Hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình: 30 năm đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Kỷ niệm 70 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam
Trong những năm qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình đã bám sát và phục vụ đắc lực cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thực thi có hiệu quả c...
aa

Trong những năm qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình đã bám sát và phục vụ đắc lực cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam: Tăng cường huy động vốn và mở rộng cho vay mọi thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất, kinh doanh; cung ứng đầy đủ, kịp thời tiền mặt và các nhu cầu thanh toán cho khách hàng và nền kinh tế; nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; đảm bảo dân chủ, kỷ cương và hiệu quả trong công tác quản trị, điều hành.

Ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh (tháng 4/1992), hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình đã tập trung vào công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Khi tái lập tỉnh, hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình mới chỉ có Chi nhánh NHNN tỉnh, chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Ngay sau đó, để thực hiện đa dạng hóa các loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) phục vụ nhu cầu của nền kinh tế, năm 1993, Công ty Vàng bạc Đá quý tỉnh và Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Nông thôn Ninh Bình được thành lập - đây là NHTMCP nông thôn đầu tiên của các tỉnh phía Bắc và là ngân hàng ngoài quốc doanh duy nhất trên địa bàn tỉnh. Đến cuối năm 1994, chi nhánh Ngân hàng Công thương Ninh Bình cũng được thành lập nhằm đầu tư tín dụng cho lĩnh vực công, thương nghiệp.

Với mong muốn tách bạch giữa tín dụng chính sách và tín dụng thương mại, đầu năm 2003, chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Ninh Bình được thành lập. Năm 2006, thành lập chi nhánh NHTMCP Công thương khu vực Tam Điệp trên cơ sở nâng cấp Phòng Giao dịch của chi nhánh Ngân hàng Công thương Ninh Bình, và chi nhánh Ngân hàng Phát triển trên cơ sở chuyển đổi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển tỉnh. Chi nhánh NHTMCP Ngoại thương được thành lập năm 2012 và năm 2014 thành lập chi nhánh NHTMCP Đầu tư và Phát triển Tam Điệp trên cơ sở chia tách từ chi nhánh NHTMCP Đầu tư và Phát triển Ninh Bình.

Từ năm 2009 đến nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã thành lập thêm 10 chi nhánh NHTMCP gồm NHTMCP Kỹ thương, NHTMCP Quân đội, NHTMCP Hàng Hải, NHTMCP Bưu Điện Liên Việt, NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội, NHTMCP Bắc Á, NHTMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng, NHTMCP Phương Đông, NHTMCP Sài Gòn Thương tín. Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) cũng được thành lập từ năm 1995, đến nay đã có chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã tỉnh và 39 QTDND cơ sở, ở hầu khắp các huyện, thành phố trong tỉnh Ninh Bình.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 8 chi nhánh cấp 1 ngân hàng thương mại Nhà nước gồm: 2 chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, 2 chi nhánh NHTMCP Đầu tư và Phát triển, 2 chi nhánh NHTMCP Công thương, chi nhánh NHTMCP Ngoại thương và NHTMCP Dầu khí Toàn cầu.

Việc đa dạng hóa các TCTD tạo điều kiện để các TCTD nâng cao khả năng tài chính, năng lực quản trị điều hành, đổi mới phong cách giao dịch theo hướng phục vụ, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các TCTD để phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp và người dân.

Bằng mọi biện pháp tích cực và hữu hiệu, các TCTD trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã khơi tăng nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư cần thiết, hợp lý của sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đầy đủ, kịp thời tiền mặt và phương tiện thanh toán cho tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh: vừa mở rộng mạng lưới hoạt động, vừa đa dạng hóa các hình thức huy động vốn với lãi suất hợp lý, huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Nhờ đó, nguồn vốn ngân hàng thường xuyên có sự tăng trưởng nhanh và bền vững. Tổng nguồn vốn huy động tại địa bàn của hệ thống TCTD khi chia tách tỉnh năm 1992 là 31 tỷ đồng, thì đến hết năm 2020 đã đạt trên 50.072 tỷ đồng (gấp 1.615 lần so với cuối năm 1992).

Bên cạnh đó, các TCTD trên địa bàn đã mở rộng đầu tư vốn cho các công trình trọng điểm, các ngành mũi nhọn có hiệu quả kinh tế của tỉnh; đồng thời, tập trung đầu tư vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cho vay các hộ sản xuất, hộ nông dân, các đối tượng chính sách, từ đó, góp phần tích cực vào việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khoảng 8,03%/năm giai đoạn 2015 - 2020, tăng nhanh sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm, từng bước nâng cao đời sống và xóa đói, giảm nghèo cho Nhân dân.

Khi tái lập tỉnh, tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình mới chỉ đạt 100 tỷ đồng, đã tăng nhanh lên mức 822 tỷ đồng vào cuối năm 2000, và đến hết năm 2020 đạt được 82.590 tỷ đồng (gấp 826 lần so với cuối năm 1992). Những tồn tại trong công tác tín dụng, nhất là nợ quá hạn của các tổ chức kinh tế từng bước được giải quyết, chất lượng tín dụng ngày một nâng cao. Cơ cấu tín dụng được điều chỉnh dần giữa các thành phần kinh tế cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế địa phương. Công tác cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu được hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình đặc biệt chú trọng, đến hết năm 2020, tỷ lệ nợ xấu chỉ chiếm 0,55% tổng dư nợ.

Các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và không ngừng nâng cao chất lượng, từng bước hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Đến nay, các chi nhánh ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện thanh toán điện tử liên ngân hàng và hầu hết đã nối mạng trực tuyến với các TCTD cấp trên, tính đến cuối năm 2020 đã có 129 ATM, 440 điểm chấp nhận thẻ và 518 POS,...

Các TCTD cũng đã đẩy mạnh ứng dụng, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; công nghệ thanh toán đã có bước phát triển mang tính đột phá, thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, các hoạt động chuyển đổi số, sản phẩm dịch vụ ngân hàng số phát triển mạnh mẽ. Công tác bảo mật, an toàn hoạt động thanh toán được đảm bảo, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cũng đạt nhiều kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong tiếp cận vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Tăng cường công tác thông tin truyền thông, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan trên địa bàn, kịp thời cung cấp thông tin chính xác về các cơ chế, chính sách và kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình, tạo sự đồng thuận của doanh nghiệp và người dân. Chủ động nắm bắt thông tin, vấn đề dư luận quan tâm và xử lý hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời.

Hoạt động của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình trong những năm qua luôn bám sát và phục vụ đắc lực cho việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời làm tốt vai trò chủ lực trong việc thực hiện kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng đối với các tổ chức và cá nhân để phát triển sản xuất, kinh doanh.

Hiện nay, hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình đang tích cực triển khai thực hiện các giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Cơ cấu nền kinh tế đa dạng đã tạo nên đặc trưng và thế mạnh cho tỉnh Ninh Bình, song cùng với đó cũng là gánh nặng cho hệ thống ngân hàng tỉnh khi vừa phải đảm bảo thực hiện đầu tư vốn hiệu quả, vừa phải tạo được hiệu ứng lan tỏa trong những chính sách phát triển chung.

Theo đó, Ninh Bình là địa phương đang tập trung phát triển mạnh về công nghiệp, du lịch và dịch vụ, song vẫn còn những đòi hỏi thiết yếu cho phát triển bền vững khu vực nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là các đối tượng chính sách. Trong khi đó, nguồn vốn huy động tại địa bàn tỉnh thường xuyên chỉ đáp ứng khoảng 60% dư nợ cho vay, nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn. Các TCTD phải sử dụng khoảng 40% nguồn vốn cho vay bằng nguồn huy động ngoài tỉnh và vốn điều hòa từ các TCTD cấp trên. Khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp và người dân trên địa bàn chưa cao.

Tuy có nhiều thách thức về nguồn vốn và khả năng hấp thụ vốn nhưng trong những năm qua, hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình vẫn đảm bảo cung ứng vốn kịp thời, làm lực đẩy cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển hiệu quả. Bằng chứng là lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 4,5 - 5,5%/năm, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác phổ biến ở mức 7 - 9%/năm đối với ngắn hạn (một số ngân hàng còn cho vay theo chương trình ưu đãi lãi suất đối với khách hàng lớn với mức lãi suất thấp nhất là 5%/năm); còn đối với cho vay trung và dài hạn lãi suất phổ biến ở mức 10%/năm (thấp nhất là 5%/năm).

Thực hiện chỉ đạo của NHNN, NHNN Chi nhánh tỉnh Ninh Bình luôn quan tâm, định hướng các TCTD trên địa bàn tích cực tìm kiếm khách hàng có tình hình tài chính tốt, đẩy mạnh tuyên truyền về các chương trình, các gói tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm thu hút khách hàng để mở rộng cho vay nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng tín dụng.

Đến nay, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã bám khá sát với cơ cấu kinh tế và định hướng phát triển của tỉnh. Dòng vốn tín dụng đã chảy vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các dự án kinh tế trọng điểm, lớn của tỉnh, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển trở thành động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp trở thành bệ đỡ của nền kinh tế. Đặc biệt, trong thời gian qua đã tập trung đầu tư vốn cho các công trình sản xuất công nghiệp như các nhà máy sản xuất ô tô, thép, may mặc, sản xuất linh kiện điện thoại, điện tử, sản xuất xi măng,...

Bệ đỡ của kinh tế thêm điểm tựa với dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới của các TCTD đến cuối năm 2020 đạt 30.332 tỷ đồng, chiếm 36,7% tổng dư nợ của các TCTD trên địa bàn, góp phần đưa nông nghiệp của tỉnh phát triển ổn định, duy trì tăng trưởng khoảng trên 2%/năm, 106/116 xã, 4/8 huyện, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới, 8 xã và 100 thôn đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Đến cuối năm 2020, dư nợ cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 13.645 tỷ đồng, chiếm 16,5% tổng dư nợ; cho vay xuất khẩu đạt 1.211 tỷ đồng, chiếm 1,5%/tổng dư nợ; cho vay phát triển du lịch đạt 1.186 tỷ đồng, chiếm 1,4% tổng dư nợ; cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 222 tỷ đồng,...

Các chương trình tín dụng khác của Trung ương đã được triển khai thực hiện quyết liệt như: Chương trình bình ổn thị trường; cho vay phát triển thủy sản; cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp,...

Tín dụng chính sách thông qua NHCSXH tỉnh cũng đã được giải ngân kịp thời, đúng đối tượng và kế hoạch được duyệt. Đến cuối năm 2020, có trên 90 ngàn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn, dư nợ đạt 2.613 tỷ đồng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, đời sống Nhân dân được cải thiện, hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 2%.

Nhiều khu du lịch, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, dự án kinh tế lớn đã được triển khai có hiệu quả từ dòng vốn ngân hàng, khơi dậy những tiềm năng, thế mạnh của địa phương, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình.

Những thành quả ngày hôm nay là nhờ sự nỗ lực, cố gắng của nhiều thế hệ lãnh đạo, công chức, viên chức và người lao động trong hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình trong suốt gần 30 năm qua. Và để tiếp nối thành công này, chặng đường trước mắt chắc chắn sẽ không ít chông gai, bởi hiện nay, mở rộng đầu tư tín dụng trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế, chưa bền vững.

Đối diện với các thách thức này, NHNN Chi nhánh tỉnh Ninh Bình nói riêng và hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình nói chung tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các TCTD trong điều kiện chuyển đổi số, ngân hàng số và môi trường hội nhập kinh tế thế giới.

Với khát vọng phát triển, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của hệ thống ngân hàng tỉnh Ninh Bình sẽ tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, biến thách thức thành cơ hội, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành ở địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng ngay từ những năm đầu nhiệm kỳ.

Nguyễn Sỹ Tỉnh

NHNN Chi nhánh tỉnh Ninh Bình


Tạp chí Ngân hàng số 8/2021

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công tác xây dựng Đảng góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ chính trị ngành Ngân hàng năm 2024

Công tác xây dựng Đảng góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ chính trị ngành Ngân hàng năm 2024

Ở trong nước, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn nhưng tăng trưởng kinh tế trên đà phục hồi, các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá cao triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2024.
Agribank góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam vươn lên những tầm cao mới

Agribank góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam vươn lên những tầm cao mới

Agribank là ngân hàng tiên phong dành nguốn vốn 50.000 tỉ đồng để triển khai chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch.
Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy để xây dựng ngành Ngân hàng phát triển bền vững

Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy để xây dựng ngành Ngân hàng phát triển bền vững

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chung của toàn dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến,...
Ký ức không quên về Dự án Hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán

Ký ức không quên về Dự án Hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán

Chiều một ngày cuối năm 1994, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Đỗ Quế Lượng chủ trì một cuộc họp. Tham gia cuộc họp là đại diện một số vụ, cục thuộc NHNN, gồm: Cục Công nghệ tin học; ...
Những ngày đầu tham gia xây dựng Nhà máy In tiền Quốc gia

Những ngày đầu tham gia xây dựng Nhà máy In tiền Quốc gia

Tôi luôn có những cảm xúc sâu sắc, thiêng liêng, xen lẫn tự hào khi bồi hồi nhớ lại những năm tháng làm việc trong ngành Ngân hàng. Trong quãng thời gian ấy, tôi đã có những kỷ niệm không thể nào quên khi cùng với các anh chị em, các cán bộ, kỹ sư tham gia làm việc tại Ban Quản lý xây dựng công trình K84 (Nhà máy In tiền Quốc gia). Ôn lại những kỷ niệm đã qua thấy thật vinh dự, tự hào là một trong những cán bộ đã từng tham gia xây dựng công trình K84.
Hệ thống ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh - Dấu ấn 30 năm đổi mới và phát triển

Hệ thống ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh - Dấu ấn 30 năm đổi mới và phát triển

Ngày 23/5/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh về ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam và Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính)... Trụ sở NHNN...
Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng - Điểm nhấn trong 70 năm xây dựng và phát triển Ngân hàng Việt Nam

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng - Điểm nhấn trong 70 năm xây dựng và phát triển Ngân hàng Việt Nam

Năm 2021, ngành Ngân hàng Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập (6/5/1951 - 6/5/2021). Trong 70 năm xây dựng và phát triển, toàn Ngành luôn nỗ lực, vượt qua nhiều gian nan, thử thách, đạt được nhiều thành...
35 năm cải cách Ngân hàng: Thành quả, hạn chế và thách thức, gợi mở các giải pháp

35 năm cải cách Ngân hàng: Thành quả, hạn chế và thách thức, gợi mở các giải pháp

Quá trình cải cách khu vực ngân hàng đi liền với sự đổi mới thể chế kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến năm 2021, ngành Ngân hàng...
Xem thêm
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại