Rủi ro khí hậu đang hiện hữu và cần trở thành một phần trong quy định vốn ngân hàng

Nghiên cứu - Trao đổi
Thiệt hại do biến đổi khí hậu ngày càng lớn và đang “tích tụ” trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Các báo cáo giám sát cho thấy, đa phần ngân hàng chưa chuẩn bị tốt để ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, các cơ quan giám sát đã chậm đưa rủi ro khí hậu vào các yêu cầu về vốn tối thiểu.
aa


Ngành Ngân hàng luôn xác định vai trò, trách nhiệm trong việc “xanh hóa” dòng vốn đầu tư cho mục tiêu phát triển bền vững nhằm hướng đến mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu

Thiệt hại do biến đổi khí hậu ngày càng lớn và đang “tích tụ” trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Các báo cáo giám sát cho thấy, đa phần ngân hàng chưa chuẩn bị tốt để ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, các cơ quan giám sát đã chậm đưa rủi ro khí hậu vào các yêu cầu về vốn tối thiểu. Cần đưa rủi ro khí hậu thành một phần quy định vốn ngân hàng nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Vấn đề đặt ra là cần phải thúc đẩy quá trình đưa ra quy định mới về vốn ngân hàng có tính đến yếu tố rủi ro môi trường và khí hậu, điều này xuất phát từ tính cấp bách trong việc giải quyết các thiệt hại do biến đổi khi hậu gây ra (Van Tilburg và cộng sự, 2022).

Năm 2023, các ngân hàng châu Âu sẽ quyết định xem có nên tích hợp các rủi ro về khí hậu và môi trường vào các quy tắc an toàn hoạt động hay không và bằng cách nào. Việc sửa đổi, bổ sung quy định và chỉ thị về yêu cầu vốn (Capital Requirements Regulation - CRR/Capital Requirements Directive - CRD) mang đến cơ hội hiếm có để thực hiện điều đó. Những rủi ro về khí hậu và môi trường này bao gồm “rủi ro vật lý”, chẳng hạn như do khí hậu thay đổi (cháy rừng, bão và hạn hán gây thiệt hại hoặc phá hủy tài sản) và “rủi ro chuyển đổi” do các điều chỉnh hoặc quy định mới gây ra, chẳng hạn như hạn chế biến đổi khí hậu và có thể biến tài sản hiện có thành tài sản có rủi ro hay tài sản bị mắc kẹt. Cho đến nay, người ta đã xác định rõ rằng rủi ro khí hậu và môi trường là rủi ro tài chính trọng yếu (NGFS, 2019; ECB, 2020; De Arriba-Sellier, 2021). Để minh họa, chúng ta chỉ cần nhìn vào sự tàn phá của các trận cháy rừng và lũ lụt đã xảy ra trên phạm vi toàn cầu trong vài năm qua.

Hiện nay, ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý tài chính tại nhiều quốc gia trên thế giới đã thừa nhận tác động của biến đổi khí hậu đối với ổn định tài chính. Việc thành lập mạng lưới các ngân hàng trung ương và giám sát viên đối với hệ thống tài chính xanh (NGFS), bao gồm 83 ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát tài chính trên toàn cầu là minh chứng cho thấy sự quan tâm và hành động mạnh mẽ của các ngân hàng trung ương đối với biến đổi khí hậu. Mạng lưới này hoạt động nhằm mục tiêu đẩy nhanh quy mô tài chính xanh (tăng cường vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng trong quản lý rủi ro và huy động vốn cho các dự án đầu tư xanh và ít carbon) và đưa ra các khuyến nghị mạnh mẽ hơn về vai trò của ngành tài chính - ngân hàng trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra.

Theo báo cáo giám sát của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) liên quan đến quản lý rủi ro khí hậu, năm 2022, 186 ngân hàng lớn nhất châu lục này chưa đáp ứng được kỳ vọng của cơ quan này. Có đến 96% các ngân hàng bỏ quên hoặc chưa nhận thức hết về sự cần thiết phân bổ nguồn vốn có tính đến các rủi ro môi trường và khí hậu và đưa nó vào hoạt động quản trị thường xuyên của họ. Theo Frank Elderson (2022), hầu như tất cả hội đồng quản trị của các ngân hàng châu Âu không biết những rủi ro này sẽ phát triển theo thời gian như thế nào, mức độ rủi ro chính xác mà ngân hàng có thể chấp nhận và sẽ thực hiện hành động gì để hạn chế gia tăng rủi ro. ECB (2022) nhận thấy rằng, chỉ một số ít các ngân hàng tiên phong tự nguyện phân bổ vốn kinh tế cho các rủi ro khí hậu như một phần của Quy trình đánh giá tính đầy đủ vốn nội bộ (ICAAP - Internal Capital Adequacy Assessment Process) của họ. Đối với một số ít ngân hàng, hiệu quả hoạt động kinh doanh thường có độ trễ - tức là cần một thời gian sau đó để xác nhận - được đưa vào điểm số của Quy trình đánh giá và giám sát đánh giá (Supervisory Review and Evaluation Process - SREP), dẫn đến yêu cầu về Trụ cột 2, Basel II cao hơn. ECB đặt mục tiêu, năm 2024, các ngân hàng tuân thủ các kỳ vọng giám sát của mình.

Hình 1: Ba trụ cột của Basel II


Yêu cầu vốn tối thiểu gắn với rủi ro khí hậu là cần thiết và chi phí vốn cao hơn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

Về dài hạn, chính Trụ cột 1 về các yêu cầu vốn tối thiểu theo quy định bắt buộc sẽ thúc đẩy các quyết định cấp tín dụng đối với các hợp đồng vay vốn trong các ngân hàng. Vào năm 2015, Mark Carney đã đề cập tới vấn đề gắn rủi ro môi trường đi kèm với tăng yêu cầu về vốn của các ngân hàng, đồng thời đưa ra những dự báo mang tính cảnh báo (Carney, 2015). Kể từ đó, các rủi ro về khí hậu và môi trường đã trở thành vấn đề chủ đạo trong hoạt động giám sát tài chính, dẫn đến hàng loạt các kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) và nghiên cứu kịch bản, nhưng không dẫn đến nhiều thay đổi thực chất về yêu cầu vốn mà các ngân hàng phải đối mặt (Schoenmaker và Van Tilburg, 2016; Campiglio và cộng sự, 2018; Smolenska và van 't Klooster, 2022). Cho đến nay, nó có rất ít tác động đến các chính sách cho vay thực tế của các ngân hàng châu Âu (ECB, 2022).

Năm 2018, Boot và Schoenmaker đã đề xuất lồng ghép rủi ro khí hậu vào trụ cột đầu tiên của khung điều tiết vốn. Hai tác giả nhấn mạnh rằng, điều này không thể thực hiện được bằng cách sử dụng các mô hình dựa trên dữ liệu lịch sử, vì cả biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi năng lượng đều là những bước phát triển chưa từng có. Thay vào đó, những nghiên cứu kịch bản nên được sử dụng để định lượng tác động của chúng. Sự đổi mới trong đánh giá rủi ro này phá vỡ một số quy ước và sẽ không chính xác. Tuy nhiên, cần có sự đột phá như vậy với quan điểm đúng tương đối còn hơn là sai tuyệt đối. Nguyên tắc phòng ngừa được ghi nhận rõ ràng trong thực tiễn của Liên minh châu Âu (EU). Nó được định nghĩa trong Hiệp ước EU theo Điều 191 và được làm rõ và củng cố bởi Ủy ban châu Âu (EC, 2000) trong quá trình thực hiện. Theo cách tiếp cận này, dự thảo của Cơ quan Ngân hàng châu Âu (EBA) về vai trò của rủi ro môi trường trong khuôn khổ thận trọng (EBA, 2022) đã không đạt được kết quả. Đặc biệt, nó không cung cấp cho các cơ quan quản lý bất kỳ hướng dẫn nào về cách tiếp cận hướng tới tương lai có thể được tích hợp trong các yêu cầu của Trụ cột 1, Basel II. EBA thậm chí còn kết luận rằng, “vẫn còn rất ít bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt rủi ro” có hại cho môi trường. Tuy nhiên, Cơ quan này đã đi đến kết luận dựa trên các nghiên cứu đã có trước, trong khi biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học là những hiện tượng mới độc đáo mà tác động của chúng chỉ có thể được tìm thấy trong tương lai.

Việc đặt ra yêu cầu vốn cao hơn đối với tài sản có rủi ro cao về môi trường và khí hậu làm được hai điều. Đầu tiên, chúng khiến bên cho vay có rủi ro nhanh chóng chuyển đổi để tránh tổn thất, chẳng hạn như quá trình chuyển đổi năng lượng tăng tốc, điều cần phải làm nếu chúng ta muốn đạt được mục tiêu toàn cầu là cam kết giữ nhiệt độ trái đất tăng không quá 2°C. Thứ hai, chẳng hạn, khi chi phí vốn các khoản vay không bền vững gia tăng, điều này sẽ không khuyến khích các khoản đầu tư tiếp theo góp phần gây ra biến đổi khí hậu. Do đó, rủi ro mang tính hệ thống gây ra biến đổi khí hậu sẽ giảm đi. Xử lý bền vững các rủi ro môi trường đang trở thành yêu cầu cấp bách, điều mà hiện nay còn chưa được quan tâm đúng mức. Schoenmaker và Stegeman (2023) đưa ra khuyến nghị, các thể chế châu Âu nên khuyến khích ECB tăng cường nỗ lực của mình thông qua Trụ cột 2, Basel II, cung cấp các khoản bổ sung vốn không chỉ cho một số ít ngân hàng hiện tại mà còn cho tất cả các ngân hàng chưa tính đúng, tính đủ các rủi ro môi trường. Quan trọng nhất, bản cập nhật CRR/CRD phải đảm bảo rằng những rủi ro này được tích hợp trong phần chính của khung rủi ro, cụ thể là Trụ cột 1, Basel II. Điều này có thể được thực hiện nhanh chóng bằng cách điều chỉnh các yêu cầu về vốn đối với những rủi ro lớn nhất như một công cụ đơn giản phù hợp với bản chất của rủi ro khí hậu và môi trường hơn là một phương pháp phụ thuộc vào các nghiên cứu dạng mô hình hóa chi tiết. Đồng thời, chúng ta nên bắt đầu với quá trình điều chỉnh dần dần và chi tiết hơn các phương pháp được sử dụng trong Trụ cột 1, phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn và phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ, để hướng tới tương lai hơn trong một khoảng thời gian dài hơn. Giải quyết rủi ro khí hậu và môi trường một cách tập trung bằng cách đưa ra các giới hạn một cách chặt chẽ sẽ là một biện pháp bổ sung (Van Tilburg và cộng sự, 2022).

Bản cập nhật CRR/CRD tạo cơ hội để tăng cường sức mạnh của ngành Ngân hàng, vốn chịu nhiều rủi ro về biến đổi khí hậu và môi trường, như các đánh giá của ECB cho thấy, sự chuẩn bị cho những tổn thất tiềm tàng do biến đổi khí hậu gây ra sắp tới, nhìn chung là còn ít.

Ngành Ngân hàng Việt Nam chủ động thích ứng, hành động ứng phó biến đổi khí hậu

Nhận thức biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu cũng như thấy được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong phát triển bền vững, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng việc tham gia ký kết, thực hiện nghiêm túc các điều ước và thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu. Điển hình, Việt Nam đã ký Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC hoặc FCCC) vào ngày 11/6/1992, phê chuẩn ngày 16/11/1994; ký Nghị định thư Kyoto ngày 03/12/1998, phê chuẩn ngày 25/9/2002; ký Thỏa thuận Paris về khí hậu tháng 04/2016. Tại Hội nghị COP26 diễn ra từ ngày 31/10/2021 đến ngày 12/11/2021 tại thành phố Glasgow (Scotland, Vương quốc Anh), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đưa ra tuyên bố mạnh mẽ về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời thể hiện quyết tâm và cam kết chính trị của Đảng, Nhà nước trong việc đẩy mạnh chuyển đổi kinh tế nhằm góp phần giải quyết khủng hoảng khí hậu. Trên cơ sở từ những cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Chương trình ứng phó biến đổi khí hậu làm tiền đề cho việc thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu theo Thỏa thuận Paris.

Với vai trò kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế, ngành Ngân hàng luôn xác định vai trò, trách nhiệm trong việc “xanh hóa” dòng vốn đầu tư cho mục tiêu phát triển bền vững nhằm hướng đến mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu. Trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai nhiều chính sách ngân hàng xanh, cụ thể: Thống đốc NHNN ban hành: Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/8/2015 ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020; Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam với mục tiêu tổng quát “tăng cường nhận thức và trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng đối với việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, từng bước xanh hóa hoạt động ngân hàng, hướng dòng vốn tín dụng vào việc tài trợ dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy các ngành sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng xanh, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”. Để đẩy mạnh chính sách tín dụng xanh, ngày 24/4/2017, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 813/QĐ-NHNN về Chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã ban hành Sổ tay hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng đối với 15 ngành kinh tế làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức tín dụng phục vụ công tác thẩm định và ra quyết định cấp tín dụng đối với khách hàng; tham gia mạng lưới ngân hàng bền vững để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về các chính sách phát triển bền vững trong hoạt động ngân hàng trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 23/12/2022, Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, tổ chức tín dụng thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật về cấp tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, Thông tư số 17/2022/TT-NHNN cũng nêu rõ quy định nội bộ quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng.

Đối với các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đã rất tích cực trong việc triển khai các gói tín dụng ưu đãi liên quan đến các khoản vay phục vụ cho mục đích bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Qua tổng kết, đa số các tổ chức tín dụng đã nhận thức được nguy cơ rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động ngân hàng. Nhiều tổ chức tín dụng đã chủ động hợp tác, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức tài chính quốc tế, trong đó có Công ty Tài chính quốc tế (IFC) để xây dựng quy chế nội bộ thực hiện quản lý rủi ro môi trường cho một số hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng, ban hành các chính sách về cấp tín dụng xanh của tổ chức tín dụng. Dư nợ tín dụng được đánh giá rủi ro môi trường của hệ thống tổ chức tín dụng tăng trưởng đều qua các năm, theo NHNN, đến ngày 30/6/2022, dư nợ cấp tín dụng đối với các dự án xanh đạt hơn 474.000 tỷ đồng.

Một số khuyến nghị

Một là, các cơ quan quản lý cần tích hợp các rủi ro liên quan đến khí hậu vào giám sát ổn định tài chính và đánh giá rủi ro hệ thống trong hệ thống tài chính, bằng cách: (i) Lập bản đồ các kênh lan truyền rủi ro vật lý và chuyển tiếp trong hệ thống tài chính, áp dụng các chỉ số rủi ro chính để giám sát những rủi ro này; (ii) Tiến hành phân tích định lượng rủi ro liên quan đến khí hậu để xác định mức độ rủi ro trên toàn hệ thống tài chính, sử dụng một tập hợp các kịch bản định hướng bằng dữ liệu một cách nhất quán và có thể so sánh được bao gồm một loạt các trạng thái tương lai khác nhau nhưng hợp lý.

Hai là, trong quá trình xây dựng khuôn khổ pháp lý để khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn Basel II cho các NHTM Việt Nam phải đồng thời đảm bảo tuân thủ thông lệ quốc tế nhưng cũng phải phù hợp với đặc điểm Việt Nam, phù hợp với lộ trình để các tổ chức tín dụng triển khai trúng, đúng, thống nhất và giúp cho quá trình giám sát, kiểm tra của NHNN được thuận lợi. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc triển khai Chuẩn mực an toàn vốn Basel II.

Ba là, các NHTM cần tiếp tục tăng cường năng lực quản trị, điều hành, năng lực tài chính, bảo đảm an toàn hoạt động. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ, chất lượng tín dụng, bảo đảm công khai, minh bạch, tập trung cho các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn tín dụng; phát triển hoạt động dịch vụ phi tín dụng; thúc đẩy tín dụng xanh.

Bốn là, các NHTM cũng cần chú trọng việc nâng cao, bồi dưỡng trình độ cán bộ, phát triển năng lực đội ngũ quản lý thông qua các chương trình đào tạo, các hội thảo có sự tham gia của các nước đã có kinh nghiệm về tín dụng xanh trên thế giới. Công tác truyền thông cũng cần được đẩy mạnh hơn nữa để các thông tin, chính sách về tín dụng xanh đến gần với các cán bộ và doanh nghiệp có nhu cầu được cập nhật.

Năm là, các NHTM cần hành động cẩn thận, chính xác, đầy đủ và hoàn chỉnh, để mỗi ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung trở nên linh hoạt hơn, được trang bị tốt hơn cho một nền kinh tế đang đối mặt với các cuộc khủng hoảng khí hậu và môi trường cũng như cho quá trình chuyển đổi xanh.


Tài liệu tham khảo:

1. Carney, M (2015), “Breaking the tragedy of the horizon - climate change and financial stability”, speech at Lloyd's of London, 29 September.
2. De Arriba-Sellier, N (2021) “Turning Gold into Green: Green Finance in the Mandate of European Financial Supervision”, Common Market Law Review 1097.
3. EBA - European Banking Authority (2022), “The role of environmental risks in the prudential framework”, Discussion Paper, 2 May.
4. ECB - European Central Bank (2022), “Walking the talk; Banks gearing up to manage risks from climate change and environmental degradation; Results of the 2022 thematic review on climate-related and environmental risks”, November.
5. Elderson, F (2022) “Banks need to be climate change proof”, ECB supervision blog post, 2 November.
6. European Commission (2000), “Communication on the precautionary principle”, 2 February.
7. NGFS - Network for Greening the Financial System (2019), “A Call for action Climate change as a source of financial risk”, Paris.
8. Ren van Tilburg and Dirk Schoenmaker (2022), “Climate risks are real and need to become part of bank capital regulation”.
9. Schoenmaker, D and H Stegeman (2023), “From market to green economics: impact on monetary and financial policies”, forthcoming in D Adamski, F Amtenbrink and J de Haan (eds), Cambridge Handbook on European Monetary, Economic and Financial Integration, Cambridge University Press.
10. Hạnh Chi (2022), “Ngân hàng cần tính đến rủi ro biến đổi khí hậu” tại https://www.sggp.org.vn/ngan-hang-can-tinh-den-rui-ro-bien-doi-khi-hau-post657489.html
11. Trần Linh Huân (2023), “Vai trò của ngân hàng trong ứng phó biến đổi khí hậu dưới khía cạnh pháp lý” tại https://tapchinganhang.gov.vn/vai-tro-cua-ngan-hang-trong-ung-pho-bien-doi-khi-hau-duoi-khia-canh-phap-ly.htm


Quỳnh Anh (Hà Nội)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành