Vận dụng quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin không chỉ là yêu cầu nhận thức đúng về thế giới hiện thực, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận định hướng hành động thực tiễn. Vận dụng quan điểm này trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng giúp bảo đảm cho các chính sách, quy định pháp luật phản ánh trung thực thực tế khách quan, phù hợp với quy luật vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao tính khoa học, tính khả thi và tính ổn định của hệ thống pháp luật ngân hàng.
aa

Tóm tắt: Trong hoạt động quản lý nhà nước, việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận khoa học nhằm bảo đảm chính sách phản ánh đúng thực tiễn khách quan. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung phân tích và làm rõ việc vận dụng quan điểm khách quan của triết học Mác - Lênin trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Thông qua việc liên hệ thực tiễn hoạt động xây dựng thể chế, điều hành chính sách tiền tệ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bài viết chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm khách quan trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định rằng, việc thấm nhuần và vận dụng đúng đắn quan điểm khách quan không chỉ nâng cao chất lượng pháp luật, mà còn tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm ổn định, an toàn và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Từ khóa: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác - Lênin, văn bản quy phạm pháp luật.

APPLYING THE OBJECTIVE VIEWPOINT OF DIALECTICAL MATERIALISM IN THE DEVELOPMENT OF LEGAL NORMATIVE DOCUMENTS AT THE STATE BANK OF VIETNAM

Abstract: In state administration, the formulation and promulgation of legal normative documents require a sound theoretical foundation and a scientific approach to ensure that policies accurately reflect objective reality. Based on that requirement, this article focuses on analyzing and clarifying the application of the objective viewpoint of Marxist-Leninist philosophy in the process of developing legal normative documents at the State Bank of Vietnam (SBV). By linking theory with practice in institutional building, monetary policy formulation, and legal framework improvement, the article highlights the achievements, remaining limitations, and proposes solutions to enhance the effective application of the objective viewpoint in practice. The study affirms that correctly understanding and applying objectivity not only improves the quality of legislation but also strengthens state governance effectiveness, ensures the stability, safety, and sustainable development of Vietnam’s banking system.

Keywords: Dialectical materialism, Marxist-Leninist philosophy, legal normative documents.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Cơ sở lý luận về quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin

Trong triết học Mác - Lênin, quan điểm khách quan được xác định là một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, đòi hỏi con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động phù hợp với các quy luật vốn có của sự vật, hiện tượng. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, và chính thế giới đó là nguồn gốc, cơ sở và tiêu chuẩn của mọi nhận thức. Quan điểm khách quan không chỉ giúp con người nhận thức đúng bản chất của sự vật, mà còn định hướng phương pháp hành động đúng đắn trong thực tiễn, tránh rơi vào hai khuynh hướng sai lầm phổ biến: Thứ nhất là chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa ý chí chủ quan, xem nhẹ điều kiện vật chất và quy luật khách quan, dẫn đến quyết định sai lầm trong tổ chức thực tiễn. Thứ hai là duy vật tầm thường, thụ động, máy móc, coi con người là sản phẩm bị động của hoàn cảnh, từ đó triệt tiêu tính năng động, sáng tạo của ý thức. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, sự phát triển của nhận thức và hành động thực tiễn chỉ đạt được hiệu quả khi con người “biết phát hiện quy luật vận động của hiện thực và hành động theo quy luật đó”. Như C.Mác từng khẳng định, lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành một lực lượng vật chất, nghĩa là chỉ khi lý luận phản ánh đúng hiện thực khách quan và được vận dụng phù hợp với quy luật, nó mới trở thành động lực cải tạo xã hội. Tư tưởng này được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển nhất quán trong các văn kiện chính trị và nghị quyết quan trọng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, lấy thực tiễn làm thước đo của chân lý”1. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng khẳng định yêu cầu đổi mới tư duy, hành động theo quy luật khách quan, dựa trên bằng chứng và dữ liệu thực tiễn, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của chính sách2.

Như vậy, quan điểm khách quan không chỉ là nền tảng lý luận của triết học Mác - Lênin mà còn là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý, hoạch định và xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Việc thấm nhuần và vận dụng đúng đắn quan điểm này giúp đảm bảo mọi chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật đều phản ánh trung thực thực tiễn, có cơ sở khoa học và phù hợp quy luật phát triển của xã hội, từ đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, ổn định và tiến bộ của đất nước.

2. Tầm quan trọng của việc vận dụng quan điểm khách quan trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại NHNN

Quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng; không “tô hồng” cũng không “bôi đen”. Mọi nhận thức sai lệch, dù là do chủ quan hay định kiến, đều dẫn đến hành động sai lầm. Đối với NHNN, nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, một trong những lĩnh vực có tác động sâu rộng đến hệ thống tiền tệ, tài chính và nền kinh tế.

Thứ nhất, trong đánh giá thực trạng và xác định vấn đề cần điều chỉnh, việc phản ánh trung thực tình hình hoạt động ngân hàng, thị trường tiền tệ và các yếu tố vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Nếu “tô hồng” thực tế, cho rằng hệ thống ổn định tuyệt đối, chính sách ban hành có thể trở nên chủ quan, thiếu cơ chế kiểm soát rủi ro. Ngược lại, nếu “bôi đen” thực trạng, nhấn mạnh quá mức khó khăn, chính sách sẽ dễ thiên về thắt chặt, làm hạn chế dòng vốn và cản trở tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, chỉ khi nhìn nhận khách quan, dựa vào dữ liệu và bằng chứng khoa học, NHNN mới có thể ban hành quy định phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, quan điểm khách quan đòi hỏi mọi chính sách phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật kinh tế - tiền tệ như quy luật giá trị, cung - cầu tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Khi ban hành các quy định về lãi suất, dự trữ bắt buộc hay giới hạn tín dụng, NHNN cần căn cứ vào diễn biến lạm phát, thanh khoản và năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế, không thể lấy mong muốn chủ quan thay thế cho điều kiện thực tế. Bất kỳ hành động nào trái quy luật đều có thể dẫn đến mất ổn định kinh tế hoặc rủi ro hệ thống.

Thứ ba, trong quá trình soạn thảo và tham vấn chính sách, việc “không áp đặt chủ quan vào hiện thực khách quan” là yêu cầu bắt buộc. Các văn bản quy phạm pháp luật phải được hình thành trên cơ sở nghiên cứu bản chất, mối liên hệ nội tại của hoạt động ngân hàng, thay vì dựa vào cảm tính hoặc mô hình cứng nhắc. NHNN cần mở rộng tham vấn, tiếp thu ý kiến từ các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, chuyên gia và các đối tượng chịu tác động để bảo đảm quy định phản ánh trung thực thực tiễn, tránh duy ý chí hay lợi ích cục bộ.

Thứ tư, trong công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản, việc nhận thức khách quan cả ưu điểm và hạn chế của chính sách giúp NHNN kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng phù hợp hơn với sự biến động của thị trường và yêu cầu hội nhập.

Có thể khẳng định, việc vận dụng quan điểm khách quan trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giúp NHNN bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và khả thi của chính sách; góp phần ổn định tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

3. Một số kết quả và hạn chế trong quá trình vận dụng quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại NHNN

3.1. Một số kết quả đạt được

Quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin không chỉ là yêu cầu nhận thức đúng về thế giới hiện thực, mà còn là nguyên tắc phương pháp luận định hướng hành động thực tiễn. Vận dụng quan điểm này trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại NHNN giúp bảo đảm cho các chính sách, quy định pháp luật phản ánh trung thực thực tế khách quan, phù hợp với quy luật vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao tính khoa học, tính khả thi và tính ổn định của hệ thống pháp luật ngân hàng.

Trước hết, việc khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạch định và ban hành chính sách. Trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, mọi quyết định quản lý nếu chỉ dựa trên mong muốn chủ quan hoặc ý chí chính trị thuần túy, mà thiếu căn cứ vào quy luật khách quan của thị trường và các điều kiện vật chất cụ thể, đều có thể dẫn đến sai lệch trong điều hành. Chẳng hạn, việc đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng quá cao trong bối cảnh năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế có thể làm gia tăng nợ xấu, rủi ro thanh khoản, ảnh hưởng tới an toàn hệ thống ngân hàng. Do đó, văn bản quy phạm pháp luật cần được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu kinh tế - tài chính, đánh giá tác động chính sách, tuân thủ quy luật khách quan, thay vì dựa vào cảm tính hay ý chí áp đặt.

Bên cạnh đó, vận dụng quan điểm khách quan không có nghĩa là thụ động, phó mặc cho hoàn cảnh, mà đòi hỏi phải kết hợp giữa tính khách quan của quy luật với vai trò năng động, sáng tạo của con người. Trong thực tiễn xây dựng pháp luật, NHNN không chỉ phản ánh thực tế hiện tại mà còn cần chủ động dự báo xu hướng, nắm bắt sự vận động của nền kinh tế, từ đó thiết kế chính sách có tính mở, tính dự phòng và tầm nhìn dài hạn. Điều này thể hiện rõ trong các chính sách về chuyển đổi số ngân hàng, phát triển tài chính xanh, ứng dụng công nghệ trong thanh toán, khi NHNN chủ động học hỏi kinh nghiệm quốc tế nhưng vẫn điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Cùng với đó, chống biểu hiện của chủ nghĩa duy vật tầm thường cũng là yêu cầu quan trọng. Nếu hiểu sai quan điểm khách quan theo hướng máy móc, coi con người chỉ là sản phẩm bị động của hoàn cảnh, thì sẽ dẫn đến tư duy bảo thủ, ngại đổi mới, làm giảm sức sáng tạo trong quá trình xây dựng chính sách. Thực tiễn cho thấy, NHNN đã từng bước khắc phục hạn chế này bằng cách phát huy tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ cán bộ pháp chế, khuyến khích nghiên cứu, sáng kiến và ứng dụng công nghệ trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Mỗi cán bộ không chỉ làm việc theo quy trình hành chính, mà còn phải có năng lực phân tích, dự báo và tư duy phản biện, từ đó nâng cao chất lượng và tính thực tiễn của chính sách. Như vậy, vận dụng đúng đắn quan điểm khách quan giúp NHNN duy trì thế cân bằng giữa tuân thủ quy luật khách quan và phát huy vai trò chủ thể của con người. Đây không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là bảo đảm thực tiễn cho sự thành công trong công tác xây dựng pháp luật trên cơ sở tính khoa học, sáng tạo và khách quan được kết hợp hài hòa. Nhờ đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của NHNN ngày càng hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế, góp phần ổn định chính sách tiền tệ, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và thúc đẩy phát triển bền vững.

Trong những năm qua, NHNN đã quán triệt và vận dụng sâu sắc quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, qua đó đạt được nhiều kết quả tích cực cả về nhận thức, phương pháp và hiệu quả thực tiễn.

Thứ nhất, NHNN đã phản ánh đúng thực tế khách quan trong hoạch định chính sách và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo các văn bản ban hành có cơ sở khoa học, tính khả thi cao và phù hợp quy luật kinh tế. Các quy định về điều hành lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hoạt động tín dụng, thanh toán không dùng tiền mặt… đều được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu vĩ mô, diễn biến thị trường và nhu cầu thực tế của nền kinh tế, tránh tình trạng “tô hồng” hoặc “bôi đen” hiện trạng. Nhờ đó, chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Một minh chứng điển hình là Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 do NHNN ban hành quy định tỉ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo chuẩn Basel III, được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế, bảo đảm vừa phù hợp điều kiện nội tại, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Chính sách này thể hiện rõ tinh thần tôn trọng quy luật khách quan, vừa đảm bảo an toàn hệ thống, vừa tạo động lực đổi mới quản trị rủi ro trong các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, NHNN luôn xuất phát từ điều kiện khách quan và hành động theo quy luật kinh tế - tiền tệ, không lấy mong muốn chủ quan thay thế cho thực tế. Việc ban hành hay điều chỉnh các chính sách đều căn cứ vào quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ và năng lực thực tiễn của thị trường. Điều này thể hiện tư duy thực tiễn, linh hoạt, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, nâng cao chất lượng điều hành chính sách. Việc ban hành và điều chỉnh các chính sách được thực hiện linh hoạt, có cơ sở dữ liệu và dự báo kinh tế rõ ràng, như trong quá trình triển khai Đề án chuyển đổi số ngành của NHNN triển khai tiện ích cốt lõi phát triển ngành Ngân hàng, đảm bảo kết nối với Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Đây là một chủ trương được xây dựng dựa trên phân tích xu hướng phát triển công nghệ, năng lực thực tế của hệ thống ngân hàng và nhu cầu số hóa của người dân, qua đó thể hiện tư duy phát triển hiện đại nhưng vẫn bám sát quy luật khách quan của nền kinh tế số.

Thứ ba, NHNN cũng tăng cường tham vấn các tổ chức tín dụng, chuyên gia và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, đồng thuận và phù hợp thực tiễn. Việc chống biểu hiện của chủ nghĩa duy vật tầm thường giúp NHNN phát huy được tính năng động, sáng tạo và chủ động của đội ngũ cán bộ pháp chế. Quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trở nên khoa học và chuyên nghiệp hơn, có sự đổi mới trong phương pháp tiếp cận, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực dự báo chính sách.

Nhờ vận dụng và tận dụng đúng đắn quan điểm khách quan, NHNN đã tạo được sự hài hòa giữa tính khoa học và tính sáng tạo, giữa tuân thủ quy luật khách quan và phát huy vai trò chủ động của con người, góp phần nâng cao chất lượng thể chế, ổn định chính sách tiền tệ và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

3.2. Một số hạn chế, tồn tại

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trong quá trình vận dụng quan điểm khách quan vào công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện.

Trước hết, trong nhận thức và đánh giá thực tiễn, ở một số đơn vị vẫn còn biểu hiện thiếu toàn diện, chưa phản ánh đầy đủ bức tranh thực tế của hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ. Có lúc, việc nhận định tình hình còn nghiêng về xu hướng “lạc quan” hoặc “thận trọng” quá mức, dẫn đến chính sách ban hành chưa thật sự sát với biến động của thực tiễn hoặc chậm điều chỉnh khi bối cảnh thay đổi. Bên cạnh đó, trong tổ chức thực tiễn, vẫn tồn tại một số biểu hiện chủ quan và hành chính hóa trong quá trình soạn thảo chính sách. Một vài quy định còn thiếu cơ sở phân tích định lượng và dự báo khoa học, khiến việc thực thi đôi khi chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Đây là hạn chế phổ biến trong giai đoạn hệ thống pháp luật đang phải thích ứng nhanh với sự vận động phức tạp của nền kinh tế thị trường và chuyển đổi số.

Ngoài ra, tính sáng tạo và chủ động của đội ngũ cán bộ pháp chế tuy đã được chú trọng, nhưng vẫn chưa được phát huy tối đa. Một số cán bộ còn tâm lý thận trọng, e dè khi đề xuất những hướng tiếp cận mới, hoặc chưa mạnh dạn đổi mới tư duy trong xây dựng thể chế. Những hạn chế này phần nào bắt nguồn từ tư duy hành chính truyền thống, sự thiếu cập nhật các phương pháp phân tích hiện đại và nguồn thông tin thực chứng chưa thực sự đồng bộ. Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới cách tiếp cận, nâng cao năng lực nghiên cứu - dự báo, phát huy tinh thần khách quan, khoa học, sáng tạo trong toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

4. Một số khuyến nghị trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại NHNN

Để khắc phục những hạn chế nêu trên và tiếp tục phát huy hiệu quả của việc vận dụng quan điểm khách quan trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bài viết đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Một là, NHNN cần nâng cao chất lượng công tác khảo sát, phân tích và đánh giá tác động chính sách, coi đây là khâu nền tảng trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật. Việc thu thập và xử lý dữ liệu thực chứng, số liệu kinh tế - tài chính cần được tiến hành một cách khoa học, khách quan và thường xuyên cập nhật, giúp các quy định ban hành phản ánh đúng thực tế vận hành của thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng. Khi có cơ sở dữ liệu vững chắc, chính sách sẽ trở nên chính xác, khả thi và có sức sống trong thực tiễn.

Hai là, cần phát triển năng lực và tư duy biện chứng của đội ngũ cán bộ pháp chế, đặc biệt là kỹ năng phân tích, dự báo, tư duy phản biện và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, NHNN cũng cần khuyến khích tinh thần chủ động, sáng tạo và dám chịu trách nhiệm trong quá trình tham mưu, đề xuất chính sách. Một đội ngũ pháp chế có bản lĩnh và tư duy khoa học sẽ là điều kiện quyết định để vận dụng hiệu quả quan điểm khách quan vào thực tiễn quản lý nhà nước.

Ba là, NHNN tiếp tục mở rộng hoạt động tham vấn và hợp tác quốc tế, chủ động học hỏi các thông lệ tốt, kinh nghiệm điều hành ngân hàng trung ương từ các nước và tổ chức tài chính quốc tế. Việc tiếp thu cần được chọn lọc và điều chỉnh phù hợp với đặc thù của Việt Nam, bảo đảm tính độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách.

Bốn là, NHNN hoàn thiện xây dựng cơ chế phản hồi, giám sát và điều chỉnh chính sách linh hoạt, nhằm bảo đảm mỗi văn bản quy phạm pháp luật không chỉ phù hợp với điều kiện hiện tại mà còn có khả năng thích ứng nhanh với những biến động của thị trường và bối cảnh kinh tế mới. Việc kịp thời cập nhật, sửa đổi và hoàn thiện văn bản sẽ giúp hệ thống pháp luật luôn ổn định, đồng thời năng động và hiện đại.

Những giải pháp trên không chỉ góp phần nâng cao tính khách quan, khoa học và thực tiễn của hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, mà còn giúp NHNN xây dựng được một nền tảng pháp lý vững chắc, linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành Ngân hàng trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.

5. Kết luận

Quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin là nền tảng phương pháp luận quan trọng định hướng cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước và xây dựng pháp luật. Việc vận dụng đúng đắn quan điểm này giúp các chủ thể hoạch định chính sách nhìn nhận hiện thực một cách toàn diện, trung thực và khoa học, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp với quy luật khách quan của đời sống kinh tế - xã hội. Trong thực tiễn hoạt động của NHNN, quan điểm khách quan đã trở thành kim chỉ nam trong công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật. Các chính sách và quy định pháp luật được ban hành ngày càng bám sát thực tiễn, có cơ sở khoa học, phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Việc quán triệt và vận dụng hiệu quả quan điểm khách quan không chỉ nâng cao chất lượng, tính khả thi và tính minh bạch của chính sách, mà còn củng cố niềm tin của xã hội đối với hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng. Đây cũng là cơ sở để NHNN tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực dự báo, tăng tính chủ động và sáng tạo trong điều hành, hướng tới mục tiêu phát triển ổn định, bền vững và hội nhập sâu rộng với nền tài chính quốc tế.

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

2 Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Triết học Mác - Lênin. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

2. C.Mác & Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

4. Lênin, V.I. (1981). Toàn tập (Tập 18). Nxb Tiến bộ.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

7. Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

8. Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 của NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

9. Quyết định số 67/QĐ-NHNN ngày 06/01/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án chuyển đổi số của NHNN triển khai tiện ích cốt lõi phát triển ngành Ngân hàng, bảo đảm kết nối với Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” .

10. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

11. Trần Ngọc Linh (2020). Vận dụng quan điểm khách quan trong hoạt động hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận Chính trị.

12. Nguyễn Văn Phúc (2022). Hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng ở Việt Nam theo định hướng phát triển bền vững.

13. Võ Văn Đức (2019). Quan điểm khách quan trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa đối với công tác quản lý nhà nước hiện nay.

Phạm Anh Khoa
Trưởng phòng Giám sát, NHNN Khu vực 1

Tin bài khác

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển nhanh gắn với bền vững theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới thể chế, điều hành chính sách và phát triển tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội bền vững theo dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Quản lý phát triển xã hội thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn thể Nhân dân, của quốc gia, dân tộc, trong đó Nhà nước là chủ thể quan trọng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp là nòng cốt, Nhân dân là chủ thể quyết định...
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đây là lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột, điều kiện, động lực của mô hình phát triển nhanh, bền vững, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa xanh và cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam.
Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tư duy đột phá của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Nhìn tổng thể, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới, một Đảng kiên định, đổi mới và hành động vì hạnh phúc của nhân dân, vì một Việt Nam phồn vinh, hùng cường và thịnh vượng.
Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Từ “thế trận lòng dân” đến “thế trận số” - Sức mạnh mới của Đảng trong kỷ nguyên số hiện nay (Kỳ 3)

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành phần tất yếu của đời sống xã hội, việc xây dựng “thế trận số” vững chắc và chủ động làm chủ truyền thông số là yêu cầu chiến lược để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lan tỏa các giá trị đúng đắn, tích cực trong xã hội.
Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Giữ vững niềm tin trước “bão” thông tin sai lệch (Kỳ 2)

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển bùng nổ của công nghệ, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đối diện với thách thức chưa từng có từ những “cơn bão” thông tin sai lệch, xuyên tạc trên môi trường số.
Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Không gian số - Mặt trận mới trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Kỳ 1)

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp thiết và mang tính chiến lược hơn, đòi hỏi tư duy đổi mới, cách tiếp cận hệ thống, gắn kết giữa “xây” và “chống”, giữa “thế trận lòng dân” và “thế trận số”.
Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Xây dựng nhân lực quốc gia trong kỷ nguyên số: Từ thách thức đến bứt phá (Kỳ 5)

Bài toán về nguồn nhân lực số không chỉ là thách thức cấp bách đối với ngành giáo dục, mà còn là mối trăn trở của các nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nóng bỏng từng ngày. Để giải được bài toán này, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược và tổng thể: Quy hoạch nguồn nhân lực, thúc đẩy hợp tác quốc tế, cải cách giáo dục, đổi mới khu vực công, biến doanh nghiệp thành “trường học” và vun đắp văn hóa học tập suốt đời.
Xem thêm
Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Cơ chế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực Fintech - Trường hợp của Việt Nam

Bài viết này phân tích cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (gọi tắt là cơ chế thử nghiệm) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam, chỉ ra các cơ hội và rủi ro tiềm ẩn khi triển khai cơ chế thử nghiệm nhằm thúc đẩy tài chính số, qua đó đề xuất định hướng chính sách minh bạch và bền vững.
Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Phát triển tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp: Kết quả năm 2025 và hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng năm 2026

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh từ năm 2025, bài viết phân tích vai trò trung tâm của tài chính xanh trong nông nghiệp, với các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí chủ đạo nhằm ứng phó rủi ro khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điểm tựa vững chắc cho ổn định kinh tế và niềm tin thị trường

Trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế nhiều biến động, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát huy vai trò trung tâm trong điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2023 - 2025, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững giai đoạn 2025 - 2030.
Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 đối với các ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích một số luận điểm về áp dụng chuẩn mực IFRS S1, IFRS S2 (hai chuẩn mực báo cáo bền vững toàn cầu đầu tiên do Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB) thuộc Tổ chức Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS Foundation) ban hành năm 2023, giúp doanh nghiệp công bố thông tin về rủi ro và cơ hội liên quan đến phát triển bền vững (S1) và khí hậu (S2) một cách nhất quán, minh bạch, hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư, hướng tới một ngôn ngữ chung cho báo cáo bền vững trên toàn thế giới) đối với các ngân hàng tại Việt Nam và làm rõ vai trò của hai chuẩn mực báo cáo bền vững này như “ngôn ngữ chung” nhằm giúp hệ thống ngân hàng minh bạch hóa rủi ro cũng như cơ hội khí hậu, từng bước hội nhập sâu vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử gắn với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Luật Thương mại điện tử năm 2025 ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi quan trọng đối với hệ sinh thái thương mại điện tử, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm phát huy vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cho nền kinh tế số Việt Nam.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng