Nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Thời gian qua, chính sách tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Bài viết phân tích những hạn chế còn tồn tại và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng cho nhóm doanh nghiệp này.
aa

Tóm tắt: Chính sách về hỗ trợ tín dụng đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong thời gian qua từng bước được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi, tháo gỡ khó khăn và tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng cho khu vực doanh nghiệp này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khu vực SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Bài viết trình bày một số tồn tại, hạn chế và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả cho quá trình tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam.

Từ khóa: SME, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tiếp cận tín dụng.

SOLUTIONS FOR IMPROVING CREDIT ACCESS FOR STARTUPS IN VIETNAM

Abstract: Supporting credit access policies for small and medium-sized enterprises (SME) in Vietnam have gradually been refined to facilitate business activities, address challenges, enhance access to financial resources for SME. However, in practice, SME startups have to face significant challenges in credit ccess. This artical identifies some limitations and makes solutions to improve the credit access of SME startups in Vietnam.

Keywords: SME, startups, credit access.

1. Đặt vấn đề

Luật Hỗ trợ SME năm 2017 quy định, SME khởi nghiệp sáng tạo là SME được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh1.

Trong bối cảnh tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng sâu rộng, việc phát triển các ngành, nghề, lĩnh vực có hàm lượng khoa học, công nghệ cao trong nền kinh tế là một động lực tăng trưởng mới của đất nước. Do đó, vai trò của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ngày càng quan trọng. Điều này được minh chứng trong các nghiên cứu kinh tế quốc tế về mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế với đổi mới sáng tạo và năng suất2. Đặc biệt, Báo cáo “Đẩy mạnh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” do Ngân hàng Thế giới công bố ngày 23/4/2024 đã khẳng định mạnh mẽ rằng, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia thu nhập trung bình như Việt Nam.

Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát về các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2024 của Ngân hàng Thế giới, có đến 69% doanh nghiệp trong lĩnh vực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho biết họ gặp khó khăn khi tiếp cận tài chính trong quá trình phát triển. Đây là vấn đề cấp thiết nhất trong những giai đoạn phát triển ban đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp dựa vào quyền sở hữu trí tuệ và phát triển phần cứng, do các hoạt động này đòi hỏi nhiều vốn để phát triển. Hình 1 là thông tin về một số chỉ tiêu liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo do Ngân hàng Thế giới công bố năm 2024.

Hình 1: Một số chỉ tiêu liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2024)

Thống kê từ Hiệp hội SME cũng cho thấy, hơn 80% vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là từ tiền tiết kiệm cá nhân hoặc huy động từ gia đình và bạn bè. Tuy nhiên, nguồn vốn này không đủ để hỗ trợ các SME, đặc biệt là các SME khởi nghiệp sáng tạo đầu tư và phát triển mô hình kinh doanh của mình. Việc khó tiếp cận vốn ngân hàng đã khiến nhiều SME khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mất cơ hội kinh doanh tiềm năng (Đào Lê Kiều Oanh và Nguyễn Thị Ngọc Duyên, 2019).

Những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, điển hình trong đó bao gồm: (i) Hành lang pháp lý chưa hoàn thiện; (ii) Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong khâu thẩm định; (iii) Năng lực quản trị của các SME còn hạn chế. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ phân tích những nguyên nhân trên và đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện nay.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong quá trình tiếp cận tín dụng của SME khởi nghiệp sáng tạo

Thứ nhất, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện

Luật Hỗ trợ SME năm 2017 đã đưa ra các biện pháp khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với SME nói chung, bao gồm SME khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, việc bảo lãnh tín dụng cho SME không chỉ dựa trên tài sản bảo đảm mà còn có thể dựa trên tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, trên thực tế, các nguyên tắc, tiêu chí để thực hiện xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể nên các Quỹ bảo lãnh tín dụng SME hiện nay chưa có cơ sở để ban hành bộ tiêu chí xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những ý tưởng, phương án sản xuất, kinh doanh của các SME, đặc biệt là SME khởi nghiệp sáng tạo thường tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó có thể xác định về tính hiệu quả, khả năng hoàn vốn và trả nợ… Do đó, các SME thường không đủ điều kiện để được bảo lãnh vay vốn (Đinh Tấn Phong, 2024).

Ngày 10/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2019/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển SME, hướng đến thành lập Quỹ phát triển SME nhằm giúp SME có thể tiếp cận nguồn vốn vay trực tiếp thay vì vay gián tiếp thông qua các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay là hành lang pháp lý quy định về hỗ trợ việc thẩm định cho vay, nhận tài sản bảo đảm, trích lập dự phòng rủi ro chưa được quy định cụ thể. Trong khi đó, nguyên tắc hoạt động của Quỹ phát triển SME là phải bảo đảm an toàn vốn, tương tự như Quỹ bảo lãnh tín dụng. Do đó, trên thực tế, để tiếp cận nguồn vốn này, các SME vẫn cần phải có tài sản bảo đảm.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong khâu thẩm định

Trước hết, trong quá trình thẩm định cấp tín dụng, các tổ chức tín dụng thường phân định nhóm khách hàng SME là nhóm có độ rủi ro cao, cơ chế thẩm định tín dụng thường chặt chẽ hơn so với nhóm khách hàng doanh nghiệp khác.

Đối với việc đánh giá tính hợp pháp của mục đích vay vốn, thông thường, doanh nghiệp cũng như bất kỳ khách hàng nào đều đưa thông tin mục đích vay vốn của mình là hợp pháp. Đối với các SME khởi nghiệp sáng tạo, việc chứng minh tính hợp pháp của mục đích vay vốn thường ở mức độ đơn giản, thể hiện ở hồ sơ vay vốn. Do đó, việc xem xét quyết định cho vay không phải lúc nào cũng được thực hiện nhanh chóng. Trong khi đó, sản phẩm của các SME khởi nghiệp sáng tạo thường là sản phẩm mới, thời gian đầu thường không ổn định và khó tiên lượng chính xác tiềm năng của sản phẩm, dẫn đến khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi quyết định khoản tín dụng có thể cho vay đối với nhóm khách hàng này.

Mặt khác, đặc thù các SME khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp có thời gian thành lập hoặc vòng đời kinh doanh ngắn, thiếu tính ổn định trong hoạt động kinh doanh. Do đó, các ngân hàng gặp khó khăn trong việc thẩm định hiệu quả của phương án vay vốn, đánh giá uy tín của khách hàng trong quan hệ tín dụng để đưa ra quyết định cho vay.

Thứ ba, năng lực quản trị của các SME khởi nghiệp sáng tạo còn hạn chế

Một nguyên nhân chủ yếu khác dẫn đến việc khó tiếp cận tín dụng của các SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay đến từ yếu tố chủ quan của các doanh nghiệp này. Do quá trình hoạt động chịu rủi ro cao nên các kênh huy động vốn truyền thống qua các ngân hàng thương mại cho SME rất khó khăn. Bên cạnh đó, các nhà sáng lập SME khởi nghiệp sáng tạo chỉ tập trung vào ý tưởng kinh doanh, chưa chú ý đến xây dựng mô hình kinh doanh thực tế.

Những nguyên nhân trên đã gây ra không ít khó khăn trong việc thu thập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt các điều kiện để hưởng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng hay cấp tín dụng, quản lý trong và sau cho vay, gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại. Theo đó, các ngân hàng thương mại sẽ mất nhiều thời gian, công sức để thẩm định đối với các khoản cho vay SME khởi nghiệp sáng tạo, trong khi lợi nhuận không đủ bù đắp, dẫn đến tâm lý e ngại trong việc cấp các khoản tín dụng cho SME khởi nghiệp sáng tạo.

Đặc biệt, các SME khởi nghiệp sáng tạo hiện nay còn hạn chế về thông tin tiếp cận vay vốn ngân hàng cũng như năng lực để chuẩn bị hồ sơ vay vốn. Bên cạnh đó, nhiều SME chưa tiếp cận được nguồn vốn khác như từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư… (Nguyễn Đào Ngọc Ánh, 2021).

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận tín dụng đối với SME khởi nghiệp sáng tạo

Thứ nhất, xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường vốn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, tạo cơ chế tài chính ưu đãi nhằm khuyến khích hoạt động góp vốn đầu tư cộng đồng, hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần chịu rủi ro cao... Đồng thời, gỡ bỏ các hạn chế sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn cho hoạt động khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần nghiên cứu, xem xét ban hành các gói hỗ trợ tài chính cho SME khởi nghiệp sáng tạo. Các hỗ trợ này có thể dưới dạng khoản tài trợ trực tiếp vào các SME khởi nghiệp sáng tạo tại giai đoạn ý tưởng ban đầu của quá trình phát triển sản phẩm. Theo đó, dựa trên cân đối thu - chi ngân sách nhà nước, Chính phủ có thể thực hiện phân bổ các khoản hỗ trợ cho các SME khởi nghiệp sáng tạo theo một tỉ lệ nhất định dựa trên vốn điều lệ của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng cần thiết kế các sản phẩm, quy trình tín dụng đặc thù, phù hợp hơn đối với SME theo từng nhóm ngành, nghề để có các giải pháp đáp ứng yêu cầu khách hàng một cách linh hoạt. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, đề xuất các chương trình nhằm tạo thuận lợi cho SME được vay vốn và tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, qua đó, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của SME khởi nghiệp sáng tạo. Các SME khởi nghiệp sáng tạo cần chủ động nâng cao năng lực tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành để đáp ứng các điều kiện vay vốn từ ngân hàng. Đặc biệt, cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch gọi vốn, sử dụng vốn một cách có lộ trình, tìm kiếm nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, thị trường vốn, công ty tài chính. Bên cạnh đó, tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ trong việc lập sổ sách kế toán, khai thuế và hải quan điện tử, giao dịch ngân hàng qua Internet nhằm giảm chi phí giao dịch, kết nối và chia sẻ thông tin tài chính với các tổ chức tín dụng để dần minh bạch hóa thông tin tài chính, tạo lòng tin trên thị trường.■

_____________

1 Khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ SME năm 2017.

2 Alon, T., Berger D., Dent R., và Pugsley B. 2018. Già hơn và chậm hơn: Tác động lâu dài của thiếu hụt doanh nghiệp khởi nghiệp đối với tổng mức tăng trưởng năng suất. Tạp chí Kinh tế học tiền tệ, 93, trang 68 - 85.

Tài liệu tham khảo:

1. Alon, T., Berger D., Dent R., và Pugsley B. (2018). Già hơn và chậm hơn: Tác động lâu dài của thiếu hụt doanh nghiệp khởi nghiệp đối với tổng mức tăng trưởng năng suất. Tạp chí Kinh tế học tiền tệ, 93, trang 68 - 85.

2. Audretsch, D. B., Keilbach, M. C., và Lehmann, E. E. (2006). Khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Nhà Xuất bản Đại học Oxford.

3. Đào Lê Kiều Oanh, Nguyễn Thị Ngọc Duyên (2019). Tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 10/2019.

4. Đinh Tấn Phong (2024). Gỡ khó tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tài sản bảo đảm, https://fili.vn/2024/06/go-kho-tiep-can-tin-dung-cho-doanh-nghiep-vua-va-nho-khong-co-tai-san-bao-dam-757-1195673.htm

5. Luật Hỗ trợ SME năm 2017.

6. Ngân hàng Thế giới (2024). Đẩy mạnh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, https://documents1.worldbank.org/curated/en/099448304222426855/pdf/IDU15033e0a81a75f143501911d1dcc883a36364.pdf

7. Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển SME.

8. Nguyễn Đào Ngọc Ánh (2021). Nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các SME, https://kinhtevadubao.vn/nang-cao-kha-nang-tiep-can-von-tin-dung-cho-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-3600.html

9. Phan Anh Tú, Nguyễn Hữu Thọ (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn để khởi nghiệp kinh doanh tại thành phố Cần Thơ, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 3/2020.

10. VCCI và USAID (2024). Báo cáo Chỉ số PCI và PGI 2023: Thúc đẩy môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp, thân thiện với môi trường, https://pcivietnam.vn/uploads//VN-Bao-cao-dai-PCI/VN-Bao-cao-dai-PCI-2023_VN.pdf

Đinh Tấn Phong
Viện Kinh tế - Xã hội Thành phố Cần Thơ

Tin bài khác

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Bài viết tổng quan các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời cập nhật các xu hướng nghiên cứu mới như mô hình mạng lưới, phân tích đa giai đoạn và tích hợp tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị (ESG) nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và hàm ý chính sách.
Giải ngân cho vay nhà ở xã hội đang dần khởi sắc

Giải ngân cho vay nhà ở xã hội đang dần khởi sắc

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, cùng những giải pháp đồng bộ nhằm tăng nguồn cung nhà ở xã hội từ phía các bộ, ngành, sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại, doanh số giải ngân Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững đã có những chuyển biến tích cực.
VietCredit ra mắt Napas Tap & Pay cho thẻ tín dụng - Tiên phong mở rộng trải nghiệm thanh toán không chạm tại Việt Nam

VietCredit ra mắt Napas Tap & Pay cho thẻ tín dụng - Tiên phong mở rộng trải nghiệm thanh toán không chạm tại Việt Nam

VietCredit chính thức ra mắt tính năng Napas Tap & Pay, cho phép khách hàng thanh toán trực tiếp bằng điện thoại thông qua thẻ tín dụng VietCredit đã được số hóa trên ứng dụng. Đây không chỉ là một tính năng mới, mà còn là bước tiến trong hành trình đưa trải nghiệm tài chính số trở nên liền mạch, đơn giản và phù hợp hơn với thói quen tiêu dùng hiện đại.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích sự chuyển đổi sâu sắc của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương (NHTW) trong kỷ nguyên dữ liệu, qua đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao năng lực thống kê phục vụ hiệu quả hoạch định chính sách.
Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Mối liên kết giữa hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng: Xu hướng, rủi ro, cơ chế lan truyền và quản lý, giám sát

Bài viết phân tích sự phát triển của khu vực tổ chức tài chính phi ngân hàng (NBFI) trong bối cảnh siết chặt các tiêu chuẩn mực quản lý và giám sát của hệ thống ngân hàng truyền thống (Basel II, Basel III), làm rõ các kênh liên kết hai chiều với hệ thống ngân hàng và cảnh báo rủi ro hệ thống từ các cú sốc thanh khoản, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ giám sát vĩ mô thận trọng vượt ra ngoài phạm vi ngân hàng truyền thống nhằm bảo đảm ổn định tài chính.
Xem thêm
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành