Hệ thống tiền tệ trong tương lai

Hoạt động ngân hàng
Trung tâm của hệ thống tiền tệ là ngân hàng trung ương (NHTW), với vai trò phát hành tiền và duy trì những chức năng cốt lõi. Tuy nhiên, NHTW không hoạt động đơn độc mà có sự phân chia lao động với các ngân hàng thương mại và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán (Payment Service Providers - PSPs) - triển khai hàng loạt quy trình thanh toán cơ bản và cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng. Sự phân công vai trò này đã tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng với sự tham gia đầy nhiệt huyết và sáng tạo của khu vực tư nhân vào việc cung cấp dịch vụ thanh toán.
aa

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho biết1, thế giới ghi nhận trên 2 tỷ lượt giao dịch điện tử được thực hiện mỗi ngày, chủ yếu là để thanh toán hàng hóa - dịch vụ, gửi tiền, cho vay và tham gia nhiều giao dịch tài chính khác. Khi tham gia giao dịch điện tử, người sử dụng lệ thuộc vào hệ thống tiền tệ - tập hợp các định chế và trung gian tài chính hỗ trợ nghiệp vụ trao đổi tiền tệ.


Trung tâm của hệ thống tiền tệ là ngân hàng trung ương (NHTW), với vai trò phát hành tiền và duy trì những chức năng cốt lõi. Tuy nhiên, NHTW không hoạt động đơn độc mà có sự phân chia lao động với các ngân hàng thương mại và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán (Payment Service Providers - PSPs) - triển khai hàng loạt quy trình thanh toán cơ bản và cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng. Sự phân công vai trò này đã tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng với sự tham gia đầy nhiệt huyết và sáng tạo của khu vực tư nhân vào việc cung cấp dịch vụ thanh toán. Thực tế cho thấy, đổi mới trong khu vực tư nhân đã mang lại lợi ích cho xã hội nhờ được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc của NHTW.

Với trung tâm là NHTW, hệ thống tiền tệ của thế giới đã đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, đổi mới điện tử đang mở rộng ranh giới về khả năng của công nghệ, đặt ra những đòi hỏi mới đối với hệ thống tiền tệ.

Những sáng kiến đổi mới lớn như trong thế giới tiền ảo, đã kéo theo khuynh hướng cấp tiến. Trong khi đó, thế giới tiền ảo được xây dựng dựa trên tiền đề phân cấp, không lệ thuộc vào tiền NHTW và các trung gian tin cậy. Tài chính phi tập trung (DeFi) tìm cách mô phỏng (sao chép) dịch vụ tài chính thông thường vào thế giới tiền ảo. Những dịch vụ này được hỗ trợ bởi đổi mới như khả năng lập trình và tương tác trên nền tảng chuỗi khối không cần cấp phép (chuỗi khối mở), cho phép tiến hành các giao dịch 24/7 trên phạm vi toàn cầu.

Tuy nhiên, những sự kiện gần đây bộc lộ sự khác biệt khá lớn giữa tầm nhìn và thực tế tiền ảo. Sự kiện TerraUSD stablecoin và coin Luna song sinh sụp đổ cho thấy, những yếu kém của hệ thống chỉ duy trì bằng cách bán coin cho hoạt động đầu cơ. Ngoài ra, một vấn đề trở nên rõ ràng là, tiền ảo và DeFi có những hạn chế rất lớn về mặt cơ cấu - nó cản trở hệ thống này trong việc đạt được mức độ hiệu quả, tính ổn định hay vẹn toàn cần thiết đối với một hệ thống tiền tệ thích hợp. Cụ thể là, thế giới tiền ảo thiếu “mỏ neo” danh nghĩa, mặc dù nó cố gắng nhập khẩu thông qua stablecoins, nhưng không hiệu quả. Nếu không đảm bảo an ninh mạng, việc áp dụng có xu hướng phân đoạn và không thể tiến triển được, nguyên nhân là do tình trạng tắc nghẽn và mức phí quá cao. Thay vào đó, hoạt động của hệ thống song song này được duy trì nhờ làn sóng đầu cơ nắm giữ coin. Cuối cùng, nhiều vấn đề đáng lo ngại về vai trò của các trung gian không được điều chỉnh trong hệ thống này. Do rất khó thay đổi, những khiếm khuyết cơ cấu này dường như không thể đáp ứng quy định pháp lý, chưa nói đến những điều chỉnh mang tính kỹ thuật. Nguyên nhân là do nó phản ánh những hạn chế cố hữu của một hệ thống phân cấp được thiết lập dựa trên các chuỗi khối mở.

Trở lại với hiệu ứng mạng lưới, tiền điện tử của NHTW (CBDCs) và hệ thống thanh toán nhanh (FPS) được đánh giá là phục vụ tốt lợi ích cộng đồng nhờ có nhiều thuận lợi và chi phí thấp, trong khi vẫn duy trì được tính vẹn toàn của hệ thống. Công nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology - DLT) cũng có thể đóng vai trò tích cực, như khi các NHTW cùng phối hợp trong việc sắp xếp multi-CBDC. Hành lang thanh toán mới này tương xứng đầy đủ với khả năng lập trình, tương tác và mã hóa để hỗ trợ các hoạt động thanh toán an toàn, hiệu quả với chi phí thấp, cả ở trong nước và qua biên giới. Theo hướng này, hệ thống tiền tệ trong tương lai sẽ thích ứng, cho phép khu vực tư nhân phát huy sáng kiến và đổi mới, trong khi tránh được nguy cơ thoái trào tiền ảo. Những sáng kiến này có thể sẽ mở ra chương mới về hệ thống tiền tệ toàn cầu.

Yêu cầu đối với hệ thống tiền tệ

Về khái niệm, hệ thống tiền tệ là tập hợp các định chế và cách thức tổ chức để hỗ trợ trao đổi tiền tệ. Để đảm bảo an toàn và ổn định hệ thống, tiền phải thực hiện được ba chức năng cơ bản: Là đơn vị kế toán; phương tiện trao đổi; và tích trữ giá trị.

Hệ thống tiền tệ phải hoạt động hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện các giao dịch thanh toán một cách nhanh chóng và chi phí thấp. Cần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ thanh toán cơ bản với chi phí hợp lý, nhất là các tài khoản giao dịch, góp phần lan tỏa lợi ích của các hoạt động kinh tế và thúc đẩy phổ cập tài chính. Ngoài ra, hệ thống tiền tệ phải bảo vệ quyền riêng tư và cho phép người dùng kiểm soát các dữ liệu tài chính của họ. Hệ thống tiền tệ cũng cần bảo vệ tính vẹn toàn hệ thống, bằng cách chống lại những hoạt động phi pháp như rửa tiền, gian lận và tài trợ khủng bố. Ngoài ra, hệ thống tiền tệ cần tiến triển theo những thay đổi mang tính cơ cấu trong nền kinh tế và hoạt động xã hội. Nói ngắn gọn, hệ thống tiền tệ phải có khả năng thích ứng, đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai; phải hòa hợp với những thay đổi về công nghệ và đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và cá nhân, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới. Để phục vụ một thế giới ngày càng hội nhập và kết nối, hệ thống tiền tệ phải là hệ thống mở, linh hoạt, có khả năng tương tác cả ở trong nước và qua biên giới.

Hệ thống tiền tệ ngày nay đang hướng tới những mục tiêu trên, nhưng vẫn còn một số việc cần làm. Những thay đổi về nhu cầu của người dùng và sự chuyển dịch đồng thời về công nghệ đã chỉ ra những lĩnh vực cần cải thiện. Hiện nay, dịch vụ thanh toán đôi khi còn cồng kềnh và chi phí cao, một phần là do thiếu cạnh tranh. Thanh toán qua biên giới quá đắt đỏ, mập mờ và chậm chạp, thường đòi hỏi có sự tham gia của một số ngân hàng để dàn xếp một giao dịch, sử dụng những sổ cái được thiết lập dựa trên công nghệ khác nhau. Ngoài ra, một tỷ trọng lớn số người trưởng thành chưa tiếp cận được các công cụ thanh toán điện tử, kể cả tại các nước phát triển. Trong khi đó, nền kinh tế số tiến triển không ngừng, và đòi hỏi hệ thống tiền tệ cho phép mọi người thực hiện các giao dịch tài chính trong nước và quốc tế một cách an toàn, lành mạnh và hiệu quả.

Bài học rút ra từ tiền ảo

Về tổng thể, khu vực tiền ảo mở ra tia hy vọng về khả năng công nghệ đầy hứa hẹn, nhưng không thể hoàn tất được các mục tiêu rất cao của hệ thống tiền tệ số hóa. Nó bị thiệt hại từ những thiếu sót cố hữu về tính ổn định, hiệu quả, trách nhiệm giải trình và nhất quán (vẹn toàn) - những hạn chế này chỉ được khắc phục phần nào thông qua việc hoàn thiện các quy định quản lý và điều chỉnh. Về cơ bản, tiền ảo và stablecoins dẫn đến một hệ thống tiền tệ phân đoạn và mong manh. Trầm trọng hơn, những khiếm khuyết này bắt nguồn từ các động cơ kinh tế, chứ không bắt nguồn từ yêu cầu kỹ thuật bắt buộc. Những nhược điểm này vẫn tồn tại, thậm chí khi các quy định điều chỉnh và giám sát xử lý những vấn đề về bất ổn tài chính và rủi ro thiệt hại tiềm tàng về tiền ảo.

Nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở chỗ thúc đẩy các chức năng bổ ích như khả năng lập trình, tương tác và mã hóa, mà xây dựng và củng cố nó trên những nền tảng an toàn hơn, qua đó có thể tận dụng vòng tròn tích cực của các hiệu ứng mạng lưới. Các NHTW có thể cung cấp những nền tảng cơ bản này và đang hoạt động tích cực để định hình hệ thống tiền tệ trong tương lai. Để phục vụ lợi ích cộng đồng, các NHTW đang nắm bắt những cấu thành tốt nhất của công nghệ mới và tăng cường các nỗ lực để điều chỉnh thế giới tiền ảo và khắc phục những hạn chế trước mắt của nó.

Tầm nhìn của hệ thống tiền tệ tương lai

Trong tương lai, hệ thống tiền tệ có thể kết hợp các năng lực công nghệ mới mà tiền NHTW là hạt nhân. Bắt nguồn từ niềm tin vào tiền tệ, có thể thu được lợi ích của công nghệ số tiên tiến thông qua khả năng tương tác và hiệu ứng mạng lưới, cho phép các hệ thống thanh toán phục vụ nền kinh tế thực. Vì thế, hệ thống này có thể thích ứng với những nhu cầu mới phát sinh - trong khi đảm bảo tính riêng biệt của đồng tiền trong các hoạt động hiện đại và sáng tạo.

NHTW có bốn vai trò quan trọng: (i) Phát hành tiền NHTW (M0) - đơn vị kế toán trong nền kinh tế; (ii) Cung cấp phương tiện thanh toán cuối cùng bằng cách sử dụng bảng cân đối kế toán; (iii) Đảm bảo đủ lượng thanh khoản cần thiết để hệ thống thanh toán vận hành thông suốt; (iv) Bảo vệ tính vẹn toàn của hệ thống thanh toán thông qua các công cụ quản lý, điều hành, giám sát hệ thống ngân hàng.

Hệ thống tiền tệ trong tương lai sẽ được hình thành dựa vào những vai trò trên đây của NHTW nhằm phân phối quy mô đầy đủ về năng lực của tiền NHTW và các loại hình dịch vụ mới. Những ứng dụng mới của tư nhân sẽ được vận hành dựa trên M0 (chứ không phải stablecoins) - như CBDCs bán buôn, bán lẻ và thông qua FPS bán lẻ được lựa chọn trong bảng cân đối kế toán của NHTW. Vì thế, những sáng kiến mới của NHTW có thể hỗ trợ hàng loạt hoạt động mới.

Các cấu thành của hệ thống tiền tệ tương lai

Hệ thống tiền tệ trong tương lai sẽ được hình thành dựa trên việc phân chia vai trò giữa NHTW và các thực thể tư nhân (cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng). Đứng đầu trong việc phân công lao động truyền thống này là những tiêu chuẩn mới như các giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interfaces - APIs) - đóng vai trò thúc đẩy khả năng tương tác dịch vụ và hiệu ứng mạng lưới liên quan. Tiếp theo là năng lực của công nghệ tiên tiến, bao gồm khả năng lập trình, tương tác và mã hóa - đây là những yếu tố liên quan với thế giới tiền ảo.

Tầm nhìn này bao gồm các cấu thành bán buôn và bán lẻ, tạo điều kiện hình thành những đặc tính mới.

Ở cấp bán buôn, CBDCs có thể cung cấp năng lực mới và cho phép thực hiện giao dịch giữa các định chế tài chính - đây là những giao dịch vượt quá phương tiện dự trữ truyền thống của NHTW. Dựa trên công nghệ DLT, các giao dịch bán buôn CBDCs được tiến hành tự động theo lập trình đề ra. Nó cho phép phối hợp và xử lý vô số chức năng khác nhau, tạo thuận lợi cho việc dàn xếp các giao dịch. Những năng lực mới này không chỉ cho phép mở rộng các loại hình giao dịch, mà còn tạo điều kiện tiến hành các giao dịch giữa hàng loạt trung gian tài chính. CBDCs bán buôn cũng hoạt động phối hợp qua biên giới, thông qua việc sắp xếp các CBDC đa dạng, bao gồm nhiều NHTW và đồng tiền khác nhau.

Trong chức năng mới của CBDCs bán buôn, phải kể đến một bộ ứng dụng mới - được hình thành từ việc mã hóa bí mật dữ liệu tiền gửi (M1) và những dạng thức khác của đồng tiền trong mạng lưới DLT. Vai trò của các trung gian trong việc dàn xếp các giao dịch là một trong những thuận lợi cơ bản trong lịch sử đồng tiền, tìm ra cội nguồn về vai trò của ngân hàng ký thác tại châu Âu trong lịch sử NHTW. Tiền gửi ngân hàng được sử dụng làm phương tiện thanh toán giữa bên gửi tiền và bên nhận tiền. Việc mã hóa tiền gửi sử dụng nguyên lý này và diễn giải nghiệp vụ DLT bằng cách mã hóa tiền gửi trên nền tảng DLT và sắp xếp tiền gửi này theo phương pháp phân cấp; có thể hỗ trợ những phương thức trao đổi mới, bao gồm chứng khoán và tài sản thực, cho phép mở rộng các loại hình dịch vụ tài chính mới ngoài phạm vi thanh toán.

Ở cấp bán lẻ, nhờ cải tiến năng lực, các trung gian tài chính đã cải thiện khả năng tương tác giữa các nền tảng dịch vụ khách hàng. Trọng tâm của khả năng tương tác này là APIs, cho phép người dùng một nền tảng dịch vụ nào đó dễ dàng giao tiếp và truyền lệnh sang nền tảng dịch vụ kết nối khác.

Cụ thể là, FPS bán lẻ tạo ra đặc điểm cốt lõi khác của hệ thống tiền tệ trong tương lai. FPS bán lẻ là hệ thống mà việc truyền tải tin nhắn thanh toán và nguồn tài chính có sẵn trong hệ thống này có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán tại mọi thời điểm trong ngày, phần lớn do NHTW vận hành. CBDCs bán lẻ là một chủng loại CBDC, mà các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận trực tiếp. Cả CBDCs và FPS đều cho phép thực hiện thanh toán tức thì giữa các khách hàng cuối cùng, thông qua hàng loạt giao diện PSP tư nhân. Vì thế, nó được thiết lập trong hệ thống NHTW hai cấp và PSP tư nhân. CBDCs và FPS chia sẻ nhiều đặc tính cốt lõi tiếp theo, và vì thế được cho là sẽ nằm trong bảng biến thiên. Cả hai được hỗ trợ bởi cấu trúc dữ liệu với nhận dạng điện tử và APIs, cho phép trao đổi dữ liệu một cách an toàn, và người dùng có thể kiểm soát các dữ liệu tài chính. Bằng cách cung cấp nền tảng mở, CBDCs khuyến khích cạnh tranh và nâng cao năng lực giữa PSPs trong khu vực tư nhân, góp phần giảm chi phí dịch vụ thanh toán và tăng cường phổ cập tài chính số cho những khách hàng chưa tiếp cận được với thanh toán điện tử.

Ẩn dụ về hệ thống tiền tệ tương lai

Biểu tượng của hệ thống tiền tệ tương lai là một cây mà thân của nó là NHTW, tượng trưng cho sự hỗ trợ vững chắc của NHTW và nguyên lý hình thành hệ thống tiền tệ này.

Hệ thống tiền tệ dựa trên tiền NHTW hỗ trợ việc đa dạng hóa các chức năng và hệ sinh thái của những người tham gia; trong hệ sinh thái này, PSPs tư nhân thể hiện khả năng sáng tạo riêng có trong dịch vụ khách hàng. Trong đó, lợi ích cơ bản là vòng tròn hiệu ứng mạng lưới sẽ được hình thành từ cấu trúc dữ liệu này, bao gồm nhận dạng điện tử và APIs, cho phép tương tác trong nước và qua biên giới.

Với phép ẩn dụ này, hệ thống tiền tệ toàn cầu được ví như một khu rừng, mà tán rừng sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động tiền tệ qua biên giới. Dưới tán rừng này, kết cấu hạ tầng như các nền tảng multi-CBDC là những cấu thành mới trong hệ thống.

Đổi mới sẽ tiến triển không ngừng, và cây không thể duy trì hệ sinh thái sôi động nếu thân cây không to khỏe, đây là điều kiện tiên quyết để đổi mới tư nhân và phục vụ lợi ích chung. Công việc đang diễn ra tại các NHTW là chỉ ra cách thức mà kết cấu hạ tầng công có thể cải tiến hệ thống thanh toán, tận dụng những lợi thế của đồng tiền số. Trong hoạt động ngân hàng mở, các nỗ lực tiếp tục cải cách CBDCs (cả bán buôn và bán lẻ), FPS và những cải cách khác cho thấy cách thức mà các NHTW có thể hỗ trợ nâng cao khả năng tương tác và quản trị dữ liệu. Trong việc đáp ứng lợi ích chung, NHTW không thực hiện đơn lẻ, mà phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan và khu vực tư nhân.

CBDCs bán buôn và đồng tiền mã hóa

CBDC là công cụ thanh toán điện tử, đặc trưng cho đơn vị kế toán quốc gia, và thể hiện nghĩa vụ trực tiếp của NHTW. Gần đây, các mối quan tâm tập trung vào CBDCs bán lẻ, mà các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận. Tuy nhiên, CBDCs bán buôn cũng đưa ra những chức năng mới về thanh toán và giới thiệu tới nhiều trung gian tài chính hơn so với các ngân hàng thương mại, có thể tạo ra những cơ hội rất lớn để triển khai những sáng kiến mới của khu vực tư nhân trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. CBDCs bán buôn có thể cho phép các trung gian tài chính tiếp cận những năng lực tài chính mới mà không cần đến tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại gửi tại NHTW. Đây là thuận lợi đặc biệt đối với các mạng lưới DLT, mà người tham gia mạng lưới phân cấp có thể tiếp cận sổ cái chia sẻ.

Một lợi ích của CBDCs bán buôn là, có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều trung gian hơn so với các ngân hàng thương mại trong nước. Việc cho phép PSPs phi ngân hàng giao dịch CBDC có thể nâng cao tính cạnh tranh và sôi động hơn.

CBDCs bán lẻ và FPS

CBDCs bán lẻ và FPS bán lẻ có nhiều điểm tương đồng: CBDCs bán lẻ chuẩn bị sẵn lượng tiền điện tử NHTW cho các cá nhân và doanh nghiệp, trong đó các ngân hàng và PSPs phi ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán bán lẻ cho khách hàng. Điểm khác biệt cơ bản so với FPS là, CBDCs là công cụ mà NHTW có trách nhiệm cung cấp. Vì thế, CBDCs bán lẻ đôi khi được coi là “tiền mặt điện tử” - hình thức tiền tệ khác mà NHTW phát hành cho công chúng. Nhiều FPS bán lẻ do NHTW vận hành và công cụ dự kiến để trao đổi là trái quyền của các định chế tư nhân (ví dụ, tiền gửi ngân hàng hay tiền điện tử). Tuy nhiên, cả CBDCs bán lẻ và FPS bán lẻ hình thành theo cấu trúc dữ liệu chung với APIs, qua đó đảm bảo trao đổi dữ liệu an toàn và có khả năng tương tác giữa các ngân hàng và PSPs phi ngân hàng khác nhau. Cả hai đều có đặc điểm là nhanh chóng và tiện lợi, do việc chuyển tiền phát sinh trong thời gian thực và gần như liên tục 24/7.

Khác với tiền ảo, CBDCs bán lẻ và FPS bán lẻ cho phép tạo ra vòng tròn hiệu ứng mạng lưới tích cực với nhiều người sử dụng, dịch vụ tốt hơn và chi phí thấp. Với nhiệm vụ rõ ràng, các NHTW có thể thiết kế các hệ thống nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra từ cơ sở. Một hệ thống thanh toán dựa trên khả năng tương tác dịch vụ do PSPs tư nhân cung cấp theo cơ chế cạnh tranh có thể là thách thức đối với khu vực ngân hàng tập trung và giảm chi phí thanh toán cho người sử dụng cuối cùng. FPS bán lẻ cũng có những tiến bộ ấn tượng trong việc giảm chi phí và hỗ trợ phổ cập tài chính cho những cá nhân không sử dụng các dịch vụ tài chính - ngân hàng.

CBDCs bán lẻ có thể đóng vai trò tích cực như FPS bán lẻ, khi thể hiện năng lực công nghệ bổ sung. Thí dụ, dự án Hamilton (do Fed Boston và Viện Công nghệ số Massachusetts phối hợp triển khai) đã cho thấy tính khả thi về công nghệ của cấu trúc CBDC với khả năng tiến hành 1,7 triệu giao dịch trong một giây - vượt xa các mạng lưới thẻ chủ chốt hay blockchains.

Cũng như FPS bán lẻ, CBDCs bán lẻ có thể được thiết kế để hỗ trợ phổ cập tài chính. Nhiều NHTW đang khám phá những đặc điểm của CBDC bán lẻ có khả năng xử lý những rào cản đối với việc phổ cập tài chính, như thông qua các giao diện mới và thanh toán ngoại tuyến.

Cả CBDCs bán lẻ và FPS bán lẻ có thể cho phép người dùng kiểm soát dữ liệu cá nhân. Trong nền kinh tế số, mỗi giao dịch đều để lại dấu vết, làm dấy lên những lo ngại về quyền riêng tư, lạm dụng dữ liệu và an toàn cá nhân. Hơn nữa, các dữ liệu có giá trị kinh tế rất lớn, hiện đang tập trung chủ yếu tại các định chế tài chính và Bigtechs; nhiều Bigtech đã lạm dụng để kiếm tiền từ nguồn dữ liệu này.

Cấu trúc dữ liệu FPSs và CBDCs bán lẻ có thể cho phép người dùng mở rộng quyền kiểm soát dữ liệu, trong khi vẫn bảo vệ quyền riêng tư và trung thực. Trên thực tế, NHTW không có lợi ích thương mại về dữ liệu cá nhân, và vì thế có thể thiết kế các hệ thống theo lợi ích chung. Các hệ thống quản trị dữ liệu có thể đảm bảo sự nhất trí của người dùng, hạn chế sử dụng và lưu giữ các dữ liệu. Tương tự với hoạt động ngân hàng mở, những cấu trúc dữ liệu này cũng có thể cho phép người dùng truy cập dữ liệu theo cách thức có lợi cho người dùng trong việc sử dụng các loại hình dịch vụ tài chính. Quan trọng là, một hệ thống dựa trên nhận dạng và thông tin nhận dạng chỉ được nắm giữ bởi PSP chứ không phải NHTW. Việc sử dụng nhận dạng cũng cho phép các trung gian tài chính theo dõi người vay để đánh giá mức tín nhiệm, góp phần đảm bảo hiệu quả phân bổ nguồn vốn.

Trong quy trình này, các NHTW cũng có thể tận dụng công nghệ mật mã hiện đại, nó đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền riêng tư của người dùng và an toàn giao dịch. Tuy nhiên, hệ thống này cần dựa trên niềm tin của người dùng, xác thực nhận dạng, nghĩa là giao dịch theo tên thật. Một vài NHTW cũng coi “tiền mặt điện tử” dưới hình thức CBDC bán lẻ là giải pháp tiềm năng để bảo vệ thông tin của người tham gia giao dịch.

Cuối cùng, CBDCs và FPS bán lẻ tạo ra cơ hội để nâng cao trách nhiệm giải trình, và chắc chắn có liên quan đến thế giới tiền ảo. Sự thật là, việc thiết kế kết cấu hạ tầng công hiện đại không phải là nhiệm vụ riêng của NHTW, mà cần thông qua đối thoại về vai trò của NHTW trong thanh toán bán lẻ. Một hệ thống xây dựng dựa trên hạ tầng công cũng cần đảm bảo PSPs phải tuân thủ các quy định điều chỉnh và khung khổ giám sát. Trong hệ sinh thái mới này, sẽ có nhiều mô hình mới về kinh doanh của khu vực tư nhân, vốn không phù hợp với các khung khổ điều chỉnh hiện hành, đòi hỏi phải điều chỉnh để tạo điều kiện cho các loại hình hoạt động mới.

Tăng cường kết nối qua biên giới

CBDCs bán buôn và bán lẻ cũng như FPS bán lẻ có thể hỗ trợ các chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng kết nối qua biên giới, điều này đòi hỏi hệ thống tiền tệ trong tương lai phải đưa ra các kênh thanh toán có thể hỗ trợ các mục tiêu hội nhập kinh tế và lợi ích chung.

Nguyên tắc xây dựng các nền tảng multi-CBDC cho thấy, tiềm năng ứng dụng theo hướng phân cấp. Thứ nhất, khi có nhiều đồng tiền tham gia hệ thống thanh toán, nhiều NHTW phải có nhiệm vụ quản trị các nền tảng thanh toán. Một phương pháp xử lý vấn đề quản trị giữa nhiều bên là chấp nhận phân cấp thông qua nền tảng DLT. Thứ hai, do việc phân cấp cần được hoàn tất bằng cách sử dụng tên thực, hơn là các chìa khóa tư nhân như trong tiền ảo, nên việc bảo vệ quyền riêng tư là cấu thành thiết kế quan trọng. Để đạt được hai mục tiêu này (tôn trọng quyền riêng tư trong khi sử dụng tên thật), có thể hoàn tất bằng cách sử dụng kỹ thuật mã hóa chủ chốt chung.

Đối với các nền tảng multi-CBDC, có nhiều mô hình khác nhau, từ phối hợp giản đơn theo các chuẩn mực đề ra, đến chia sẻ đầy đủ trên nền tảng multi-CBDC chung. Trên một nền tảng multi-CBDC chung, các khoản chuyển giao được ghi chép trên một sổ cái đơn lẻ, giúp các bên tham gia giảm thiểu lãng phí cân đối giao dịch. Vì thế, quy trình thanh toán được đơn giản hóa, tránh được sự cần thiết phải điều hòa bảng cân đối kế toán giữa các tài khoản như trong các giao dịch tại ngân hàng hối đoái truyền thống.

Tương tự, việc kết nối các hạ tầng FPS bán lẻ chung qua biên giới cũng có thể được tiến hành. Dự án gần đây tại BIS Innovation Hub cho thấy tiềm năng kết nối FPS tại những quốc gia khác nhau, và các khoản thanh toán được dàn xếp sau vài giây hơn là sau nhiều ngày, góp phần giảm chi phí và minh bạch mức phí và tỷ giá trước khi bên gửi tiền cam kết tiến hành thanh toán. Để thu được lợi ích này, đòi hỏi phải phối hợp về các thể thức tin nhắn và trong một vài lĩnh vực chính sách chủ chốt, nhưng hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật.

Tóm lại, các NHTW đang phối hợp trong việc đề xuất các mục tiêu chính sách trong nước và hỗ trợ hệ thống tiền tệ toàn cầu với những lợi ích cụ thể cho nền kinh tế và người dùng cuối cùng. Trong đó, các giải pháp sử dụng sẽ kéo theo hàng loạt công nghệ mới, một số được dẫn dắt bởi hệ thống tiền ảo, nhưng cần củng cố các khung khổ về thể chế hiện hành.

1 Tại báo cáo kinh tế hàng năm được công bố ngày 26/6/2022.

Nguồn: BIS tháng 6/2022

Vũ Xuân Thanh

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành