Thực trạng tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Hoạt động ngân hàng
Tín dụng chính sách xã hội là một chủ trương mang tính nhân văn sâu sắc, đồng thời cũng là một trong những trụ cột trong hệ thống các chính sách giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới. Đây là chính sách hết sức thiết thực, hiệu quả, đã thực sự đi vào cuộc sống và được người dân đồng tình ủng hộ.
aa

Tóm tắt: Tín dụng chính sách xã hội là một chủ trương mang tính nhân văn sâu sắc, đồng thời cũng là một trong những trụ cột trong hệ thống các chính sách giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới. Đây là chính sách hết sức thiết thực, hiệu quả, đã thực sự đi vào cuộc sống và được người dân đồng tình ủng hộ. Bài viết trình bày thực trạng tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thành các chỉ tiêu đã đặt ra trong Đề án cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình.

Từ khóa: NHCSXH, tín dụng chính sách xã hội, Vĩnh Long.

THE REALITY OF SOCIAL POLICY CREDIT IN VINH LONG PROVINCE

Abstract: Social policy credit is a deeply humanistic policy and one of the pillars in the system of poverty reduction policies, ensuring the social security of the Party and the State in the innovation process. This is a very practical and effective bridge that has come to life and is supported by the people. This article presents the current credit situation of the Vietnam Bank for Social Policies in Vinh Long province. From there, the authors propose several recommendations to complete the targets set out in the loan project for inpiduals, households to restore the socio-economic development in Vinh Long province according to Resolution No. 11/NQ-CP dated January 30, 2022 of the Government.

Keywords: Bank for social policies, social policy credit, Vinh Long.

1. Giới thiệu

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, hạn chế phân hóa giàu, nghèo, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, xem đây vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển bền vững đất nước; thể hiện đặc trưng cơ bản, thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp hỗ trợ giảm nghèo, động viên được sự tham gia tích cực của toàn xã hội, góp phần giảm số hộ nghèo, hộ cận nghèo; cải thiện dần đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Một trong những giải pháp mang lại hiệu quả là việc hình thành kênh tín dụng dành riêng cho người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, cụ thể hóa quy định của Luật Các tổ chức tín dụng về phát triển ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Ngày 04/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng phục vụ người nghèo. Hơn 21 năm xây dựng, phát triển, đồng hành cùng các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, hệ thống NHCSXH đã triển khai tích cực và đạt nhiều kết quả quan trọng.

Tín dụng chính sách xã hội được thiết kế thành hệ thống chính sách đồng bộ, hỗ trợ đa chiều, giúp giải quyết những vấn đề cơ bản, thiết yếu trong cuộc sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác; hạn chế, đẩy lùi vấn nạn cho vay nặng lãi; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng của Đảng, Nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ tại vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng trong cả nước và thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng; tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

2. Thực trạng hoạt động tín dụng chính sách xã hội

2.1. Thực trạng tín dụng chính sách xã hội tại Việt Nam

Hơn 21 năm hoạt động, hệ thống NHCSXH đã khẳng định vai trò là công cụ kinh tế hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện sứ mệnh cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Năm 2023, đánh dấu một năm nỗ lực vượt bậc của toàn hệ thống NHCSXH từ công tác chỉ đạo điều hành đến tham mưu triển khai thực hiện tín dụng chính sách và cũng là năm hệ thống NHCSXH hoàn thành khối lượng công việc lớn nhất trong các năm kể từ khi thành lập đến nay.

Các thành tựu quan trọng được kể đến trong giai đoạn 2002 - 2023 như sau: Nguồn vốn tín dụng chính sách tăng gấp 48 lần, từ 7.022 tỉ đồng lên 346.278 tỉ đồng; tổng dư nợ tín dụng tăng 46 lần, từ 7.022 tỉ đồng lên 331.924 tỉ đồng; số lượng khách hàng tăng từ 2,7 triệu khách hàng lên 6,6 triệu khách hàng; dư nợ bình quân tăng từ 2,54 triệu đồng/hộ lên 48 triệu đồng/hộ; tổ Tiết kiệm và vay vốn tăng từ 954 tổ lên 168.464 tổ; tổng doanh số thu nợ toàn hệ thống đạt 59.359 tỉ đồng (Ngọc Mai, 2024).

Bên cạnh tăng trưởng dư nợ của các chương trình tín dụng chính sách, chất lượng tín dụng tiếp tục được duy trì ổn định. Tổng nợ quá hạn và nợ khoanh toàn hệ thống là 1.907 tỉ đồng, chiếm 0,57% trên tổng dư nợ. Trong đó, nợ quá hạn là 534 tỉ đồng, chiếm 0,16%; nợ khoanh là 1.372 tỉ đồng, chiếm 0,41%. Toàn hệ thống có 59/63 chi nhánh với tỉ lệ nợ quá hạn không quá 0,5% (Ngọc Mai, 2024).

Bên cạnh đó, khi mới thành lập, NHCSXH có 03 chương trình tín dụng chính sách, bao gồm: (i) Cho vay hộ nghèo; (ii) Cho vay giải quyết việc làm; (iii) Cho vay học sinh, sinh viên. Đến năm 2023, đã có đến 27 chương trình, trong đó có một số chính sách thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2022 - 2023.

Với mục tiêu 100% người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu, đủ điều kiện đều được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do NHCSXH cung cấp, nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã được giải ngân đến 100% xã, phường, thị trấn trên cả nước với trên 40,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn, doanh số cho vay đạt 742.843 tỉ đồng (Minh Hiển, 2024).

Tín dụng chính sách đã góp phần giúp trên 6,1 triệu hộ nghèo vượt qua ngưỡng nghèo, hỗ trợ kịp thời vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho gần 5,2 triệu lao động, trong đó có gần 135.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp gần 3,8 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 15,6 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; xây dựng gần 747.000 căn nhà ở cho các đối tượng chính sách (Minh Hiển, 2024).

Việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, an ninh và trật tự xã hội. Qua đó, góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015 từ 14,2% xuống 4,25% (theo chuẩn nghèo quy định trong giai đoạn 2011 - 2015); tỉ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% vào năm 2016 xuống còn 5,71% cuối năm 2023 (Minh Hiển, 2024).

Những thành tựu to lớn trên đã khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước là đúng đắn, sáng tạo với những quyết sách kịp thời, nhạy bén và nhất quán trong tổ chức thực hiện, cụ thể là Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW.

2.2. Thực trạng tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Tại địa bàn tỉnh Vĩnh Long, để góp phần hoàn thành các chỉ tiêu theo Nghị quyết số 11/NQ-CP và Nghị định số 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 15/02/2023 ban hành Đề án cho vay đối với các cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ.

Sau gần một năm ban hành Đề án, ngày 04/01/2024, NHCSXH tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động Ban Đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh Vĩnh Long năm 2023; đánh giá hiệu quả Đề án số 2804/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành Đề án cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và Đề án cho vay đối với các cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ ban hành Kèm theo Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 15/02/2023.

Theo báo cáo của NHCSXH tỉnh Vĩnh Long, tính đến ngày 31/12/2023, tổng nguồn vốn của NHCSXH tỉnh Vĩnh Long đạt 3.544 tỉ đồng, tăng 22,9% so với đầu năm 2023. Trong đó, nguồn vốn Trung ương tăng 550 tỉ đồng, nguồn vốn ngân sách địa phương tăng 73,4 tỉ đồng và nguồn vốn huy động được Trung ương cấp bù lãi suất tăng 37 tỉ đồng. Doanh số cho vay đạt 1.182 tỉ đồng với các đối tượng gồm: 31.400 lượt hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn, tỉ lệ tăng trưởng đạt 23,5%. Doanh số thu nợ đạt 511 tỉ đồng. Tổng dư nợ đạt 3.529 tỉ đồng, tăng 672 tỉ đồng so với đầu năm 2023. Tốc độ tăng trưởng đạt 23,5% với 98.600 hộ vay còn dư nợ và bình quân dư nợ khoảng 36 triệu đồng/hộ.

Năm 2023, nguồn vốn tín dụng chính sách đã đáp ứng kịp thời cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, giải ngân cho hơn 31.000 hộ vay vốn với tổng số tiền 1.182 tỉ đồng để các hộ phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho gia đình. Điều này đã góp phần hạn chế tình trạng người dân đi vay nặng lãi trên thị trường chợ đen; từ đó, chất lượng đời sống của người dân nghèo tỉnh Vĩnh Long được nâng lên, các hộ có tiền mua thêm phương tiện sản xuất và tích lũy vốn nhiều hơn.

Cũng theo NHCSXH tỉnh Vĩnh Long, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần duy trì việc làm, đồng thời tạo việc làm mới cho 26.033 lao động, đạt 130% kế hoạch, trong đó đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng là 1.706 lao động, đạt hơn 100% kế hoạch năm (tăng 19,64% so với năm 2022); giúp cho hơn 1.600 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập. Nguồn vốn này cũng đã xây dựng hơn 25.000 công trình nước sạch, vệ sinh ở nông thôn; cho vay xây dựng 38 căn nhà ở xã hội...

Theo Quyết định số 2879/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, tổng số hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn tỉnh giảm từ 12.918 hộ vào năm 2022 xuống còn 9.913 hộ vào cuối năm 2023, chiếm tỉ lệ 3,35% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025.

Bên cạnh đó, tín dụng chính sách xã hội cũng đã góp phần hỗ trợ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đạt nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể, năm 2023, tỉnh Vĩnh Long có thêm 06 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 08 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 02 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Vân Nguyễn, 2024).

Qua đó có thể thấy, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo bền vững, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, suy giảm kinh tế kéo dài, do đó, NHCSXH tỉnh Vĩnh Long cần tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương để hoàn hành nhiệm vụ được giao, góp phần giảm nghèo bền vững, tạo công ăn việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn trong những năm tiếp theo.

3. Một số đề xuất, khuyến nghị

Năm 2024, dự báo tình hình kinh tế tiếp tục đối mặt với không ít khó khăn. Vì vậy, để thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo Đề án cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ, một số khuyến nghị được đề xuất đối với NHCSXH tỉnh Vĩnh Long như sau:

Một là, tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban, ngành chức năng hoàn thành các chỉ tiêu của Đề án cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất, kinh doanh nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ. Trong đó, trọng tâm ưu tiên bố trí bổ sung ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác góp phần triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia.

Hai là, chú trọng công tác chuyển đổi số, triển khai các dự án trọng tâm nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng toàn diện cho các đối tượng khách hàng của NHCSXH. Bên cạnh đó, ngân hàng cần tuyên truyền sâu rộng về hiệu quả của tín dụng chính sách và những mô hình sử dụng vốn vay hiệu quả nhằm tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, khơi dậy tinh thần phấn đấu lao động sản xuất, nỗ lực vươn lên của người vay vốn. Đồng thời, ngân hàng cần hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh NHCSXH trên địa bàn.

Ba là, tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương để xác định đúng, đủ các đối tượng được cho vay theo các chương trình tín dụng chính sách xã hội. Đồng thời, cần phối hợp với các sở, ngành, phòng, ban liên quan tham mưu cho UBND cùng cấp bố trí nguồn vốn ủy thác địa phương sang ngân hàng để cùng với nguồn vốn Trung ương kịp thời cho vay nhằm giảm nghèo nhanh, bền vững; bố trí nguồn vốn thực hiện các đề án đã được phê duyệt nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân trên địa bàn.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng trong toàn hệ thống, đôn đốc thu hồi nợ đến hạn, nợ quá hạn; tăng cường công tác tập huấn, kiểm tra, giám sát các tổ Tiết kiệm và vay vốn, tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lí và xử lí nợ trong toàn hệ thống.

4. Kết luận

Chương trình tín dụng chính sách xã hội với mục tiêu chính là cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đã và đang mang lại ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phù hợp với thực tiễn, là trụ cột quan trọng trong chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp phần hạn chế nạn tín dụng đen. Để góp phần hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia và các chỉ tiêu đã đề ra, NHCSXH tỉnh Vĩnh Long cần tiếp tục nâng cao năng lực hoạt động, phát triển theo hướng ổn định, bền vững nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

ThS. Nguyễn Thị Ánh Ngọc, ThS. Nguyễn Thị Diễm

Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - Phân hiệu Vĩnh Long

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành