Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Nghiên cứu - Trao đổi
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nước (1986 - 2024), khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng hoạt động và đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
aa

Tóm tắt: Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nước (1986 - 2024), khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng hoạt động và đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Bài viết trên cơ sở đánh giá đặc điểm, vai trò và phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thời gian tới.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, Việt Nam.

CURRENT SITUATION AND SOME SOLUTIONS TO IMPROVE THE OPERATION EFFICIENCY
OF STATE-OWNED ENTERPRISES


Abstract: After nearly 40 years of implementing the country's economic reform (1986 - 2024), state-owned enterprises have always played a particularly important role in Vietnam's economic development. Despite achieving important results, the activities and contributions of the state-owned enterprise sector to the economy are still not commensurate with their potential. The article focuses on analyzing the role, characteristics and current situation of state-owned enterprises' operation, thereby proposing solutions to improve the operational efficiency of state-owned enterprises in the coming time.

Keywords: State-owned enterprises, situation, cause, solution, Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của kinh tế nhà nước và luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nước (1986 - 2024), đến nay, sau gần 40 năm, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng hoạt động và đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như trong huy động nguồn lực cho sự phát triển. Bởi vậy, việc tìm hiểu giải pháp đột phá nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng là rất cần thiết.

2. Đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước


Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Từ năm 2021, doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định pháp luật.

Ở Việt Nam, kinh tế nhà nước luôn được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, trong đó, doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của kinh tế nhà nước, hiện diện ở nhiều ngành, lĩnh vực và có vai trò, vị trí quan trọng đối với nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác là chủ đầu tư. Với tư cách là chủ đầu tư duy nhất của doanh nghiệp, Nhà nước có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, Nhà nước có quyền quyết định về việc hình thành, tái tổ chức và quyết định mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đầu tư tài chính; quyết định mô hình tổ chức quản lý, giải thể; kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp.

Thứ hai, về vốn sở hữu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp một chủ thể trong trường hợp Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (sở hữu 100%); nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối (trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ).

Thứ ba, có nhiều hình thức tồn tại của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như: Công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Đối với doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp như: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.

Thứ tư, về trách nhiệm tài sản và tư cách pháp nhân hoạt động. Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước, thể hiện rõ trên những khía cạnh sau:

Một là, mặc dù chỉ chiếm gần 0,4% số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong cả nước, nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn đang nắm giữ nhiều nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất, kinh doanh và 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh1.

Hai là, doanh nghiệp nhà nước có vai trò lớn trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Theo Cục Điều tiết điện lực - Bộ Công Thương, về thị trường phát điện Việt Nam, các nhà máy điện thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước (Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam - TKN) chiếm khoảng 87% trong cơ cấu nguồn điện2.

Ba là, doanh nghiệp nhà nước có vai trò lớn trong sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích như: Cấp nước sạch, thu gom và xử lý rác thải, ánh sáng, cây xanh… Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước trực tiếp tham gia phục vụ an ninh - quốc phòng, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Các doanh nghiệp nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là hạ tầng giao thông, nông nghiệp, nông thôn, năng lượng, viễn thông. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội, phục vụ chính sách điều tiết kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn giá. Trong đại dịch Covid-19, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn nhưng nhiều doanh nghiệp nhà nước đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc góp phần bảo đảm an ninh lương thực, ổn định kinh tế - xã hội.

Trong đời sống kinh tế - xã hội, doanh nghiệp nhà nước đã tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, huy động nguồn vốn, tăng môi trường cạnh tranh, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế. Đối với lĩnh vực khoa học - công nghệ, doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí tiên phong trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, tăng năng suất lao động và đi đầu về chất lượng, hiệu quả kinh tế. Thời điểm 31/12/2020, lao động, việc làm được tạo ra trong khu vực doanh nghiệp nhà nước lớn nhất, với quy mô lao động bình quân một doanh nghiệp là 512 lao động3.

Trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng trong dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ đó, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị gia tăng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh dịch Covid-19 cùng những biến động trong khu vực và quốc tế, vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nước đã được phát huy và thể hiện rất rõ nét. Doanh nghiệp nhà nước đã tích cực triển khai và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, tham gia phòng, chống dịch Covid-19.

Quan điểm của Đảng về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế đã được khẳng định tại Đại hội XIII (2021) của Đảng. Kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các “khuyết tật” của cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Doanh nghiệp nhà nước có vị trí, vai trò đặc biệt trong đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường, ổn định chính trị, xã hội của đất nước; giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.

3. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hiện nay


Tính đến năm 2023, cả nước có 676 doanh nghiệp nhà nước, nắm giữ số tài sản trị giá hơn 3,8 triệu tỉ đồng, trong đó có 478 doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng doanh thu năm 2023 của các doanh nghiệp nhà nước đạt 1,65 triệu tỉ đồng, vượt 4% kế hoạch; trong đó, doanh thu của riêng 19 Tập đoàn, Tổng công ty và Tập đoàn Viettel đạt hơn 1,3 triệu tỉ đồng, chiếm gần 80% tổng doanh thu của toàn bộ doanh nghiệp nhà nước. Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp nhà nước khoảng 125,8 nghìn tỉ đồng, vượt 8% kế hoạch năm; đóng góp ngân sách nhà nước khoảng 166 nghìn tỉ đồng, vượt 8% kế hoạch năm. Nhiều dự án trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ triển khai: Dự án Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3,4; Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Nhà ga T3 Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất; Dự án mở rộng đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây…4

Doanh nghiệp nhà nước ngày càng thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, chi phối, chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đóng góp thiết thực vào xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Năm 2020 - 2021, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua khó khăn và đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật như:

Thứ nhất, mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm chưa đến 0,1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (năm 2021) nhưng hoạt động hiệu quả với hiệu suất sử dụng lao động cao nhất so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác (18,9 lần); hiệu suất sinh lợi trên doanh thu (ROS - Return On Sales) của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đạt 3,4%, trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt mức cao nhất (5,8%).

Thứ hai, các chỉ số tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy có sự tăng trưởng, phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng. Năm 2021, tổng giá trị tài sản đạt 2.965.425 tỉ đồng (tăng 8%), vốn chủ sở hữu đạt 1.445.877 tỉ đồng (tăng 17%); tổng doanh thu của khối doanh nghiệp nhà nước vượt 43,3% kế hoạch, tăng 7,8% so với năm 2020; lợi nhuận trước thuế vượt kế hoạch 41,7%, tăng 22,5% so với năm 2020, nộp ngân sách chiếm 17 - 23% tổng thu ngân sách nhà nước5; lợi nhuận trước thuế đạt 122.347 tỉ đồng (tăng 5%) so với năm 2016. Năm 2023, tổng lãi phát sinh trước thuế của các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục tăng lên 125.847 tỉ đồng, vượt 8% so với kế hoạch.

Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, chiếm thị phần lớn trong một số lĩnh vực như năng lượng, viễn thông, ngân hàng. Trong lĩnh vực viễn thông, thị phần của 3 doanh nghiệp nhà nước (Viettel, VNPT, MobiFone) có vai trò chi phối (với thị phần trên 90%). Doanh nghiệp nhà nước cung cấp đầu vào quan trọng cho nền kinh tế (điện, than, dầu khí, alumin...). Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước đang làm tốt vai trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội.

Mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, song bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như trong huy động nguồn lực. Cụ thể:

Một là, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước còn chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đạt được dựa trên các lợi thế sẵn có của doanh nghiệp hoặc có lịch sử hoạt động lâu đời trên thị trường. Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thấp hơn tốc độ tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. So với doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì doanh nghiệp nhà nước có tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thấp hơn. Nghĩa là, doanh nghiệp nhà nước phải sử dụng nhiều vốn hơn để tạo ra được một giá trị sản phẩm đầu ra, là một yếu tố làm giảm hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.

Hai là, doanh nghiệp nhà nước chưa thực hiện được nhiệm vụ dẫn dắt, tạo động lực đối với nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong dẫn dắt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ngoài nhà nước, thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị gia tăng còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn hoạt động trong ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn đều vận hành theo cơ chế tương đối khép kín, chưa khuyến khích các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia vào các khâu, công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh.

Ba là, khả năng cạnh tranh, đặc biệt cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn chưa đạt kết quả rõ nét. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong tăng trưởng kinh tế giảm, hiệu quả đầu tư của kinh tế nhà nước ngày càng thấp. Nếu sử dụng xuất khẩu là tiêu chí, thước đo để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì có thể thấy khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn còn hạn chế.

Nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại, hạn chế trên là do: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về doanh nghiệp nhà nước, trong đó có tập đoàn kinh tế, tổng công ty tuy đã được rà soát và hoàn thiện nhưng vẫn còn bất cập. Đặc biệt là hệ thống pháp luật về đầu tư, quản lý tài sản, đất đai, đấu giá, đấu thầu chưa đồng bộ, tạo kẽ hở để một số đối tượng lợi dụng nhằm trục lợi. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn vẫn chưa phát huy hết tính chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên thực tế, các quy trình, thủ tục của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo quy định của pháp luật thường có độ trễ nhất định, trong khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải đưa ra những quyết định nhanh, kịp thời để đón cơ hội đầu tư…

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 Đại hội Đảng lần thứ XIII có nêu rõ: “Đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đẩy nhanh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Đẩy mạnh cơ cấu lại, cổ phần hóa, thoái vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động, sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới cách thức thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, nhất là các biện pháp liên quan đến xác định giá trị quyền sử dụng đất, tài sản cố định, thương hiệu và giá trị truyền thống của doanh nghiệp cổ phần hóa. Hoàn tất việc sắp xếp lại khối doanh nghiệp nhà nước. Tiền thu được từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia, địa phương, bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước then chốt quốc gia. Hình thành đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt. Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, thực hiện quyền tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế…”6. Quan điểm trên của Đảng chính là định hướng để các doanh nghiệp nhà nước phát triển trong thời gian tới.

Tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ làm việc với doanh nghiệp nhà nước tham gia đóng góp, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế..., tổ chức chiều 15/6/2024, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đề nghị doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt "5 tiên phong": (1) Tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng và làm chủ khoa học, công nghệ trong thời đại CMCN 4.0; (2) Tiên phong trong hội nhập quốc tế, đầu tư ra nước ngoài hiệu quả; (3) Tiên phong trong khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước, đi đôi với tích cực đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (4) Tiên phong trong nghiên cứu, đề xuất, thực hiện các cơ chế, chính sách đột phá phát triển đất nước, trong đó có phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với làm tốt an sinh xã hội; (5) Tiên phong trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, quản trị thông minh.

Trong thời gian tới, để doanh nghiệp nhà nước phát huy đúng vai trò và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, đóng góp tương xứng với tiềm năng của mình đối với nền kinh tế, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đặt các doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp của khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững của nền kinh tế. Lấy thước đo hiệu quả kinh tế làm kim chỉ nam cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng vận hành. Tiến tới xóa bỏ các rào cản, khác biệt trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp các khu vực kinh tế khác.

Ưu tiên cải cách thể chế theo hướng đồng bộ dựa trên nền tảng Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và các quy định của pháp luật. Rà soát các quy định liên quan đến hoạt động của 5 loại thị trường, gồm: Thị trường hàng hóa, tài chính, lao động, công nghệ và bất động sản để đồng bộ hóa theo hướng giảm can thiệp của Nhà nước, tăng tính thị trường.

Tập trung thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo quốc gia theo hướng xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp, có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh nghiệp là trung tâm; đổi mới cơ chế đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; có chính sách để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ của người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng trong nước. Xây dựng các cơ chế, chính sách về thuế, tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển và đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các công nghệ tiên tiến khác.

Dần gỡ bỏ sự can thiệp của bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản để doanh nghiệp nhà nước thực sự tự chủ, chỉ hoạt động theo pháp luật và môi trường cạnh tranh với doanh nghiệp của các khu vực kinh tế khác, hướng tới tạo hiệu ứng hiệu quả tổng thể của nền kinh tế dưới tác động của cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại cho đúng chức năng, nhiệm vụ đầu tàu, dẫn dắt, định hướng; đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, xử lý dứt điểm những hạn chế, yếu kém trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành của một số doanh nghiệp nhà nước đang tạo lỗ hổng cho tham nhũng, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài.

Tăng đầu tư, tăng đổi mới sáng tạo và áp dụng khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động để doanh nghiệp nhà nước thực hiện vị trí, vai trò mở đường, dẫn dắt, tạo động lực cho nền kinh tế. Xây dựng hệ thống cơ chế vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền của chủ sở hữu; vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt trong các ngành kinh tế chủ lực. Doanh nghiệp nhà nước đầu đàn, dẫn dắt cần phải “nghĩ lớn, làm lớn”, đầu tư các dự án quy mô lớn, có tính chất lan tỏa đối với nền kinh tế và các thành phần kinh tế khác.

Đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo chỉ tiêu tài chính tổng thể, không đi theo từng dự án, hoạt động. Đẩy mạnh sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước. Thực hiện nhất quán và triệt để nguyên tắc thị trường trong thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính. Doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Song song với quá trình thu hẹp diện doanh nghiệp nhà nước là tiếp tục thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, huy động nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Huy động mọi nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào một số dự án quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, như: Năng lượng (trong đó ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng sạch), công nghiệp bán dẫn, đầu tư hạ tầng giao thông quan trọng quốc gia (như đường cao tốc, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển), hạ tầng chuyển đổi số, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu, cung ứng các nguyên vật liệu đầu vào quan trọng cho sản xuất (như luyện thép, hóa dầu) trên cơ sở thế mạnh, ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp.

Khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước với nhau và với các doanh nghiệp tư nhân để thực hiện các dự án quy mô lớn, nâng cao hiệu quả tổng thể chuỗi dự án nhằm phát triển chuỗi giá trị của ngành, lĩnh vực, mở rộng không gian kinh doanh trên nguyên tắc các bên cùng đạt hiệu quả. Nâng cao vai trò đầu tư của Chính phủ để thu hút thêm nguồn lực tài chính vào các doanh nghiệp, dự án lớn, quan trọng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện tinh giản bộ máy, thiết lập hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích, tình trạng móc ngoặc, hình thành “lợi ích nhóm”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và doanh nghiệp.

Tăng cường áp dụng mô hình kinh doanh mới, sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường để nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh. Giải quyết dứt điểm tình trạng đầu tư dàn trải, bảo đảm các doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính. Chú trọng nâng cao giá trị thương hiệu, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp; tiết kiệm tối đa chi phí, tối ưu hóa các nguồn lực về vốn, đất đai của doanh nghiệp nhà nước, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đẩy mạnh xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp nhà nước trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tăng cường giám sát các hoạt động phi thương mại để có đánh giá và công khai hiệu quả hoạt động phi thương mại đối với doanh nghiệp nhà nước. Triệt để áp dụng nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động đầu tư, huy động vốn đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh. Quán triệt nguyên tắc ràng buộc ngân sách trong mọi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, áp đặt ngân sách cứng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xác định.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức Đảng trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chỉ đạo trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và quản lý cán bộ. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu tổ chức Đảng trong doanh nghiệp nhà nước khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất, sai phạm trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng nhằm nắm bắt, đánh giá đúng đắn về việc chấp hành pháp luật, phát hiện sớm sai phạm, qua đó kịp thời chấn chỉnh, áp dụng các biện pháp phù hợp giúp doanh nghiệp khắc phục những tồn tại, hạn chế để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tóm lại, với các giải pháp đề xuất trên nhóm tác giả hi vọng sẽ góp phần tạo động lực phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2022 của Chính phủ về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và huy động nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty trong phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể là: Đến hết năm 2025, 100% tập đoàn kinh tế nhà nước có dự án triển khai mới, trong đó có một số dự án đầu tư tiêu biểu, có tính chất dẫn dắt, lan tỏa, mang thương hiệu của doanh nghiệp nhà nước; phấn đấu có ít nhất 25 doanh nghiệp nhà nước có vốn chủ sở hữu hoặc vốn hóa trên thị trường chứng khoán đạt trên 1 tỉ USD, trong đó có ít nhất 10 doanh nghiệp đạt mức trên 5 tỉ USD và 100% doanh nghiệp nhà nước có định hướng và thực hiện chuyển dịch đầu tư, hướng đến các dự án đầu tư, sử dụng công nghệ xanh, sạch và giảm thải khí carbon. Đóng góp của các tập đoàn kinh tế nhà nước vào ngân sách nhà nước bình quân tăng 5% - 10% trong giai đoạn 2021 - 2025.

1,2 Trần Kim Chung (2021), Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.vn/
3 Thuý Hiền (2022), Doanh nghiệp, lao động khu vực ngoài nhà nước và FDI tăng nhanh, https://bnews.vn/
4 Phương Chi (2024), Doanh thu khối doanh nghiệp nhà nước đạt 1,65 triệu tỷ đồng năm 2023, https://tapchicongthuong.vn/
5 Hoàng Phương (2022), Phát huy tối đa các nguồn lực khối doanh nghiệp Nhà nước, https://tapchicongthuong.vn/
6 Những điểm mới về kinh tế trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/


Tài liệu tham khảo:

1. Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021.

2. Lê Anh (2022), Kỳ 2: Tăng cường hiệu quả của khối kinh tế nhà nước trong việc “dẫn lối” với nền kinh tế, https://dangcongsan.vn/

3. Thái Bình (2024), Năm 2023, doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách khoảng 166 nghìn tỉ đồng, vượt 8% kế hoạch, https://congthuong.vn/

4. Trần Kim Chung (2021), Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.vn/

5. Thành Lâm (2024), Năm 2023, tổng doanh thu của doanh nghiệp nhà nước đạt 1,65 triệu tỉ đồng, https://cafebiz.vn/

6. Kim Oanh (2022), Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, https://dbndnghean.vn/

7. Phương Chi (2024), Doanh thu khối doanh nghiệp nhà nước đạt 1,65 triệu tỷ đồng năm 2023, https://tapchicongthuong.vn/

8. Nguyễn Hòa (2022), 8 giải pháp nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước, https://congthuong.vn/

9. Thúy Hiền (2022), Doanh nghiệp, lao động khu vực ngoài nhà nước và FDI tăng nhanh, https://bnews.vn/

10. Doãn Tước (2021), Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, http://tapchiqptd.vn/

11. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2020), Đánh giá thực hiện vai trò kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội của giai đoạn 2011 - 2020; quan điểm, phương hướng giai đoạn 2021 - 2030.

12. Những điểm mới về kinh tế trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/

13. Hoàng Phương (2022), Phát huy tối đa các nguồn lực khối doanh nghiệp Nhà nước, https://tapchicongthuong.vn/

14. Một số tài liệu khác.


ThS. Lê Thị Thu Hương (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới)

PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình (Khoa Kinh tế, Đại học Mở Hà Nội)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành