Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phát huy vai trò đối với hệ thống ngân hàng

Chính sách
Để góp phần ổn định hệ thống tài chính, ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước, trong bài viết này, tác giả làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật BHTG.
aa

Tóm tắt: Sau hơn 11 năm thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG), đến nay, một số quy định của Luật không còn phù hợp với thực tiễn, cần kịp thời sửa đổi, bổ sung. Để góp phần ổn định hệ thống tài chính, ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước, trong bài viết này, tác giả làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật BHTG.

Từ khóa: Luật BHTG, BHTG, ngân hàng.

AMENDING THE LAW ON DEPOSIT INSURANCE TO IMPROVE LEGAL FRAMEWORK FOR DEPOSIT INSURANCE OF VIETNAM IN STRENGTHENING ITS ROLE IN THE BANKING SYSTEM

Abstract: After more than 11 years of establishment, some provisions of the Law on Deposit Insurance no longer align with practice and need to amend. To contribute to the stability of the financial - banking system, support national socio-economic development, this article aims to clarify the theoretical and legal framework for amending the Law on Deposit Insurance as well as propose the directions to amend this law.

Keywords: The Law on Deposit Insurance, deposit insurance, banking.


Sự phát triển của tổ chức BHTG góp phần ổn định hệ thống tài chính, ngân hàng,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước (Nguồn ảnh: Internet)

1. Cơ sở lý luận sửa đổi, bổ sung Luật BHTG

BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản. Người được BHTG là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Tổ chức tham gia BHTG là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân.

Sự phát triển của tổ chức BHTG góp phần ổn định hệ thống tài chính, ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kiên trì mục tiêu thống nhất của hệ thống BHTG là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng. Tăng cường vai trò của tổ chức BHTG trong quá trình tham gia tái cơ cấu các tổ chức tham gia BHTG yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.

Trong bối cảnh Chính phủ đang triển khai đồng bộ các nhiệm vụ nhằm thúc đẩy Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, BHTG Việt Nam (BHTGVN) đóng vai trò hướng tới việc bảo vệ người tiêu dùng tài chính nói chung và người gửi tiền nói riêng. Liên hợp quốc xác định tài chính toàn diện là một giải pháp quan trọng để đạt được 7/17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Nhóm G20 xác định tài chính toàn diện là một trong những trụ cột chính trong định hướng phát triển của mình. Các nước ASEAN đã thành lập Ủy ban Công tác về tài chính toàn diện từ năm 2016 với mục tiêu hợp tác thúc đẩy tài chính toàn diện ở các nước thành viên và trong khu vực, đồng thời cũng xác định tài chính toàn diện là một trong ba trụ cột cho tầm nhìn ASEAN 2025. Đến nay, có hơn 80 quốc gia trên thế giới đã và đang triển khai chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Theo Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả của Hiệp hội BHTG quốc tế, tổ chức BHTG bảo vệ quyền lợi người gửi tiền qua 4 nghiệp vụ chính: (i) Thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức công chúng; (ii) Giám sát và kiểm tra tại chỗ; (iii) Tham gia kiểm soát đặc biệt; (iv) Chi trả. Như vậy, tổ chức BHTG góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện bằng cách củng cố niềm tin của người gửi tiền vào tổ chức tài chính và góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, qua đó khuyến khích người dân tiết kiệm nhiều hơn.

Nghiệp vụ thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức công chúng: Nâng cao nhận thức công chúng là một trong 4 nghiệp vụ chính của tổ chức BHTG nhằm bảo vệ người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính, đồng thời nâng cao hiểu biết về quyền lợi bảo hiểm của người gửi tiền, khuyến khích họ sử dụng dịch vụ tài chính chính thống, hợp pháp, qua đó góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

Nghiệp vụ giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ: BHTGVN bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền qua việc triển khai các nghiệp vụ chuyên môn BHTG như: Giám sát thường xuyên và kiểm tra định kỳ nhằm phát hiện và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xử lý kịp thời những vi phạm quy định về BHTG và an toàn trong hoạt động ngân hàng...

Nghiệp vụ tham gia kiểm soát đặc biệt: Tăng cường sự tham gia của BHTGVN trong xử lý tổ chức tín dụng yếu kém như nghiên cứu, đề xuất các biện pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém... Gần đây nhất, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định rõ hơn về nhiệm vụ, vai trò của BHTGVN tham gia hiệu quả hơn vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, làm cơ sở để BHTGVN góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Nghiệp vụ chi trả: Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ chi trả BHTG của BHTGVN đối với tổ chức tham gia BHTG, BHTGVN sẽ thực hiện nghiệp vụ chi trả BHTG cho người gửi tiền được bảo hiểm.

2. Cơ sở pháp lý và định hướng sửa đổi, bổ sung Luật BHTG

Đề án số 292-ĐA/ĐĐQH15 ngày 20/10/2021 của Đảng đoàn Quốc hội định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021-2026) (Đề án 292-ĐA/ĐĐQH15)

Đề án số 292-ĐA/ĐĐQH1521 đề ra nhiệm vụ: "Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng, bảo đảm để các quy định về hoạt động của NHNN đồng bộ với quy định của các luật có liên quan, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; hỗ trợ tiến trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị, điều hành của các tổ chức tín dụng. Có chính sách thúc đẩy phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng trong nước đóng vai trò chủ lực, hướng tới đạt trình độ phát triển của nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN vào năm 2025; đẩy mạnh cơ cấu lại dịch vụ ngân hàng trên cơ sở tăng cường ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Nhiệm vụ lập pháp cần triển khai là nghiên cứu, rà soát Luật NHNN, Luật BHTG”.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024

Trên cơ sở quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, qua nghiên cứu, thảo luận các chính sách trong đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHTG bước đầu dự kiến gồm 5 chính sách cụ thể như sau: (i) Hoàn thiện quy định về phí BHTG; (ii) Nâng cao năng lực tài chính, hoạt động của tổ chức BHTG; (iii) Bổ sung quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG; (iv) Hoàn thiện quy định pháp luật để BHTGVN tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém tại Việt Nam; (v) Hoàn thiện quy định về trả tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được ban hành đã tác động lớn đến một số nội dung trong 5 chính sách đề xuất dự kiến trong đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHTG nêu trên do một số nội dung liên quan đến BHTG, nhiệm vụ của tổ chức BHTG cần được rà soát, đề xuất đưa vào Luật BHTG để có cơ sở triển khai.

Trên cơ sở quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, BHTGVN căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung đối với từng chính sách trong đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHTG; đánh giá thực trạng, khó khăn, vướng mắc khi triển khai; đề xuất sửa đổi, bổ sung từng điều khoản cụ thể tại Luật BHTG; đánh giá tác động của nội dung đề xuất, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế... Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho BHTGVN tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG theo yêu cầu của NHNN.

Qua rà soát, ngoài những nội dung đề xuất để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Luật BHTG, một số nội dung lớn chịu sự tác động của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 cần được nghiên cứu để đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách trong đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHTG như sau:

Thứ nhất, về phí BHTG: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định BHTGVN xây dựng phương án tăng phí BHTG để bù đắp phần vay đặc biệt NHNN trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt. Nội dung này cần được nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG do có tác động trực tiếp tới hoạt động của tổ chức tham gia BHTG.

Thứ hai, về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định BHTGVN phối hợp với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt chi trả BHTG cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt. Do vậy, cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cụ thể, rõ ràng, thống nhất với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 để có sơ sở triển khai trong thực tế.

Thứ ba, về hạn mức trả tiền bảo hiểm: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định BHTGVN tham gia đề xuất NHNN trình Thủ tướng Chính phủ quyết định hạn mức chi trả BHTG cho người gửi tiền, tối đa bằng số tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm tại quỹ tín dụng nhân dân.

Hiện nay, số tiền tối đa tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật BHTG (gồm cả gốc và lãi) của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 125 triệu đồng (theo Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg ngày 20/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ).

Như vậy, với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 thì hạn mức trả tiền bảo hiểm có thể thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hạn mức trả tiền bảo hiểm (125 triệu đồng), có thể thực hiện theo hạn mức được NHNN trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng trường hợp cụ thể, tối đa có thể chi trả toàn bộ. Trường hợp chi trả toàn bộ, khả năng tài chính của BHTGVN có thể sẽ không đáp ứng được.

Do đó, cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG về hạn mức trả tiền bảo hiểm để phù hợp, triển khai Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 hiệu quả, kịp thời bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, phù hợp với năng lực tài chính của BHTGVN, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ tư, về một số nhiệm vụ của BHTGVN: Một số nhiệm vụ của BHTGVN khi tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 như: Tham gia đánh giá tính khả thi phương án phục hồi, phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của quỹ tín dụng nhân dân; cho vay đặc biệt đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô theo quy định của pháp luật về BHTG; mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại theo quyết định của NHNN; tham gia xây dựng phương án phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, phối hợp với tổ chức tín dụng để chi trả BHTG cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; vay đặc biệt NHNN trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt; sử dụng tiền trả nợ vay đặc biệt của tổ chức tín dụng, nguồn thu từ bán giấy tờ có giá do BHTGVN nắm giữ, từ thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng vay đặc biệt, phí BHTG để ưu tiên hoàn trả nợ vay đặc biệt cho NHNN.

Do vậy, để BHTGVN có cơ sở thực thi nhiệm vụ, để đồng bộ với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, những quy định về nhiệm vụ của BHTGVN nêu trên cần được đưa vào nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG. Trong đó, đối với nhiệm vụ cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn cần quy định cụ thể để BHTGVN có cơ sở triển khai trong thực tế như quy định về trường hợp, điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nguồn tiền, xử lý tổn thất của việc cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn. Những nội dung này cần thiết đưa vào nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG và các văn bản hướng dẫn Luật. Đối với việc vay đặc biệt NHNN trong trường hợp số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN không đủ để chi trả cho người gửi tiền theo phương án phá sản đã được phê duyệt, để có cơ sở triển khai cần có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của tổ chức BHTG liên quan đến vay đặc biệt NHNN, bảo đảm đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, đồng thời quy định rõ trường hợp, điều kiện, trình tự, thủ tục vay đặc biệt NHNN; nguồn tiền trả nợ vay đặc biệt NHNN.

Trong thời gian tới, BHTGVN cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, cập nhật những văn bản hướng dẫn Luật, để kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản nội bộ; tiếp tục phối hợp với Vụ Pháp chế và các đơn vị chức năng thuộc NHNN để nghiên cứu, rà soát, chỉnh sửa các chính sách đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG, đảm bảo đồng bộ với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai quy định của Luật BHTG, từ đó tạo khung pháp lý đầy đủ để BHTGVN thực hiện tốt nhất mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Quyết định số 1660/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển BHTG đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 1660/QĐ-TTg)

Quyết định số 1660/QĐ-TTg khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, đó là: “Tăng cường nghiên cứu, áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động BHTG và các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến các tổ chức tham gia BHTG. Ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại và đổi mới sáng tạo đi đôi với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là những thành tố then chốt cho sự phát triển nhanh và bền vững của tổ chức BHTG”.

Mục tiêu là nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động BHTG bao gồm chứng nhận tham gia BHTG, thông tin báo cáo, giám sát, kiểm tra, tham gia kiểm soát đặc biệt, phát hiện, cảnh báo sớm những rủi ro tiềm ẩn đối với tổ chức tham gia BHTG; tham gia tái cơ cấu có hiệu quả đối với các tổ chức tham gia BHTG yếu kém; tính và thu phí BHTG, quản lý nguồn vốn và đầu tư, tuyên truyền chính sách BHTG, chi trả BHTG theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật Việt Nam. Tăng cường năng lực tài chính của tổ chức BHTG để khẳng định cam kết của Nhà nước và nâng cao niềm tin của người gửi tiền đối với chính sách BHTG.

Đến năm 2025, phấn đấu tỉ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số người gửi tiền được bảo hiểm đạt 92% - 95%, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế. Phấn đấu rút ngắn thời gian chi trả thực tế kể từ khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm đến năm 2025 là 30 ngày làm việc và đến năm 2030 là 15 ngày làm việc, nhằm giúp người gửi tiền được tiếp cận sớm với tiền gửi của mình khi tổ chức tham gia BHTG được xử lý. Phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2025 có 45% và đến năm 2030 có 55% người gửi tiền nắm bắt được các nội dung cốt lõi của chính sách BHTG. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đề ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và lộ trình thực hiện Chiến lược phát triển BHTG đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó có định hướng sửa đổi, bổ sung Luật BHTG, cụ thể là:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Luật BHTG và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHTG. Hoàn thiện quy định về chế độ tài chính của tổ chức BHTG. Hoàn thiện khung pháp lý và quy trình thực hiện cấp, thu hồi và quản lý chứng nhận tham gia BHTG. Hoàn thiện quy trình cấp chứng nhận BHTG đảm bảo ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả công tác cấp chứng nhận BHTG, đảm bảo quyền lợi của tổ chức tham gia BHTG. Đề xuất sửa đổi, bổ sung nội dung về niêm yết chứng nhận tham gia BHTG cho phù hợp với thực tế. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTG trong việc hỗ trợ chức năng kiểm tra, giám sát của NHNN đối với quỹ tín dụng nhân dân.

Thứ hai, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG về trách nhiệm của tổ chức tham gia BHTG trong việc tính và nộp phí BHTG. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG nhằm: (i) Đảm bảo ngăn chặn tình trạng trục lợi bảo hiểm tiền gửi, nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa tổ chức BHTG và các cơ quan liên quan; (ii) Tạo hành lang pháp lý để tổ chức BHTG tham gia thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG nhằm tối đa hóa giá trị thu hồi. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG nội dung quy định tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm phối hợp với tổ chức BHTG tuyên truyền chính sách BHTG. Nghiên cứu, đề xuất cơ chế bảo vệ pháp lý cho tổ chức và cá nhân làm việc cho tổ chức BHTG trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan, đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp luật để tăng vốn điều lệ cho tổ chức BHTG lên 10.000 tỉ đồng vào năm 2025 và lên 15.000 tỉ đồng vào năm 2030 từ nguồn tự tích lũy và các nguồn vốn hợp pháp khác nhằm đảm bảo năng lực tài chính của tổ chức BHTG, khẳng định cam kết của Nhà nước và nâng cao niềm tin của người gửi tiền đối với chính sách BHTG, đảm bảo nguồn lực triển khai hiệu quả hoạt động BHTG. Tăng cường năng lực tài chính thông qua việc cho phép tổ chức BHTG đa dạng hóa hình thức và danh mục đầu tư gồm: (i) Mua và bán trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh; (ii) Gửi tiền tại ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt; (iii) Mua và bán trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi do các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt phát hành; (iv) Mua, bán trái phiếu chính quyền địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công, các văn bản hướng dẫn và được xếp hạng tín nhiệm cao. Bổ sung hình thức vay từ NHNN trong trường hợp nguồn vốn của tổ chức BHTG không đủ để trả tiền bảo hiểm.

NHNN có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan đề xuất Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật BHTG. BHTGVN có trách nhiệm rà soát, đề xuất NHNN báo cáo Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật BHTG.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng đoàn Quốc hội (2021), Đề án số 292-ĐA/ĐĐQH15.
2. TS. Phạm Bảo Khánh (2024), Vai trò của BHTGVN trong thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam, https://p.gov.vn/vai-tro-cua-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-trong-thuc-day-tai-chinh-toan-dien-tai-viet-nam, truy cập ngày 09/8/2024.
3. Phòng Pháp chế - BHTGVN (2024), Báo cáo tham luận “BHTGVN xây dựng, thực hiện Kế hoạch triển khai quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHTG” tại Hội nghị sơ kết công tác 06 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2024 của BHTGVN, Hà Nội, ngày 08/7/2024.
4. Quyết định số 1660/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển BHTG đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH ngày 16/12/2019 của Văn phòng Quốc hội về Luật BHTG.


TS. Đỗ Đức Hồng Hà
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xem thêm
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại