vắc-xin là hàng hóa đặc biệt có tính khan hiếm và tính khuyến dụng, thị trường vắc-xin hay dịch vụ tiêm phòng sẽ không đảm bảo hiệu quả kinh tế vì các bất ổn của thị trường liên quan đến độc quyền, ngoại tác, thông tin bất cân xứng; đồng thời, thị trường cũng không đảm bảo công bằng trong tiếp cận vắc-xin hay dịch vụ tiêm phòng; do đó, rất cần vai trò can thiệp của Nhà nước để hạn chế hay giải quyết các bất ổn của thị trường. Nhà nước có thể giải quyết vấn đề của thị trường bằng nhiều giải pháp khác nhau, trong đó chương trình tiêm phòng quốc gia được xem là giải pháp hữu hiệu hướng đến thực hiện tiêm phòng toàn dân đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Chương trình tiêm phòng vắc-xin được thực hiện bởi Chính phủ sẽ hạn chế được tình trạng giá cao do độc quyền, người dân không sẵn sàng tiêm phòng do thông tin bất cân xứng về vắc-xin, không tiếp cận được dịch vụ tiêm phòng do các rào cản, không sẵn lòng chi trả hay không có khả năng chi trả cho dịch vụ tiêm phòng,… làm ảnh hưởng đến mục tiêu miễn dịch cộng đồng.

Chính phủ có thể thực hiện chương trình tiêm phòng bằng cách cung cấp dịch vụ miễn phí hay có thu tiền. Chương trình tiêm phòng miễn phí toàn dân sẽ đảm bảo công bằng xã hội hơn và đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng, ngược lại chương trình tiêm phòng miễn phí cho một lượng dân số và có thu tiền trên một lượng dân số sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Thực tế khó có thể có một chương trình hoàn hảo đáp ứng đồng thời tất cả các mục tiêu, vì vậy cần xác định rõ đâu là mục tiêu ưu tiên. Với ba mục tiêu y tế - hiệu quả - công bằng, mục tiêu y tế chắc chắn là mục tiêu được đặt lên hàng đầu trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, do đó, chương trình tiêm phòng miễn phí toàn dân sẽ là lựa chọn tốt nhất, vì đảm bảo được mục tiêu y tế đạt miễn dịch cộng đồng và cả mục tiêu công bằng tiếp cận dịch vụ tiêm phòng.

Mặc dù vậy, thực hiện chương trình tiêm phòng miễn phí toàn dân cần nguồn vắc-xin và nguồn lực tài chính rất lớn. Cơ sở lập luận của các ý kiến đề xuất triển khai chương trình tiêm phòng dịch vụ sẽ làm tăng nguồn lực tài chính tư nhân, góp phần làm giảm áp lực gánh nặng ngân sách và tăng khả năng tiếp cận nguồn cung vắc-xin từ các hãng dược. Tuy nhiên, hiện vắc-xin chưa đủ cung cấp cho Chính phủ các nước theo chương trình COVAX, chương trình hỗ trợ giữa các quốc gia hay đơn hàng của các Chính phủ. Như vậy, ngay cả khi có đủ nguồn lực tài chính tăng lên nhờ vào chương trình tiêm phòng dịch vụ thì liệu rằng đã sẵn có vắc-xin tiêm phòng không? Chính phủ cũng đã thành lập Quỹ vắc-xin và đến nay cũng đã huy động được đóng góp rất lớn từ doanh nghiệp và các cá nhân, nguồn quỹ này cùng với nguồn ngân sách Nhà nước sẽ được sử dụng để mua vắc-xin cho toàn dân. Vì vậy, chương trình tiêm phòng miễn phí toàn dân là khả thi và chương trình tiêm phòng dịch vụ là chưa cần thiết vào thời điểm hiện tại và có thể được xem xét vào một thời điểm phù hợp.

Đợt dịch thứ 4 đã và đang diễn biến quá nhanh và phức tạp, trong khi nguồn vắc-xin còn tương đối hạn chế. Vì vậy, bên cạnh việc chờ đợi vắc-xin từ đơn đặt hàng hay ngoại giao của Chính phủ và hỗ trợ từ các nước về đến Việt Nam, người dân cần nghiêm túc thực hiện khuyến cáo “5K” của Bộ Y tế và các hướng dẫn khác để tình hình dịch bệnh không trở nên nghiêm trọng hơn. Ngoài ra, vắc-xin được sử dụng đã được WHO thẩm định, khuyến cáo và Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế cấp phép lưu hành nên khi vắc-xin sẵn có, người dân cần thực hiện tiêm phòng ngay, không nên có tâm lý lựa chọn, chờ đợi mà bỏ qua cơ hội tiêm chủng sớm làm ảnh hưởng đến miễn dịch của cá nhân và của cả cộng đồng. Bên cạnh đó, chúng ta cần sớm có vắc-xin do Việt Nam sản xuất. Hiện nay, một số loại vắc-xin sản xuất trong nước đang trong quá trình thử nghiệm, cùng với ý kiến của hội đồng khoa học, hội đồng y khoa chúng ta cần mời thêm chuyên gia nước ngoài thẩm định. Trong trường hợp vắc-xin đảm bảo an toàn, có thể cân nhắc bỏ qua một số công đoạn trong quy trình phê duyệt để có thể đưa vào sử dụng nhằm sớm đạt được miễn dịch cộng đồng.

Tài liệu tham khảo:

1. N. Gregory Mankiw (2014). Kinh tế học vi mô, Priciples of Economics, 6th ed, Cengage Learning Asia Pte Ltd. Dịch thuật: Khoa Kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

2. Joseph E. Stiglizt & Jay K. Rosengard (2015), Economics of the Public Sector (4th Edition), W.W. Norton & Company.

3. Báo Lao động (28/02/2021), Những loại vaccine chống Sars-Cov-2 trên thế giới và giá cả. Truy cập ngày 15/06/2021 trên trang: https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/nhung-loai-vaccine-chong-sars-cov-2-tren-the-gioi-va-gia-ca-883574.ldo.

4. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (13/05/2021), Bản quyền vắc-xin Covid-19 có dễ “cho không, biếu không”?. Truy cập ngày 15/06/2021 trên trang: https://dangcongsan.vn/thoi-su/ban-quyen-vaccine-covid-19-co-de-cho-khong-bieu-khong-580473.html.

5. Báo Gia Lai (13/06/2021), Quốc gia tiêm chủng Covid nhanh nhất thế giới: Lợi ích không ngờ. Truy cập ngày 15/06/2021 trên trang: https://baogialai.com.vn/channel/ 12471/202106/quoc-gia-tiem-chung-covid-19-nhanh-nhat-the-gioi-loi-ich-khong-ngo-5739580/.

6. VOV (25/05/2021), Vì sao phần lớn người dân Philippines không muốn tiêm vaccine Covid-19. Truy cập ngày 15/06/2021 trên trang: https://vov.vn/the-gioi/quan-sat/vi-sao-phan-lon-nguoi-philippines-khong-muon-tiem-vaccine-covid-19-860595.vov.

7. Báo Tuổi trẻ (27/04/2021), Bộ Y tế đề nghị ngân sách sẽ không mua thêm vắc-xin Covid-19, thực hiện tiêm “xã hội hóa”. Truy cập ngày 15/06/2021 trên trang: https://tuoitre.vn/bo-y-te-de-nghi-ngan-sach-se-khong-mua-them-vac-xin-covid-19-thuc-hien-tiem-xa-hoi-hoa-20210427090149745.htm.

8. Báo Tuổi trẻ (25/06/2021), Quỹ vắc-xin tiếp nhận được hơn 8.000 tỉ đồng. Truy cập ngày 27/06/2021 trên trang: https://tuoitre.vn/quy-vac-xin-tiep-nhan-duoc-hon-8000-ti-dong-20210625162307038.htm.

9. Một số tài liệu tham khảo khác.



PGS., TS. Nguyễn Hồng Nga, ThS. Nguyễn Thị Thu Trang

Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng