Hiệu quả 20 năm thực hiện tín dụng chính sách xã hội tại Trà Vinh

Hoạt động ngân hàng
Trà Vinh là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích tự nhiên 2.295 km² với hơn 65 km chiều dài bờ biển. Dân số toàn tỉnh trên 1,1 triệu người với 287 nghìn hộ; trong đó, dân tộc Khmer là trên 373 nghìn người, chiếm tỷ lệ gần 34%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 chiếm 3,56% với 10.207 hộ nghèo; trong đó, 6.478 hộ nghèo người dân tộc Khmer, chiếm 63,47%; 17.215 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 6%.
aa

Trà Vinh là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích tự nhiên 2.295 km² với hơn 65 km chiều dài bờ biển. Dân số toàn tỉnh trên 1,1 triệu người với 287 nghìn hộ; trong đó, dân tộc Khmer là trên 373 nghìn người, chiếm tỷ lệ gần 34%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 chiếm 3,56% với 10.207 hộ nghèo; trong đó, 6.478 hộ nghèo người dân tộc Khmer, chiếm 63,47%; 17.215 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 6%. 20 năm qua, nhờ tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Chi nhánh tỉnh Trà Vinh, đời sống vật chất, tinh thần của nhiều hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đã có những đổi thay rõ rệt.


Cán bộ NHCSXH huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh hướng dẫn người dân làm thủ tục vay vốn tín dụng ưu đãi

Hành trình 20 năm song hành cùng người nghèo

NHCSXH Chi nhánh tỉnh Trà Vinh được thành lập theo Quyết định số 75/QĐ-HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH, với nhiệm vụ được giao là thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ. Xuyên suốt 20 năm qua, mặc dù thực hiện công tác giảm nghèo trong bối cảnh bộn bề khó khăn nhưng với sự nỗ lực không ngừng nghỉ, công tác triển khai tín dụng chính sách xã hội tại tỉnh Trà Vinh đã thực hiện tốt những mục tiêu mà Đảng bộ, chính quyền tỉnh Trà Vinh đã đề ra là: Tập trung nguồn lực trong công tác giảm nghèo; nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách; tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại; huy động lực lượng toàn xã hội tham gia vào công tác giảm nghèo, góp phần hạn chế hoạt động tín dụng đen, đóng góp thiết thực vào công tác giảm nghèo, an sinh xã hội, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Qua 20 năm triển khai thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ, từ 02 chương trình tín dụng chính sách được bàn giao ban đầu, đến nay, NHCSXH tỉnh Trà Vinh đã thực hiện 17 chương trình tín dụng phát huy hiệu quả với doanh số cho vay đạt hơn 10.567 tỷ đồng, giải ngân cho 766.580 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách; tổng doanh số thu nợ đạt hơn 7.165 tỷ đồng. Tổng dư nợ đến ngày 31/8/2022 đạt hơn 3.455 tỷ đồng, tăng hơn 3.371 tỷ đồng so với thời điểm nhận bàn giao, tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm khoảng 10%; dư nợ bình quân 28,35 triệu đồng/hộ. Các chương trình tín dụng ưu đãi do NHCSXH thực hiện trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đã được đầu tư đến 100% ấp, khóm trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách có nhu cầu, đủ điều kiện được tiếp cận vốn tín dụng chính sách một cách thuận lợi, kịp thời; qua đó, đã giúp cho 220.980 lượt hộ nghèo được vay vốn, góp phần giảm trên 138 nghìn hộ thoát nghèo; thu hút tạo việc làm cho 100.126 lao động; giúp 34.592 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; hỗ trợ xây mới và cải tạo 111.307 công trình nước sạch vệ sinh môi trường ở nông thôn; hỗ trợ xây dựng 36.443 căn nhà cho hộ nghèo...

Trong 20 năm qua, nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Trà Vinh không ngừng tăng trưởng, ngày càng đáp ứng được tốt hơn nhu cầu vay vốn của hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cơ cấu nguồn vốn có sự chuyển dịch từ nguồn vốn Trung ương sang nguồn vốn địa phương, nhất là sự tăng lên đáng kể của nguồn vốn ngân sách tỉnh, ngân sách huyện ủy thác sang NHCSXH để cho vay, thể hiện sự quan tâm, vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương trong triển khai các chương trình tín dụng chính sách xã hội.

Tổng nguồn vốn đến ngày 31/8/2022 đạt hơn 3.463 tỷ đồng, tăng hơn 3.375 tỷ đồng so với thời điểm mới thành lập. Trong đó: Nguồn vốn từ Trung ương là hơn 2.728 tỷ đồng, tăng hơn 2.640 tỷ đồng (tăng gấp 30 lần) so với năm 2003, chiếm 78,77% trên tổng nguồn vốn; nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương là hơn 330 tỷ đồng, tăng 100% so với năm 2003, chiếm 9,54% trên tổng nguồn vốn; nguồn vốn huy động theo lãi suất thị trường được Trung ương cấp bù chênh lệch lãi suất là hơn 405 tỷ đồng, chiếm 11,69% trên tổng nguồn vốn.

Cùng với các chương trình tín dụng chính sách đang triển khai thực hiện, ngay đầu năm 2022, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Trà Vinh đã triển khai cho vay kịp thời các chương trình tín dụng chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình. Đây có thể nói là chiếc phao cứu sinh giúp cho doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh ổn định cuộc sống, yên tâm sản xuất, giúp cho người lao động duy trì được việc làm, tăng nguồn thu nhập trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 hết sức phức tạp, khó lường.

Để chuyển tải nguồn vốn tín dụng chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, tiết giảm chi phí quản lý..., NHCSXH đã thực hiện phương thức cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung công việc thông qua 04 tổ chức chính trị - xã hội gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Thông qua hoạt động ủy thác, các tổ chức chính trị - xã hội đã giúp NHCSXH thực hiện được chủ trương công khai hóa, dân chủ hóa và xã hội hóa hoạt động tín dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước, giúp cho người dân tiếp cận nguồn vốn vay thuận tiện, nhanh chóng.

Tính đến ngày 31/8/2022, tổng dư nợ ủy thác cho vay qua 04 tổ chức chính trị - xã hội đạt hơn 3.391 tỷ đồng, với 120.864 khách hàng đang dư nợ, chiếm 98,1% tổng dư nợ tín dụng chính sách đang triển khai tại NHCSXH.

Phương thức ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội thể hiện tính ưu việt riêng có của NHCSXH, đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để chuyển tải nguồn vốn tín dụng chính sách của Nhà nước, giúp trên 766 nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo. Cùng với mô hình tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), phương thức ủy thác đã gắn kết ngân hàng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội và tổ TK&VV chung tay giúp người nghèo và các đối tượng chính sách, lồng ghép hiệu quả các chương trình tín dụng với các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả vốn tín dụng chính sách.

Bên cạnh đó, nhằm giúp người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận kịp thời, thuận lợi chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, NHCSXH Chi nhánh tỉnh Trà Vinh đã mở 106 điểm giao dịch xã, phường, thị trấn và tại trụ sở. Hằng tháng, NHCSXH tỉnh Trà Vinh thực hiện giao dịch theo lịch cố định 01 ngày/tháng, kể cả ngày thứ bảy, chủ nhật, các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến tín dụng chính sách như thu nợ, thu lãi, cho vay, huy động vốn... đều được thực hiện tại điểm giao dịch xã. Tại các điểm giao dịch đều được niêm yết công khai các chương trình cho vay, danh sách hộ vay vốn, bộ thủ tục giải quyết công việc, hòm thư góp ý, số điện thoại đường dây nóng... để người dân dễ dàng tìm hiểu và đóng góp ý kiến.

Mô hình điểm giao dịch xã chính là một bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính và là một đặc thù riêng có của NHCSXH với cách thức “phục vụ tại nhà, giải ngân, thu nợ tại xã” đã và đang phát huy hiệu quả rất tích cực trong hoạt động của NHCSXH, mô hình này đã giúp chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với người nghèo và các đối tượng chính sách khác được kịp thời, nhanh chóng và hiệu quả nhất, tiết giảm chi phí đi lại cho người dân, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận và làm quen với các dịch vụ ngân hàng, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương đối với hoạt động tín dụng chính sách tại địa bàn, là nơi để NHCSXH, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ TK&VV đồng hành cùng với người vay để quản lý vốn vay hiệu quả.

Người nghèo có cuộc sống ấm no nhờ vay vốn tín dụng chính sách xã hội

Hộ chị Nguyễn Thị Tiễn, ngụ tại ấp 7A, xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh có hoàn cảnh rất khó khăn, không có vốn để sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình. Năm 2020, nhờ được tiếp cận nguồn vốn cho vay hộ nghèo từ NHCSXH huyện Càng Long với số tiền 50 triệu đồng, chị Tiễn đã tính toán đầu tư mua bò sinh sản và làm chuồng trại. Trong quá trình chăn nuôi, chị Tiễn gặp không ít khó khăn do nguồn thức ăn, dịch bệnh, giá cả thường xuyên lên xuống làm cho kinh tế của gia đình cũng bị thiệt hại. Nhưng nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự cần cù lao động, thường xuyên tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm về chăn nuôi cũng như sự quan tâm của Hội Phụ nữ xã An Trường, sự tin tưởng của NHCSXH huyện Càng Long giải ngân vốn vay để gia đình chị phát triển kinh tế nên việc chăn nuôi của gia đình chị đã có thuận lợi hơn, đàn bò ngày một sinh trưởng cho gia đình chị nguồn thu nhập ổn định. Hằng tháng, chị Tiễn dành ra 01 triệu đồng để đóng lãi và gửi tiết kiệm, đồng thời lên kế hoạch trả nợ hằng năm theo thỏa thuận đã ký kết với ngân hàng.


Mô hình nuôi bò sinh sản nhờ vốn vay NHCSXH giúp người nghèo tỉnh Trà Vinh có thu nhập, nâng cao đời sống, thoát nghèo bền vững

Bên cạnh việc chăn nuôi, năm 2022, chị Tiễn còn được vay vốn xây dựng nhà ở theo Nghị quyết số 04/2021/NQ-HĐND ngày 01/3/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Trà Vinh quy định về chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021 - 2025 số tiền là 50 triệu đồng. Từ ngôi nhà tranh, vách lá đơn sơ, với số tiền được vay, chị xây dựng căn nhà ở ổn định, giúp gia đình yên tâm tập trung phát triển kinh tế, từng bước nâng cao mức sống, đảm bảo cho hai con nhỏ học lớp 7 và lớp 8 tiếp tục học hành.

Chị Tiễn trải lòng: “Nếu không có đồng vốn vay ưu đãi từ NHCSXH không biết bây giờ hoàn cảnh gia đình tôi như thế nào? Tôi nhận thấy chương trình cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo của NHCSXH đã thực sự phát huy vai trò, tác động tích cực về mặt đời sống xã hội, có tác động quan trọng đối với việc đảm bảo an sinh - xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân nói chung và bản thân tôi nói riêng”.

Trường hợp gia đình anh Kim Thắng ở ấp Thốt Lốt, xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh có 04 thành viên, thu nhập chủ yếu từ trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi. Những năm qua, do tình hình thời tiết thay đổi bất thường, đặc biệt là dịch Covid-19 bùng phát mạnh làm giá cả các mặt hàng nông sản không ổn định, các vụ sản xuất của gia đình đều bị thua lỗ, kinh tế gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, vợ chồng anh Thắng luôn động viên nhau, phấn đấu vươn lên, đặc biệt là quyết tâm tìm cách, tạo mọi điều kiện để hai con được tiếp tục học tập.

Năm 2011, cô con gái lớn nhận giấy báo trúng tuyển vào Trường Ðại học Trà Vinh đem niềm vui, hạnh phúc đến cho gia đình, nhưng bên cạnh đó là sự lo lắng vì chi phí học tập khá cao. May mắn, gia đình anh Thắng được Hội Nông dân xã Ngũ Lạc tạo điều kiện tiếp cận vay vốn chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn từ NHCSXH, nhờ đó, con gái anh đã thực hiện được ước mơ học đại học.

Tiếp đó, đến năm 2015, gia đình anh Thắng tiếp tục được vay vốn chương trình học sinh, sinh viên từ NHCSXH huyện Duyên Hải để cô con gái thứ hai viết tiếp chặng đường học đại học. Năm 2019, sau khi tốt nghiệp ra trường, cô con gái thứ hai được NHCSXH huyện Duyên Hải cho vay vốn đi xuất khẩu lao động. Hiện tại, người con lớn của gia đình đã ra trường và làm việc tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ tỉnh Trà Vinh, còn người con thứ hai đang làm việc tại Nhật Bản với mức thu nhập ổn định hơn 30 triệu đồng/tháng.

Ngoài ra, năm 2021, NHCSXH tiếp tục tạo điều kiện cho anh Thắng vay vốn hỗ trợ tạo việc làm giúp gia đình anh có vốn làm ăn phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu.

Anh Thắng chia sẻ, sự thành đạt của các con anh ngày nay là nhờ có sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương. Đặc biệt là sự quan tâm, tạo điều kiện của NHCSXH huyện Duyên Hải đã giúp cho gia đình anh Thắng được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, giảm bớt gánh nặng, chi phí trong học tập, giúp các con được học thành tài, có việc làm ổn định, có thu nhập để nuôi sống bản thân và trả nợ cho ngân hàng đầy đủ. Anh Thắng mong muốn có nhiều người dân được tiếp cận các chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi, đặc biệt là chương trình cho vay học sinh, sinh viên để tạo điều kiện cho các em có hoàn cảnh khó khăn được nâng cao kiến thức, trình độ, tay nghề, góp phần cùng địa phương thực hiện tốt công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Còn như gia đình chị Sơn Thị Nguyên, ngụ tại khóm 6, phường 8, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh thuộc diện hộ nghèo với 06 nhân khẩu, gồm hai vợ chồng và bốn người con. Vợ chồng chị làm nghề nông nhưng sức khỏe kém, ốm đau liên miên, do đó, gia đình chị lúc nào cũng thiếu trước hụt sau.

Năm 2013, chị được Hội Phụ nữ và tổ TK&VV khóm 6, phường 8 bình xét và hướng dẫn hồ sơ, thủ tục vay vốn chương trình hộ nghèo với số tiền là 14 triệu đồng từ nguồn vốn NHCSXH tỉnh Trà Vinh giao cho Hội Phụ nữ quản lý. Với nguồn vốn vay này, gia đình chị như gặp được phao cứu sinh, tính toán, bàn bạc mua 01 con bò sinh sản về nuôi, hai năm sau đã có nghé con. Đàn bò sinh trưởng và tăng lên theo năm tháng, gia đình chị Nguyên cũng đã lựa chọn bán một số bò thịt để trang trải chi phí sinh hoạt của gia đình, một phần để sửa chữa lại nhà ở, nuôi các con ăn học, nhờ đó, cuộc sống gia đình chị Nguyên đã bớt khó khăn. Năm 2018, gia đình chị đã thoát nghèo.

Đến năm 2020, do có nhu cầu mở rộng chăn nuôi nên gia đình chị đã đề nghị và được vay 30 triệu đồng chương trình hộ mới thoát nghèo tiếp tục đầu tư mua bò sinh sản và sửa chữa lại chuồng trại. Với ý thức phải chịu thương, chịu khó, ham làm, từ những ngày đầu được vay vốn NHCSXH, hiện tại, gia đình chị Nguyên đang sở hữu đàn bò lên tới 10 con, đảm bảo mức sống cho gia đình.

Chị Nguyên rất biết ơn Đảng, Nhà nước, chính quyền và ban, ngành, đoàn thể tại địa phương và đặc biệt là cán bộ NHCSXH tỉnh Trà Vinh đã quan tâm, thấu hiểu bà con nghèo như gia đình chị, luôn tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn rất tận tình, giải ngân đồng vốn nhanh chóng để bà con nghèo có vốn sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm ổn định, vươn lên thoát nghèo bền vững.

Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ từ những hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh là minh chứng cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng chính sách xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; là “điểm sáng” và là một trong những “trụ cột” trong các chính sách giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Trà Vinh trong 20 năm qua. Đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã khẳng định sự đúng đắn, hiệu quả trong việc duy trì và phát triển mô hình tổ chức, phương thức quản lý tín dụng với tính ưu việt và những đặc thù riêng có của NHCSXH.


Mai Phương Chi (Hà Nội)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành