Vốn ngân hàng tiếp sức ngành hàng cá tra vượt khó, phát triển

Hoạt động ngân hàng
Cá tra là ngành hàng thủy sản có thế mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau lúa gạo. Trong năm 2023, dưới tác động của lạm phát và bất ổn chính trị, ngành cá tra phải đối mặt với không ít khó khăn. Hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra bị ảnh hưởng do tình trạng tồn kho cao của các nhà bán lẻ, thị trường ngày càng khó khăn. Trước khó khăn đó, vốn tín dụng ngân hàng đã vào cuộc tiếp sức hỗ trợ tái cấu trúc ngành hàng cá tra, tạo cơ hội phát triển bền vững.
aa

Cá tra là ngành hàng thủy sản có thế mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau lúa gạo. Trong năm 2023, dưới tác động của lạm phát và bất ổn chính trị, ngành cá tra phải đối mặt với không ít khó khăn. Hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra bị ảnh hưởng do tình trạng tồn kho cao của các nhà bán lẻ, thị trường ngày càng khó khăn. Trước khó khăn đó, vốn tín dụng ngân hàng đã vào cuộc tiếp sức hỗ trợ tái cấu trúc ngành hàng cá tra, tạo cơ hội phát triển bền vững.

Phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu cá tra 1,8 tỉ USD

Theo báo cáo của Cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2023, diện tích thả nuôi cá tra cả nước đạt 5.700 ha (bằng 98% so với cùng kì năm 2022); sản lượng cá tra đạt 1,60 triệu tấn, tương đương với cùng kì năm 2022; kim ngạch xuất khẩu cá tra là 1,8 tỉ USD, chỉ đạt 75% so với cùng kì năm 2022.
Các thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam có xu hướng giảm, như: Trung Quốc, Hoa Kỳ châu Âu (EU). Riêng thị trường Đức, Anh, Brazil, Saudi Arabia tăng trưởng dương so với cùng kì năm 2022, nhưng đây lại là những thị trường chiếm tỉ trọng nhỏ. Ngoài nguyên nhân do tình hình bất ổn và lạm phát toàn cầu khiến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cá tra có xu hướng giảm, hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, lượng hàng tồn kho lớn… còn một số nguyên nhân khác như: Một số quốc gia láng giềng đã phát triển sản xuất cá tra; sản phẩm cá tra của Việt Nam còn đơn điệu; sản phẩm giá trị gia tăng chiếm tỉ trọng nhỏ nên chưa tạo ra sự cạnh tranh và giá trị thương mại lớn.

Ngoài ra, còn bị ảnh hưởng bởi công đoạn giống, nuôi thương phẩm như: thức ăn chiếm tỉ trọng lớn (70 - 80%) trong giá thành sản xuất; một số cơ sở sản xuất giống chưa quan tâm đến việc kiểm soát chặt chẽ đàn cá bố mẹ trong quá trình sản xuất giống, chưa tuân thủ đúng thời hạn sử dụng cá bố mẹ, tỉ lệ sống giai đoạn ương dưỡng còn thấp; một số địa phương chưa thực hiện cấp Giấy xác nhận nuôi cho các cơ sở nuôi nhỏ lẻ theo quy định…

Tại tỉnh An Giang, hiện có 15 doanh nghiệp với 18 nhà máy chế biến cá tra, công suất chế biến 300 tấn/năm, với các sản phẩm chủ yếu là phi-lê, cắt khúc, nguyên con, xẻ bướm, chủ yếu phục vụ thị trường xuất khẩu đi các nước Mỹ, châu Á, Trung Quốc, các nước tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), các nước châu Âu. Kim ngạch xuất khẩu hằng năm đạt trên 300 triệu USD. Riêng 11 tháng năm 2023 xuất khẩu đạt 152,5 nghìn tấn, tương đương 336,8 triệu USD; so với cùng kì năm 2022 giảm 5,22% về sản lượng và giảm 3,7% về kim ngạch. Nguyên nhân do các nhà nhập khẩu cá tra ở các thị trường lớn như Mỹ, EU, CPTTP... có xu hướng giảm lượng tồn kho thông qua việc giảm nhập khẩu để tối ưu hóa chi phí trong bối cảnh lạm phát tăng cao khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu hơn trước.

Vai trò tiếp sức vốn tín dụng

Để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, tiếp sức doanh nghiệp xuất khẩu ngành hàng thủy sản nói chung, ngành hàng cá tra nói riêng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành quy định cho phép các tổ chức tín dụng được cho vay bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn ngắn hạn thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay (Thông tư số 42/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 24/2015/TT-NHNN ngày 08/12/2015). Ngoài ra, nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng thuộc các ngành nghề, lĩnh vực, trong đó có thủy sản, Thống đốc NHNN đã ban hành chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ (Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023), tạo điều kiện cho khách hàng được kéo dài thời gian trả nợ mà không bị chuyển nhóm nợ xấu và được tiếp cận các khoản vay mới phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hạ lãi suất, cung ứng gói tín dụng 15 nghìn tỉ đồng, lãi suất thấp hơn thị trường 2%, nguồn do các ngân hàng thương mại tự chủ động dành cho lĩnh vực lâm sản, thủy sản.

Đến cuối tháng 11/2023, dư nợ ngành thủy sản đạt 128.525 tỉ đồng, tăng 8,5% so với năm 2022 (cao hơn mức tăng chung toàn quốc 4%), chiếm 59% dư nợ cho vay thủy sản cả nước, trong đó: (i) Dư nợ phục vụ mục đích khai thác, nuôi trồng thủy sản đạt 62.122 tỉ đồng (chiếm 48%); (ii) Dư nợ thu mua, tiêu thụ (trong nước, xuất khẩu) thủy sản đạt 34.390 tỉ đồng (chiếm 27%); (iii) Dư nợ chế biến, bảo quản thủy sản đạt 31.992 tỉ đồng (chiếm 25%). Một số tỉnh có dư nợ thủy sản lớn như: Cà Mau (29.296 tỉ đồng, tăng 12,9%); Kiên Giang (14.588 tỉ đồng, tăng 7,5%); An Giang (13.543 tỉ đồng, tăng 3,8%); Đồng Tháp (12.870 tỉ đồng, tăng 7,3%); Thành phố Cần Thơ (12.320 tỉ đồng, tăng 6,1%). Trong đó, đáng chú ý, kết quả dư nợ cho vay cá tra đến cuối tháng 11/2023, đạt 30.665 tỉ đồng, tăng 10,5% so với với cuối năm 2022 (trong khi tốc độ tăng trưởng chung toàn quốc giảm 2,72%), chiếm khoảng 24% tổng dư nợ cho vay thủy sản khu vực; trong đó, một số tỉnh có dư nợ cho vay cá tra lớn như Đồng Tháp (7.500 tỉ đồng, tăng 6,0%), thành phố Cần Thơ (6.400 tỉ đồng, tăng 1,11%), An Giang (5.822 tỉ đồng, tăng 9,76%); Hậu Giang (3.208 tỉ đồng, tăng 26,8%).

Đến ngày 30/11/2023, tổng dư nợ cho vay lĩnh vực thủy sản tại Đồng Tháp đạt khoảng 13.219 tỉ đồng, tăng khoảng 10,24% so với cuối năm 2022, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn tỉnh. Trong số này, dư nợ cho vay ngành hàng cá tra đạt khoảng 7.500 tỉ đồng, tăng hơn 400 tỉ đồng so với cuối năm 2022, với trên 1.400 khách hàng còn dư nợ. Riêng chương trình 150.000 tỉ đồng cho gói tín dụng lâm sản, thủy sản đến cuối tháng 11/2023, Vietcombank Đồng Tháp đã giải ngân khoảng 43,7 tỉ đồng cho các doanh nghiệp lĩnh vực cá tra. Lãi suất vay ưu đãi 6%/năm, thấp hơn 2%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.

Đối với Chương trình hỗ trợ lãi suất 2%/năm theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ, dư nợ cho vay chung của hệ thống ngân hàng tại Đồng Tháp đạt khoảng gần 1.900 tỉ đồng. Trong đó, đa số các doanh nghiệp được vay vốn là các doanh nghiệp lĩnh vực thủy sản (bao gồm 5 doanh nghiệp cá tra và 4 doanh nghiệp chế biến thức ăn thủy sản); số vốn vay đạt 1.438 tỉ đồng, tăng 312,6% so với cuối năm 2022. Tính lũy kế từ đầu chương trình, các ngân thương mại tại Đồng Tháp đã hỗ trợ lãi suất cho 5 doanh nghiệp cá tra với số tiền gần 12 tỉ đồng.

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu báo cáo thống kê của NHNN


Giải pháp tăng sức cạnh tranh cho cá tra

Mục tiêu đặt ra của ngành hàng cá tra năm 2024 với diện tích thả nuôi dự kiến đạt 5.700 ha; sản lượng cá tra thương phẩm đạt 1,7 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 2 tỉ USD. Có ba vấn đề định hướng phát triển bền vững cho ngành hàng cá tra gồm: (i) Chất lượng giống sẽ là cái gốc của chuỗi cá tra, giải quyết được con giống thì sẽ giúp tăng tỉ lệ sống, tăng hiệu quả sản xuất; (ii) Thị trường đầu kéo và khuyến khích sự phát triển sản xuất; (iii) Giảm chi phí sản xuất.

Để đạt được mục tiêu đề ra, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Đối với ngành hàng cá tra

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giống cá tra là tiếp tục bổ sung, thay thế đàn cá tra bố mẹ được cải thiện di truyền về tốc độ tăng trưởng và kháng bệnh cho các cơ sở sản xuất giống theo nhu cầu, đảm bảo cung ứng đủ con giống chất lượng cao cho nuôi thương phẩm, hạ giá thành sản xuất.

Thứ hai, xây dựng nhiệm vụ xác định yếu tố cấu thành giá thành sản xuất để xây dựng các giải pháp giảm giá chi phí trong chuỗi sản xuất, chế biến cá tra.

Thứ ba, khuyến khích các bên có liên quan liên kết, gắn kết hoạt động sản xuất, chế biến theo chuỗi thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm có đầu tư, hỗ trợ kinh phí, giúp đảm bảo ổn định sản xuất, cắt giảm chi phí; nuôi có chứng nhận để nâng cao giá trị sản phẩm.

Thứ tư, thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia vào mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu. Tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng và mở rộng vùng nguyên liệu, kết hợp đầu tư nhà máy sơ chế, kho bảo quản, tồn trữ sản phẩm gần vùng nguyên liệu...

Thứ năm, tiếp tục phát triển thị trường, đa dạng hóa sản phẩm; quan tâm mở rộng thị trường trong nước, hướng tới các bếp ăn tập thể trong khu công nghiệp, trường học; mở rộng thị trường, thực hiện các quy định về chứng nhận cho sản phẩm cá tra theo yêu cầu của các thị trường quốc gia Hồi giáo…

Thứ sáu, tiếp tục thay đổi cơ cấu thị trường, xây dựng cơ sở an toàn, truy xuất được nguồn gốc; thức ăn dinh dưỡng; giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất, từ thu hoạch, sơ chế, chế biến…; để nâng cao sức cạnh tranh với các nước nuôi cá tra.

Đối với các tổ chức tín dụng

Một là, các tổ chức tín dụng cần tiết giảm các chi phí, ứng dụng công nghệ để có thể tiếp tục hỗ trợ vốn tín dụng cho ngành hàng cá tra vượt qua khó khăn, thách thức có cơ hội tái cấu trúc từ vùng nuôi, sản xuất, chế biến, xuất khẩu đến “bàn ăn”.

Hai là, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn đầu tư theo chuỗi giá trị ngành hàng, đa dạng hình thức cấp tín dụng cho doanh nghiệp như thế chấp bằng hợp đồng bao tiêu sản phẩm, tín dụng cấp thông qua hàng hóa khi doanh nghiệp đầu tư cho nông dân...

Ba là, đa dạng thời hạn vay theo mùa vụ tùy theo từng thị trường xuất khẩu cụ thể... Các tổ chức tín dụng thông tin kịp thời đến doanh nghiệp các chương trình tín dụng ưu tiên phục vụ ngành hàng xuất khẩu cá tra, hỗ trợ lãi suất, cơ cấu nợ, giữ nguyên nhóm nợ...

Bốn là, quan tâm chương trình đồng tài trợ vốn vay giữa các ngân hàng đối với các dự án lớn. Tăng cường liên kết cho vay theo chuỗi giá trị, theo từng tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng cá tra.

Năm là, đa dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn, nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm khách hàng nhằm tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Sáu là, tăng cường hoạt động truyền thông, phổ biến về cơ chế, chính sách, chương trình tín dụng bằng nhiều hình thức để người dân, doanh nghiệp hiểu và tiếp cận các chính sách, sản phẩm, dịch vụ tín dụng ngân hàng.

Bảy là, không ngừng phát triển, cung ứng các sản phẩm tài trợ thương mại đối với lĩnh vực xuất khẩu, đa dạng hóa các phương thức thanh toán quốc tế hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp.

Tám là, thường xuyên phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tăng cường khả năng tiếp cận các chính sách tín dụng ưu đãi đối với ngành hàng cá tra.

Chín là, triển khai nhiều phương thức thanh toán mới ứng dụng công nghệ Blockchain để rút ngắn thời gian xử lí và tăng cường bảo mật trong thanh toán xuất nhập khẩu...


Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu Hội nghị kết quả sản xuất, tiêu thụ cá tra năm 2023 và định hướng phát triển năm 2024 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 12/2023.
2. Báo cáo hoạt động ngân hàng 11 tháng năm 2023 của 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL.



TS. Đoàn Ngọc Phả
ThS.
Trần Trọng Triết

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng