Hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Nguyên góp phần phát triển kinh tế địa phương

Hoạt động ngân hàng
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên trên 3.500 km2, dân số trên 1,3 triệu người, trong đó có 71% dân số ở nông thôn, dân tộc thiểu số chiếm khoảng 30% dân số. Có 09 đơn vị hành chính (03 thành phố và 06 huyện) với 176 xã, phường, thị trấn.
aa

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên trên 3.500 km2, dân số trên 1,3 triệu người, trong đó có 71% dân số ở nông thôn, dân tộc thiểu số chiếm khoảng 30% dân số. Có 09 đơn vị hành chính (03 thành phố và 06 huyện) với 176 xã, phường, thị trấn. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Nguyên đã quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên nhiều ngành, lĩnh vực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận về phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2023, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng 5,01%; cơ cấu khu vực công nghiệp xây dựng chiếm tỉ trọng 58,1%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm tỉ trọng 31,79%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 10,11%. GRDP bình quân đầu người đạt 113 triệu đồng. Thu ngân sách nhà nước đạt 20.196 tỉ đồng. Tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 27,1 tỉ USD; tỉ lệ hộ nghèo giảm 1,33%/năm; các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đời sống của nhân dân ngày được cải thiện và nâng cao, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc.

Với vai trò huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Nguyên cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức của nền kinh tế, tuy nhiên, với sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của Ban Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), cùng sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các sở, ban, ngành trên địa bàn, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.


1. Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Nguyên năm 2023

Bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, đáp ứng vốn cho nền kinh tế nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

Ngay từ đầu năm 2023, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ, trong đó định hướng nguồn vốn huy động tăng trưởng 10%, tín dụng tăng trưởng 12% (theo Kế hoạch của UBND tỉnh đề ra và có điều chỉnh theo chỉ đạo của NHNN); hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, thực hiện giảm mặt bằng lãi suất tiền gửi, qua đó tạo dư địa để giảm lãi suất cho vay, triển khai các giải pháp để giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng nhằm tích cực hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ được giao của ngành Ngân hàng tại Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Kết quả đến hết năm 2023, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đạt 106.888 tỉ đồng, tăng 11,46%; dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đạt 95.751 tỉ đồng, tăng 15,55% so với thời điểm 31/12/2022, cao hơn tăng trưởng tín dụng toàn Ngành (toàn Ngành là 13,71%) và cao hơn kế hoạch của UBND tỉnh đề ra là 12% với 2.643 pháp nhân và 209.362 thể nhân còn dư nợ. Trong đó cơ cấu tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chiếm 83,76%, cho vay tiêu dùng và cho vay bất động sản chiếm 16,24%.

NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo các ngân hàng trên địa bàn thường xuyên đối thoại, kết nối ngân hàng - doanh nghiệp theo Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 04/7/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn để sản xuất, kinh doanh. Chủ động phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội/hội doanh nghiệp trên địa bàn để nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp để tổ chức Hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp ngày 23/3/2023 và Hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp do NHNN và UBND tỉnh Thái Nguyên đồng chủ trì ngày 04/10/2023. Thiết lập đường dây nóng và yêu cầu các chi nhánh TCTD, quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn niêm yết công khai tại trụ sở chi nhánh, phòng giao dịch để tiếp nhận và xử lí kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp liên quan đến tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Thống đốc NHNN quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Phối hợp với Sở Xây dựng rà soát danh mục dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân để thực hiện chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững.

Các ngân hàng trên địa bàn tích cực thực hiện đối thoại, kết nối với từng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng thừa vốn nhưng tín dụng tăng thấp. Kết quả đến hết năm 2023, doanh số cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 40.091 tỉ đồng, dư nợ cho vay đạt 19.259 tỉ đồng với 1.792 doanh nghiệp nhỏ và vừa còn dư nợ.

Chương trình cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho vay xây dựng nông thôn mới tiếp tục được NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên và các ngân hàng trên địa bàn triển khai thực hiện. Dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 22.829 tỉ đồng, chiếm 23,84%/tổng dư nợ toàn địa bàn với 170.627 khách hàng còn dư nợ. Dư nợ cho vay nông thôn mới đạt 17.851 tỉ đồng, chiếm 18,64%/tổng dư nợ toàn địa bàn với 120.494 khách hàng còn dư nợ. Cùng với nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, góp phần đưa 118/126 xã (đạt 93,65%), 6/9 huyện, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 66,67%).

Hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Nguyên đã tích cực triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ và Thông tư số 03/2022/TT-NHNN ngày 20/5/2022 của Thống đốc NHNN, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đã tham mưu cho UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Công văn số 2202/UBND-KT ngày 24/5/2022 về triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ lãi suất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Kết quả đến hết năm 2023 có 09 chi nhánh ngân hàng thực hiện hỗ trợ lãi suất cho 43 khách hàng với doanh số cho vay được hỗ trợ lãi suất đạt 4.849 tỉ đồng, dư nợ được hỗ trợ lãi suất đạt 1.281 tỉ đồng, số tiền hỗ trợ lãi suất là trên 26 tỉ đồng. Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay theo Nghị định số 36/2022/NĐ-CP ngày 30/5/2022 của Chính phủ, lũy kế số tiền giải ngân trong thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất là 2.162 tỉ đồng, số món được hỗ trợ lãi suất là 45.637 món, số tiền được thanh toán hỗ trợ lãi suất gần 42 tỉ đồng.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình NHCSXH tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với các sở, ban, ngành và các đơn vị liên quan rà soát nhu cầu vay vốn của khách hàng trên địa bàn năm 2023 để tổng hợp, xây dựng kế hoạch nhu cầu vốn của các chương trình. Doanh số cho vay các chương trình tín dụng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là 510 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch Trung ương giao, cụ thể: (i) Cho vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm là 410 tỉ đồng với 6.340 khách hàng vay vốn; (ii) Cho vay nhà ở xã hội đạt 68 tỉ đồng với 169 khách hàng vay vốn; (iii) Cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn để mua máy tính, thiết bị phục vụ học tập trực tuyến là 9,67 tỉ đồng với 652 khách hàng vay vốn; (iv) Cho vay cơ sở mầm non, tiểu học ngoài công lập là 2,28 tỉ đồng với 22 khách hàng; (v) Cho vay thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là 20,5 tỉ đồng với 483 khách hàng vay vốn.

Thực hiện chỉ đạo của Thống đốc NHNN tại Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khách hàng gặp khó khăn trả nợ vay phục vụ nhu cầu đời sống, tiêu dùng và hướng dẫn của Hội sở chính, các TCTD trên địa bàn đang thực hiện rà soát các khoản vay để xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng, đến hết năm 2023, có 09 ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ với tổng số dư nợ gốc và lãi đạt 644 tỉ đồng cho 67 lượt khách hàng.

Chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống ngân hàng trên địa bàn theo Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của NHNN và Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 31/12/2020 của Tỉnh ủy Thái Nguyên về Chương trình chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Các TCTD trên địa bàn đã phát triển hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng vận hành, xử lí nghiệp vụ vững mạnh dựa trên công nghệ, dữ liệu và có thể tiếp cận khách hàng qua các kênh số. Hệ sinh thái số, thanh toán số đã được thiết lập kết nối giữa dịch vụ ngân hàng với nhiều dịch vụ khác, nhiều ngân hàng có tỉ lệ hơn 90% giao dịch trên kênh số. Đến hết năm 2023, trên địa bàn có khoảng 2,2 triệu tài khoản thanh toán/1 triệu người trưởng thành.

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực với nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích (như chuyển tiền nhanh 24/7, thanh toán di động, dùng tài khoản viễn thông thanh toán Mobile-Money, sử dụng QR Code, ví điện tử...) đáp ứng được nhu cầu người dân và doanh nghiệp. Việc TTKDTM đối với dịch vụ công, thanh toán trực tuyến các thủ tục hành chính, thanh toán điện, nước, viện phí… đang được triển khai hiệu quả. Đến nay, 100% giao dịch nộp thuế của người nộp thuế (năm 2023 số tiền thu ngân sách nhà nước là 20.196 tỉ đồng) được thực hiện qua ngân hàng. Số khách hàng thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt là 357.355/395.271 khách hàng, đạt 90,41% trên tổng số khách hàng của Điện lực Thái Nguyên. Số khách hàng thanh toán tiền nước không dùng tiền mặt là 22.509/83.275 khách hàng, đạt 27,03%; số tiền nước TTKDTM là 56,9/210,6 tỉ đồng chiếm 27,02%. 100% các cơ sở giáo dục, đào tạo đã thực hiện thanh toán tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức qua tài khoản ngân hàng, tổng số tiền học phí TTKDTM là 47,955/48 tỉ đồng, chiếm 99,9%. 100% các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện lắp đặt POS, có QR Code để phục vụ thu viện phí, niêm yết tài khoản của đơn vị để người bệnh thanh toán các dịch vụ qua Smart Banking, ví điện tử… số món dịch vụ y tế TTKDTM chiếm 33% và số tiền dịch vụ y tế TTKDTM là 81%.

Các NHTM đã phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và chính quyền địa phương triển khai tạo tài khoản an sinh chi trả chính sách xã hội (chi trả không dùng tiền mặt cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội, đến hết năm 2023 đã tạo tài khoản cho 25.629/26.869 hộ nghèo, cận nghèo, đạt tỉ lệ 95,38%; tạo tài khoản cho 15.102/18.927 người có công, đạt tỉ lệ 79,79%; tạo tài khoản cho 32.961/41.269 đối tượng trợ giúp xã hội, đạt tỉ lệ 79,87%). Triển khai thí điểm chi trả chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng không dùng tiền mặt cho 12.826/15.134 người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, đạt tỉ lệ 84,74% và 10.791/19.329 người có công, đạt tỉ lệ 55,8%.

Tỉnh Thái Nguyên có 03 doanh nghiệp viễn thông (Viettel Thái Nguyên, VNPT Thái Nguyên, Mobifone Thái Nguyên) triển khai dịch vụ Mobile-Money, đến nay có khoảng 435.000 khách hàng với trên 9.300 điểm chấp nhận thanh toán. Mô hình Chợ 4.0 - Chợ TTKDTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tiếp tục được triển khai, nhân rộng, các ngân hàng đã đến từng quầy hàng để tạo QR Code cho các tiểu thương. Đến nay, toàn tỉnh đã triển khai được 107 chợ (đạt 100%). UBND huyện Phú Lương đã cho ra mắt tuyến phố không dùng tiền mặt tại Tổ dân phố An Thái, thị trấn Đu với tiêu chí tuyến phố văn minh, không dùng tiền mặt, tạo điều kiện thuận lợi trong việc mua sắm hàng hóa ứng dụng công nghệ số, từng bước thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân.

Công tác cải cách hành chính được NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh triển khai thực hiện, chỉ đạo các TCTD đổi mới công tác quản trị, điều hành, cải tiến các thủ tục giao dịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển các sản phẩm, dịch vụ hiện đại để tạo thuận lợi cho khách hàng giao dịch. Nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm phi tín dụng; đầu tư công nghệ phát triển sản phẩm online, thường xuyên cung cấp các gói sản phẩm, dịch vụ mới hiện đại và tiện dụng dành cho khách hàng, qua đó góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngày 12/6/2023, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội nghị đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và công bố kết quả Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở ban, ngành và địa phương (DDCI) năm 2022. Đây là năm thứ hai tỉnh triển khai khảo sát, đánh giá sự hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp đối với 32 đơn vị (gồm 09 huyện, thành phố và 23 sở, ban, ngành); 1.500 đơn vị tham gia khảo sát bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh, kết quả với 08 chỉ số, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đạt 88,41/100 điểm, là đơn vị có điểm số cao thứ ba.

Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên và các ngân hàng trên địa bàn luôn quan tâm, tham gia đầy đủ các buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội và kì họp của HĐND tỉnh Thái Nguyên để tiếp thu, giải trình các ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng. Phối hợp với Cục Thi hành án dân sự tỉnh tổ chức Hội nghị chỉ đạo, đôn đốc thi hành án tín dụng ngân hàng để tăng cường mối quan hệ công tác, đẩy nhanh tiến độ thi hành án các vụ việc liên quan đến ngân hàng.

Tiếp tục thực hiện tốt công tác truyền thông về các chủ trương điều hành chính sách tiền tệ, chương trình hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước và kết quả hoạt động ngân hàng. Bên cạnh các phương thức truyền thống, các ngân hàng đẩy mạnh thông tin truyền thông trên mạng xã hội như Fanpage, Facebook, Zalo… góp phần truyền tải thông tin nhanh nhất đến người dân, doanh nghiệp. Phối hợp với báo Thái Nguyên tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phối hợp tuyên truyền giai đoạn 2021 - 2023, triển khai công tác phối hợp trong thời gian tới. Theo đó, báo Thái Nguyên đã đăng tải trên 200 tin, bài, ảnh, video clip... (tăng khoảng 20% so với trước khi kí quy chế phối hợp) tuyên truyền các hoạt động của ngành Ngân hàng nói chung, hoạt động của các TCTD trên địa bàn nói riêng trên tất cả các loại hình, ấn phẩm của báo Thái Nguyên.

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, các ngân hàng trên địa bàn tiếp tục thực hiện các hoạt động an sinh xã hội với tổng số tiền trên 100 tỉ đồng như: Xây dựng phòng học, trao quà cho các đối tượng chính sách xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, xây nhà tình nghĩa, hỗ trợ xây dựng trường học, tài trợ kinh phí làm nhà ở cho các gia đình hộ nghèo, gia đình chính sách tại tỉnh Thái Nguyên... Trong đó: Thực hiện các nội dung tại Biên bản ghi nhớ của Văn phòng Quốc hội ngày 18/02/2022 có 05 NHTM gồm: NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt nam (Vietcombank) và NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã hỗ trợ xây dựng các công trình trường học trên địa bàn huyện Định Hóa với tổng số tiền là 92,4 tỉ đồng. Ngoài ra, Agribank tỉnh Thái Nguyên và NHCSXH tỉnh Thái Nguyên tiếp tục ưu tiên nguồn vốn cho vay trên địa bàn huyện Định Hóa theo Đề án xây dựng huyện Định Hóa đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2023.

Hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Nguyên năm 2023 đã đóng góp tích cực vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và được Lãnh đạo Tỉnh ủy, Đoàn Đại biểu quốc hội, HĐND, UBND tỉnh ghi nhận, đánh giá cao.

2. Định hướng hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2024

Năm 2024, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục đối mặt với các thách thức khi cầu thế giới chưa phục hồi mạnh. Phát huy kết quả đã đạt được năm 2023, bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Thực hiện mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung nguồn vốn cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên. Phấn đấu tăng trưởng tín dụng đạt 12% theo kế hoạch của UBND tỉnh Thái Nguyên đã đề ra, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Hai là, thường xuyên trao đổi thông tin với các đơn vị đã kí quy chế phối hợp. Tham gia tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên và kì họp HĐND tỉnh để tiếp thu, giải trình những vấn đề cử tri quan tâm, kiến nghị. Phân tích tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động ngân hàng trên địa bàn để báo cáo, đề xuất với Đoàn Đại biểu Quốc hội, với Thường trực HĐND, UBND tỉnh và NHNN về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.

Ba là, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lí nợ xấu; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các TCTD đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả. Các TCTD triển khai nghiêm túc các kết luận thanh tra của NHNN.

Bốn là, chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, cải tiến thủ tục, quy trình, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng với khách hàng, tập trung tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các lĩnh vực tạo động lực phát triển cho nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, các giải pháp phát triển thị trường bất động sản an toàn, lành mạnh, bền vững và các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH.

Năm là, đảm bảo việc thanh toán của các TCTD, cung ứng đầy đủ nhu cầu tiền mặt trên địa bàn cả về số lượng và cơ cấu mệnh giá. Thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng; đẩy mạnh TTKDTM; đảm bảo an toàn công nghệ thông tin và hoạt động thanh toán. Tiếp tục triển khai kết nối, khai thác thông tin dân cư tại Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư.

Sáu là, tuyên truyền kịp thời các quy định của pháp luật, các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của dư luận xã hội đối với hoạt động ngân hàng.

TS. Bùi Văn Khoa
Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng