Agribank chi nhánh tỉnh Hải Dương - đồng hành xây dựng nông thôn mới

Hoạt động ngân hàng
Phát huy vai trò tiên phong hỗ trợ nguồn vốn tín dụng phục vụ người dân và doanh nghiệp, Agribank Chi nhánh tỉnh Hải Dương (Agribank Hải Dương) góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu xây dựn...
aa

Phát huy vai trò tiên phong hỗ trợ nguồn vốn tín dụng phục vụ người dân và doanh nghiệp, Agribank Chi nhánh tỉnh Hải Dương (Agribank Hải Dương) góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại địa bàn tỉnh Hải Dương.


Tính đến 30/4/2019, toàn tỉnh Hải Dương có 201/220 xã đạt chuẩn nông thôn mới và đang tiến tới phấn đấu xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Đóng góp vào thành công chung về xây dựng nông thôn mới của tỉnh Hải Dương không thể không kể tới sự tiên phong của Agribank Hải Dương với vai trò dẫn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn.

Nhằm đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, Agribank Hải Dương đã triển khai ký kết chương trình phối hợp với Hội Nông dân tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh đồng hành với Agribank trong tổ chức thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thông qua hai tổ chức hội này, Agribank đã thành lập các tổ vay vốn nhằm chuyển tải vốn nhanh nhất, thuận lợi và hiệu quả nhất đến bà con nông dân có nhu cầu vay vốn để chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống, hạn chế nạn tín dụng đen ở nông thôn. Tính đến 30/4/2019, toàn tỉnh Hải Dương có 655 tổ vay vốn, trong đó qua Hội Nông dân tỉnh 436 tổ, qua Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh 215 tổ với trên 15.000 thành viên đang vay vốn và tổng dư nợ trên 2.000 tỷ đồng.

Trong những năm qua, Agribank Hải Dương luôn là đơn vị dẫn đầu các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh về thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi đối với cho vay nông nghiệp, nông thôn. Tín dụng tăng trưởng hàng năm trên 10% trong khi tỉ lệ nợ xấu thấp, chỉ 0,37%. Tính đến 30/4/2019, tổng nguồn vốn huy động đạt 21.465 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt 12.655 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 9.980 tỷ đồng, chiếm 81,3%/tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Từ tháng 3/2019, Chi nhánh đã triển khai chương trình cho vay tiêu dùng hạn chế tín dụng đen đạt 29 tỷ đồng. Ngoài ra, Chi nhánh hiện đang thí điểm cho vay thấu chi qua thẻ đối với bà con nông dân trên địa bàn tỉnh.

Ngoài việc cung cấp đầy đủ nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, Agribank Hải Dương còn nỗ lực triển khai các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, các sản phẩm mới đến bà con nông dân thông qua 30 điểm giao dịch trên toàn tỉnh, qua các “chân rết” là các tổ vay vốn cắm rễ đến từng thôn, xã, khu dân cư của tỉnh. Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Thanh Hoài - Tổ trưởng tổ vay vốn, thôn Hòa Xá, xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương cho hay: Hiện ông đang quản lý 40 hộ với dư nợ trên 7 tỷ đồng, các món vay từ 200-300 triệu đồng, mục đích vay vốn của bà con chủ yếu là sản xuất chăn nuôi kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Khi có mục đích vay vốn, bà con liên hệ với tổ trưởng vay vốn, tổ trưởng đề xuất với ngân hàng từng trường hợp cụ thể, với những món vay dưới 100 triệu đồng có thể giải ngân trong ngày, những món vay 200-300 triệu bà con sẽ được giải ngân sau 2-3 ngày. Thông qua tổ vay vốn, nguồn vốn ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của bà con trong sản xuất kinh doanh và đời sống. Hơn 20 năm làm công tác hỗ trợ vay vốn, ông đã không nề hà quản ngại khó khăn, thể hiện vai trò kết nối giữa người dân và ngân hàng.

Tháng 01/2018, Agribank Hải Dương triển khai mô hình điểm giao dịch lưu động bằng xe ô tô chuyên dùng tại huyện Thanh Hà và đã mang lại hiệu quả to lớn đối với bàn con nông dân vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện. Mô hình trên đã đem lại hiệu quả cao, vừa tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng, vừa giảm tải nhân lực, chi phí cho ngân hàng. Qua hơn một năm hoạt động, điểm giao dịch lưu động bằng xe ô tô chuyên dùng đã có trên 4.000 lượt khách giao dịch với số tiền giao dịch trên 800 tỷ đồng.

Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hải Dương có sự cạnh tranh gay gắt, các NHTM không ngừng mở rộng thị phần với các sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng, chất lượng dịch vụ không ngừng được nâng cao. Song song với việc tăng trưởng huy động vốn, dư nợ, các NHTM tích cực bán chéo sản phẩm dịch vụ, khai thác triệt để lợi thế sẵn có, tìm cơ hội chiếm lĩnh thị trường trong lĩnh vực sản phẩm dịch vụ hiện đại nhằm tăng nguồn thu dịch vụ. Phát huy lợi thế cạnh tranh về mạng lưới, lực lượng lao động, với mục tiêu góp phần thay đổi tư duy của khách hàng về sản phẩm dịch vụ của Agribank, Chi nhánh đã tích cực tuyên truyền giới thiệu các sản phẩm tiện ích, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Trong 3 năm gần đây, Agribank Hải Dương luôn dẫn đầu thị phần trên địa bàn tỉnh. Chi nhánh hiện có 30 điểm giao dịch, 29 máy ATM, 34 điểm POS, phát hành 294.700 thẻ ATM, có 773 đơn vị trả lương qua tài khoản, 130.095 khách hàng dụng dịch vụ Agribank E-mobilebanking, 14.525 khách hàng sử dụng dịch vụ thông báo biến động số dư tài khoản, 39.696 khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tiền điện trực tuyến, 1.904 khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking...

Chia sẻ với chúng tôi, ông Lê Hồng Phúc - Giám đốc Agribank Hải Dương cho biết: “Với phương châm tiếp cận khách hàng bằng uy tín và chất lượng, Agribank Hải Dương luôn chú trọng đến chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ hội nhập và hiện đại hóa công nghệ. Hiện nay, Agribank Hải Dương đang bố trí đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ, năng lực, nhiệt huyết để phục vụ khách hàng tận tình, chu đáo. Với mục tiêu lấy khách hàng là trọng tâm, Agribank Hải Dương luôn quan tâm đổi mới phong cách giao dịch. Đây cũng là một trong những yếu tố làm tăng sức cạnh tranh của Agribank tỉnh trên địa bàn”.

Không chỉ là “bệ đỡ” cho các doanh nghiệp, Agribank Hải Dương còn hỗ trợ người dân phát triển kinh tế. Nhờ nguồn vốn của Agribank nhiều người đã trở thành tỉ phú như trường hợp chị Nguyễn Thị Mến ở Tứ Kỳ - Hải Dương. Khởi nghiệp kinh doanh từ năm 1995 với vỏn vẹn 3 triệu đồng làm vốn, đến năm 1997 chị bén duyên, vay vốn của Agribank. Với số vốn vay khiêm tốn ban đầu là 18 triệu đồng, chị vừa kinh doanh, vừa nợ trả gối các đại lý lớn. Nhờ sự chịu thương chịu khó, xông xáo trong làm ăn cộng với sự tiếp sức về vốn của Agribank trong từng giai đoạn, hiện nay chị đã là chủ cơ sở kinh doanh tư nhân Thùy Mến với 3 cơ ngơi đồ sộ vừa làm cơ sở kinh doanh của gia đình vừa cho thuê, tạo công ăn việc làm cho 35 lao động trên địa bàn. Dư nợ hiện nay của cơ sở kinh doanh do chị làm chủ bình quân trên dưới 20 tỷ mỗi năm. Chị Mến tâm sự: “Agribank là nơi đã cho tôi những đồng vốn đầu tiên khởi nghiệp, được như ngày hôm nay tôi vô cùng trân trọng sự giúp đỡ đó. Hiện nay rất nhiều ngân hàng chào mời vay vốn với mức lãi suất ưu đãi nhưng tôi luôn chung thủy cùng Agribank - ngân hàng đồng hành cùng tôi suốt hơn 20 năm qua”.


Đánh giá về những đóng góp của Agribank Hải Dương trong việc phối hợp với các tổ chức hội trên địa bàn để cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, ông Vũ Văn Hợp - Phó Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ nhận định: “Hệ thống ngân hàng nói chung và đặc biệt là Agribank là ngân hàng tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, hỗ trợ vốn vay cho người dân góp phần đẩy lùi tín dụng đen. Hiện nay 100% hộ dân cư trên địa bàn đều được tiếp cận nguồn vốn của hệ thống ngân hàng phục vụ sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội”.

Khẳng định cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, trong đó có xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của Chi nhánh, Agribank Hải Dương luôn đồng hành, quan tâm và tập trung tối đa nguồn lực cho các địa phương trong tỉnh nhằm góp phần chung sức cùng cả nước xây dựng thành công chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Bình An

Nguồn: TCNH số 15/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng