Nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Thời gian qua, chính sách tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Bài viết phân tích những hạn chế còn tồn tại và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng cho nhóm doanh nghiệp này.
aa

Tóm tắt: Chính sách về hỗ trợ tín dụng đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong thời gian qua từng bước được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi, tháo gỡ khó khăn và tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng cho khu vực doanh nghiệp này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khu vực SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Bài viết trình bày một số tồn tại, hạn chế và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả cho quá trình tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam.

Từ khóa: SME, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tiếp cận tín dụng.

SOLUTIONS FOR IMPROVING CREDIT ACCESS FOR STARTUPS IN VIETNAM

Abstract: Supporting credit access policies for small and medium-sized enterprises (SME) in Vietnam have gradually been refined to facilitate business activities, address challenges, enhance access to financial resources for SME. However, in practice, SME startups have to face significant challenges in credit ccess. This artical identifies some limitations and makes solutions to improve the credit access of SME startups in Vietnam.

Keywords: SME, startups, credit access.

1. Đặt vấn đề

Luật Hỗ trợ SME năm 2017 quy định, SME khởi nghiệp sáng tạo là SME được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh1.

Trong bối cảnh tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng sâu rộng, việc phát triển các ngành, nghề, lĩnh vực có hàm lượng khoa học, công nghệ cao trong nền kinh tế là một động lực tăng trưởng mới của đất nước. Do đó, vai trò của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ngày càng quan trọng. Điều này được minh chứng trong các nghiên cứu kinh tế quốc tế về mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế với đổi mới sáng tạo và năng suất2. Đặc biệt, Báo cáo “Đẩy mạnh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” do Ngân hàng Thế giới công bố ngày 23/4/2024 đã khẳng định mạnh mẽ rằng, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia thu nhập trung bình như Việt Nam.

Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát về các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2024 của Ngân hàng Thế giới, có đến 69% doanh nghiệp trong lĩnh vực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho biết họ gặp khó khăn khi tiếp cận tài chính trong quá trình phát triển. Đây là vấn đề cấp thiết nhất trong những giai đoạn phát triển ban đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp dựa vào quyền sở hữu trí tuệ và phát triển phần cứng, do các hoạt động này đòi hỏi nhiều vốn để phát triển. Hình 1 là thông tin về một số chỉ tiêu liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo do Ngân hàng Thế giới công bố năm 2024.

Hình 1: Một số chỉ tiêu liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2024)

Thống kê từ Hiệp hội SME cũng cho thấy, hơn 80% vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là từ tiền tiết kiệm cá nhân hoặc huy động từ gia đình và bạn bè. Tuy nhiên, nguồn vốn này không đủ để hỗ trợ các SME, đặc biệt là các SME khởi nghiệp sáng tạo đầu tư và phát triển mô hình kinh doanh của mình. Việc khó tiếp cận vốn ngân hàng đã khiến nhiều SME khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mất cơ hội kinh doanh tiềm năng (Đào Lê Kiều Oanh và Nguyễn Thị Ngọc Duyên, 2019).

Những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, điển hình trong đó bao gồm: (i) Hành lang pháp lý chưa hoàn thiện; (ii) Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong khâu thẩm định; (iii) Năng lực quản trị của các SME còn hạn chế. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ phân tích những nguyên nhân trên và đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện nay.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong quá trình tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo

Thứ nhất, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện

Luật Hỗ trợ SME năm 2017 đã đưa ra các biện pháp khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với SME nói chung, bao gồm SME khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, việc bảo lãnh tín dụng cho SME không chỉ dựa trên tài sản bảo đảm mà còn có thể dựa trên tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, trên thực tế, các nguyên tắc, tiêu chí để thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể nên các Quỹ bảo lãnh tín dụng SME hiện nay chưa có cơ sở để ban hành bộ tiêu chí xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những ý tưởng, phương án sản xuất, kinh doanh của các SME, đặc biệt là SME khởi nghiệp sáng tạo thường tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó có thể xác định về tính hiệu quả, khả năng hoàn vốn và trả nợ… Do đó, các SME thường không đủ điều kiện để được bảo lãnh vay vốn (Đinh Tấn Phong, 2024).

Ngày 10/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2019/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển SME, hướng đến thành lập Quỹ phát triển SME nhằm giúp SME có thể tiếp cận nguồn vốn vay trực tiếp thay vì vay gián tiếp thông qua các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay là hành lang pháp lý quy định về hỗ trợ việc thẩm định cho vay, nhận tài sản bảo đảm, trích lập dự phòng rủi ro chưa được quy định cụ thể. Trong khi đó, nguyên tắc hoạt động của Quỹ phát triển SME là phải bảo đảm an toàn vốn, tương tự như Quỹ bảo lãnh tín dụng. Do đó, trên thực tế, để tiếp cận nguồn vốn này, các SME vẫn cần phải có tài sản bảo đảm.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong khâu thẩm định

Trước hết, trong quá trình thẩm định cấp tín dụng, các tổ chức tín dụng thường phân định nhóm khách hàng SME là nhóm có độ rủi ro cao, cơ chế thẩm định tín dụng thường chặt chẽ hơn so với nhóm khách hàng doanh nghiệp khác.

Đối với việc đánh giá tính hợp pháp của mục đích vay vốn, thông thường, doanh nghiệp cũng như bất kỳ khách hàng nào đều đưa thông tin mục đích vay vốn của mình là hợp pháp. Đối với các SME khởi nghiệp sáng tạo, việc chứng minh tính hợp pháp của mục đích vay vốn thường ở mức độ đơn giản, thể hiện ở hồ sơ vay vốn. Do đó, việc xem xét quyết định cho vay không phải lúc nào cũng được thực hiện nhanh chóng. Trong khi đó, sản phẩm của các SME khởi nghiệp sáng tạo thường là sản phẩm mới, thời gian đầu thường không ổn định và khó tiên lượng chính xác tiềm năng của sản phẩm, dẫn đến khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi quyết định khoản tín dụng có thể cho vay đối với nhóm khách hàng này.

Mặt khác, đặc thù các SME khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp có thời gian thành lập hoặc vòng đời kinh doanh ngắn, thiếu tính ổn định trong hoạt động kinh doanh. Do đó, các ngân hàng gặp khó khăn trong việc thẩm định hiệu quả của phương án vay vốn, đánh giá uy tín của khách hàng trong quan hệ tín dụng để đưa ra quyết định cho vay.

Thứ ba, năng lực quản trị của các SME khởi nghiệp sáng tạo còn hạn chế

Một nguyên nhân chủ yếu khác dẫn đến việc khó tiếp cận tín dụng của các SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay đến từ yếu tố chủ quan của các doanh nghiệp này. Do quá trình hoạt động chịu rủi ro cao nên các kênh huy động vốn truyền thống qua các ngân hàng thương mại cho SME rất khó khăn. Bên cạnh đó, các nhà sáng lập SME khởi nghiệp sáng tạo chỉ tập trung vào ý tưởng kinh doanh, chưa chú ý đến xây dựng mô hình kinh doanh thực tế.

Những nguyên nhân trên đã gây ra không ít khó khăn trong việc thu thập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt các điều kiện để hưởng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng hay cấp tín dụng, quản lý trong và sau cho vay, gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại. Theo đó, các ngân hàng thương mại sẽ mất nhiều thời gian, công sức để thẩm định đối với các khoản cho vay SME khởi nghiệp sáng tạo, trong khi lợi nhuận không đủ bù đắp, dẫn đến tâm lý e ngại trong việc cấp các khoản tín dụng cho SME khởi nghiệp sáng tạo.

Đặc biệt, các SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay còn hạn chế về thông tin tiếp cận vay vốn ngân hàng cũng như năng lực để chuẩn bị hồ sơ vay vốn. Bên cạnh đó, nhiều SME chưa tiếp cận được nguồn vốn khác như từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư… (Nguyễn Đào Ngọc Ánh, 2021).

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng đối với SME khởi nghiệp sáng tạo

Thứ nhất, xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường vốn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, tạo cơ chế tài chính ưu đãi nhằm khuyến khích hoạt động góp vốn đầu tư cộng đồng, hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần chịu rủi ro cao... Đồng thời, gỡ bỏ các hạn chế sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn cho hoạt động khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần nghiên cứu, xem xét ban hành các gói hỗ trợ tài chính cho SME khởi nghiệp sáng tạo. Các hỗ trợ này có thể dưới dạng khoản tài trợ trực tiếp vào các SME khởi nghiệp sáng tạo tại giai đoạn ý tưởng ban đầu của quá trình phát triển sản phẩm. Theo đó, dựa trên cân đối thu - chi ngân sách nhà nước, Chính phủ có thể thực hiện phân bổ các khoản hỗ trợ cho các SME khởi nghiệp sáng tạo theo một tỉ lệ nhất định dựa trên vốn điều lệ của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng cần thiết kế các sản phẩm, quy trình tín dụng đặc thù, phù hợp hơn đối với SME theo từng nhóm ngành, nghề để có các giải pháp đáp ứng yêu cầu khách hàng một cách linh hoạt. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, đề xuất các chương trình nhằm tạo thuận lợi cho SME được vay vốn và tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, qua đó, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của SME khởi nghiệp sáng tạo. Các SME khởi nghiệp sáng tạo cần chủ động nâng cao năng lực tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành để đáp ứng các điều kiện vay vốn từ ngân hàng. Đặc biệt, cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch gọi vốn, sử dụng vốn một cách có lộ trình, tìm kiếm nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, thị trường vốn, công ty tài chính. Bên cạnh đó, tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ trong việc lập sổ sách kế toán, khai thuế và hải quan điện tử, giao dịch ngân hàng qua Internet nhằm giảm chi phí giao dịch, kết nối và chia sẻ thông tin tài chính với các tổ chức tín dụng để dần minh bạch hóa thông tin tài chính, tạo lòng tin trên thị trường.■

_____________

1 Khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ SME năm 2017.

2 Alon, T., Berger D., Dent R., và Pugsley B. 2018. Già hơn và chậm hơn: Tác động lâu dài của thiếu hụt doanh nghiệp khởi nghiệp đối với tổng mức tăng trưởng năng suất. Tạp chí Kinh tế học tiền tệ, 93, trang 68 - 85.

Tài liệu tham khảo:

1. Alon, T., Berger D., Dent R., và Pugsley B. (2018). Già hơn và chậm hơn: Tác động lâu dài của thiếu hụt doanh nghiệp khởi nghiệp đối với tổng mức tăng trưởng năng suất. Tạp chí Kinh tế học tiền tệ, 93, trang 68 - 85.

2. Audretsch, D. B., Keilbach, M. C., và Lehmann, E. E. (2006). Khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Nhà Xuất bản Đại học Oxford.

3. Đào Lê Kiều Oanh, Nguyễn Thị Ngọc Duyên (2019). Tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 10/2019.

4. Đinh Tấn Phong (2024). Gỡ khó tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tài sản bảo đảm, https://fili.vn/2024/06/go-kho-tiep-can-tin-dung-cho-doanh-nghiep-vua-va-nho-khong-co-tai-san-bao-dam-757-1195673.htm

5. Luật Hỗ trợ SME năm 2017.

6. Ngân hàng Thế giới (2024). Đẩy mạnh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, https://documents1.worldbank.org/curated/en/099448304222426855/pdf/IDU15033e0a81a75f143501911d1dcc883a36364.pdf

7. Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển SME.

8. Nguyễn Đào Ngọc Ánh (2021). Nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các SME, https://kinhtevadubao.vn/nang-cao-kha-nang-tiep-can-von-tin-dung-cho-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-3600.html

9. Phan Anh Tú, Nguyễn Hữu Thọ (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn để khởi nghiệp kinh doanh tại thành phố Cần Thơ, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 3/2020.

10. VCCI và USAID (2024). Báo cáo Chỉ số PCI và PGI 2023: Thúc đẩy môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp, thân thiện với môi trường, https://pcivietnam.vn/uploads//VN-Bao-cao-dai-PCI/VN-Bao-cao-dai-PCI-2023_VN.pdf

Đinh Tấn Phong
Viện Kinh tế - Xã hội Thành phố Cần Thơ

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại