Trái phiếu xanh: Việt Nam trong nỗ lực bắt nhịp với kỷ nguyên tài chính xanh toàn cầu

Nghiên cứu - Trao đổi
Bài viết này phân tích tiềm năng phát triển trái phiếu xanh tại Việt Nam, một công cụ tài chính xanh phổ biến trên thế giới hiện nay. Dựa trên cách tiếp cận lý thuyết về khái niệm, đặc điểm và tiêu c...
aa

Bài viết này phân tích tiềm năng phát triển trái phiếu xanh tại Việt Nam, một công cụ tài chính xanh phổ biến trên thế giới hiện nay. Dựa trên cách tiếp cận lý thuyết về khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn của trái phiếu xanh cũng như thực tiễn thị trường trái phiếu xanh trên toàn cầu, bài viết phân tích một số thách thức trong phát triển trái phiếu xanh tại Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển trái phiếu xanh tại Việt Nam.


1. Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu xanh

Cho đến nay, không có định nghĩa phổ quát về trái phiếu xanh, mặc dù sự đồng thuận ngày càng tăng về ý nghĩa của trái phiếu này. Thuật ngữ trái phiếu xanh chỉ các trái phiếu có số tiền thu được dùng để tài trợ các dự án có tác động tích cực đến môi trường hoặc khí hậu, với phạm vi rộng lớn, bao gồm giao thông, quản lý chất thải, xây dựng công trình, sử dụng nước và đất. Một số định nghĩa cũng bao gồm truyền thông và công nghệ thông tin. Có thể tham khảo khái niệm về trái phiếu xanh của một số tổ chức tài chính lớn trên thế giới và trong khu vực như sau:

Theo định nghĩa của Tổ chức Sáng kiến Trái phiếu Khí hậu (CBI) trái phiếu xanh là trái phiếu được phát hành nhằm huy động vốn cho những giải pháp biến đổi khí hậu do chính phủ, ngân hàng, địa phương hoặc doanh nghiệp phát hành, dán nhãn TPX dưới dạng chứng khoán nợ bao gồm chứng khoán hóa, phát hành riêng lẻ, trái phiếu có đảm bảo.

Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (ICMA): Trái phiếu xanh cho phép huy động vốn và đầu tư cho các dự án mới và các dự án hiện hành có lợi ích cho môi trường.

Theo Bộ Tiêu chuẩn Trái phiếu Xanh ASEAN, Trái phiếu Xanh đề cập đến các trái phiếu tài trợ hoặc tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ cho các dự án Xanh là tất cả các dự án cung cấp lợi ích cho môi trường bao gồm: (1) Năng lượng tái tạo; (2) Hiệu quả năng lượng; (3) Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; (4) Quản lý sự bền vững của môi trường trong sử dụng đất và môi trường sống tự nhiên; (5) Bảo tồn đa dạng sinh học trên cạn và dưới nước; (6) Giao thông sạch; (7) Quản lý nước và nước thải bền vững; (8) Thích ứng với biến đổi khí hậu; (9) Quy trình và công nghệ sản xuất thích nghi với kinh tế hiệu quả; (10) Các tòa nhà xanh có chứng nhận hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn được công nhận của quốc tế, trong nước và khu vực.

Theo định nghĩa, tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB): Chương trình Trái phiếu Xanh của WB hỗ trợ các nước trong việc tăng trưởng và phát triển phục hồi khí hậu và cácbon thấp, bao gồm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, với điều kiện tuân thủ các chính sách bảo an của WB đối với các vấn đề xã hội và môi trường. Các dự án đủ điều kiện được hỗ trợ bởi chương trình Trái phiếu Xanh được các chuyên gia về môi trường của WB lựa chọn và phải đáp ứng các tiêu chí điều kiện của WB về cácbon thấp và phát triển phục hồi khí hậu.

Đặc điểm của trái phiếu xanh

Giống như các trái phiếu khác, trái phiếu xanh là một công cụ tài chính lãi suất cố định để huy động vốn từ các nhà đầu tư qua thị trường vốn. Tổ chức phát hành huy động một khối lượng vốn cố định có kỳ hạn từ các nhà đầu tư, trả gốc khi đáo hạn và trả lãi định kỳ trong thời gian huy động. Đặc điểm khác biệt với trái phiếu thường chính là trái phiếu xanh được tổ chức phát hành và/hoặc các cơ quan có thẩm quyền dán nhãn là “xanh”, theo đó tổ chức phát hành cam kết sử dụng số tiền thu được một cách minh bạch và đặc biệt là tài trợ hoặc tái tài trợ cho các dự án “xanh”, các tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh có lợi ích cho môi trường. Ngoài ra, do xuất phát từ mục đích sử dụng vốn nên trái phiếu xanh còn có một số các điều khoản đặc biệt về cơ chế trả nợ, truy đòi/miễn truy đòi tổ chức phát hành.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể áp dụng dán nhãn màu xanh cho trái phiếu và đưa vào một chỉ số trái phiếu xanh, hoặc phân biệt thông qua thẻ “tag” trên các công cụ phân tích được sử dụng rộng rãi trong thị trường tài chính như trên kênh của Bloomberg.

2. Tiêu chuẩn trái phiếu xanh toàn cầu

Theo thông lệ, các nước có thị trường trái phiếu xanh phát triển đều dựa trên bộ Nguyên tắc Trái phiếu xanh (GBP) của Hiệp hội thị trường vốn quốc tế (ICMA), bao gồm bốn nguyên tắc chính về phát hành: (1) Mục đích sử dụng tiền thu từ phát hành cho các dự án xanh phải được công bố rộng rãi trước khi phát hành để nhà đầu tư có thể theo dõi; (2) Quy trình đánh giá và lựa chọn dự án: Tổ chức phát hành trái phiếu xanh cần xây dựng một quy trình nội bộ xác định các dự án đủ điều kiện sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu xanh; (3) Số tiền thu được từ trái phiếu xanh phải được hạch toán riêng và thuận tiện cho tổ chức phát hành trong việc quản lý, theo dõi và phân bổ cho các dự án xanh; (4) Chế độ báo cáo: Tổ chức phát hành phải báo cáo, cập nhật về việc sử dụng, giải ngân đầy đủ nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu xanh, khuyến khích sử dụng những chỉ tiêu định lượng, định tính để đánh giá hiệu quả dự án.

Ngoài ra, việc có một tổ chức độc lập thẩm định, chứng nhận được ICMA khuyến nghị là rất cần thiết để xác định trái phiếu đủ tiêu chuẩn xanh dưới dạng tư vấn, xếp hạng tín nhiệm, dán nhãn… Đôi khi do thiếu các tiêu chuẩn được chấp nhận toàn cầu hoặc xác minh nhất quán, nhận thức về trái phiếu xanh cũng có thể khác nhau. Trung Quốc, nơi có lượng xả thải cácbon lớn nhất thế giới và đang là nhà phát hành trái phiếu xanh thứ 2 thế giới (sau Mỹ), đã phải đối mặt với các chỉ trích vì sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu xanh để tài trợ cho các nhà máy nhiệt điện, ngay cả khi áp dụng công nghệ sạch hơn so với trước. Các báo cáo cho biết Trung Quốc có thể phải bỏ cái gọi là than sạch từ các định nghĩa trái phiếu xanh để hài hòa với các tiêu chuẩn của EU và các nhà đầu tư trong nước.

Thị trường trái phiếu xanh đã phát triển trên toàn thế giới trong thập kỷ qua, tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng hiệu quả và các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường khác chống lại biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, theo ước tính của Tổ chức Năng lượng quốc tế IEA, để giảm một nửa lượng khí thải toàn cầu vào năm 2050, thế giới sẽ cần một khoản đầu tư lên đến 46.000 tỷ USD. Do đó, trái phiếu xanh được xem là một giải pháp hiệu quả để huy động vốn đầu tư phát triển một nền kinh tế xanh. (Bảng 1, 2)


Số lượng trái phiếu xanh được phát hành đã tăng mạnh từ 1 tỷ USD năm 2007 lên 167,3 tỷ USD năm 2018 với Mỹ, Trung Quốc và Pháp chiếm 47% khối lượng. Trước đây, trái phiếu xanh được phát hành bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Đầu tư Châu Âu, đến nay đã có sự tham gia của các nhà phát hành truyền thống khác như chính phủ, các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế, các công ty lớn trên thế giới.

3. Thực trạng phát triển trái phiếu xanh của Việt Nam

Việt Nam có một nền kinh tế sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, với gần hai phần ba năng lượng được cung cấp từ than, dầu và khí đốt. Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong những năm gần đây đã khiến Việt Nam trở thành một nước nhập khẩu than từ năm 2015. Tuy nhiên, Việt Nam là một quốc gia giàu tiềm năng với nguồn năng lượng tái tạo dồi dào, đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và sinh khối chưa được khai thác. Sự phụ thuộc quá mức vào nhiên liệu hóa thạch đang đe dọa an ninh năng lượng của quốc gia. Ngoài ra, Việt Nam đã đang gặp những vấn đề nghiêm trọng về môi trường liên quan đến biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí. Nghiên cứu của các tổ chức quốc tế cho rằng biến đổi khí hậu có thể làm Việt Nam tổn thất 15 tỷ USD/năm, tương đương 5% GDP. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi Việt Nam phải thay thế dần nhiên liệu hóa thạch bằng các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường. Như vậy, Việt Nam cần phải thiết lập một khung chính sách tài chính xanh và tạo ra các công cụ tài chính xanh để huy động tài trợ cho phát triển bền vững, thúc đẩy năng lượng xanh, thực hiện các giải pháp nhằm thích nghi và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Theo Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn năm 2050 (Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012), từ năm 2012, Việt Nam đã có định hướng về tài chính xanh và sản phẩm tài chính xanh cho thị trường chứng khoán Việt Nam để tạo nguồn tài chính cho tăng trưởng xanh.

Đến năm 2014, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020” và được Bộ Tài chính tiếp tục triển khai ban hành Kế hoạch hành động ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020 (Quyết định số 2183/QĐ-BTC tháng 10/2015) nhằm xây dựng, hoàn thiện khung chính sách tài chính, phát triển thị trường vốn xanh.

Cuối năm 2015, trên khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã xây dựng Đề án Phát triển thị trường trái phiếu xanh.

Năm 2017, Chính phủ ban hành lộ trình phát triển thị trường trái phiếu năm 2017-2020, tầm nhìn năm 2030 (Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017) quy định cơ chế và chính sách phân phối thị trường trái phiếu xanh nhằm mục đích cho phép tổ chức phát hành huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu để thực hiện các dự án xanh.

Tháng 8/2018, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam. Một trong những mục tiêu của Đề án là phấn đấu đến năm 2025, 100% ngân hàng thực hiện đánh giá rủi ro môi trường xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường cho các dự án được ngân hàng cấp vốn vay; 60% ngân hàng tiếp cận được nguồn vốn xanh và triển khai cho vay các dự án tín dụng xanh…

Trong những năm gần đây, các Bộ, ngành đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ thị trường trái phiếu xanh như hướng dẫn các doanh nghiệp công bố thông tin, cung cấp tính minh bạch về các hoạt động tài chính xanh và khuyến khích doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán để thực hiện các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên với các nội dung về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, đến nay, Việt Nam mới thực hiện một số chương trình phát hành trái phiếu xanh mang tính thí điểm, chưa thực hiện phát hành trái phiếu xanh chính thức.

Ngoài thị trường trái phiếu chính phủ xanh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh cũng là một kênh tiềm năng cho các dự án xanh của các doanh nghiệp. Để tạo điều kiện phát triển thị trường trái phiếu xanh, Chính phủ đã nỗ lực trong việc xem xét, cải thiện và ban hành các chính sách và pháp luật liên quan với mục đích thúc đẩy trái phiếu doanh nghiệp xanh. Đặc biệt, ngày 04/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 163/2018/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/02/2019 (gọi tắt là Nghị định 163). Tuy chưa quy định nhiều tiêu chuẩn riêng đối với trái phiếu xanh, Nghị định này đã bổ sung khái niệm, định nghĩa và một số quy định về trái phiếu doanh nghiệp xanh. Theo Điều 4.3 của Nghị định 163, trái phiếu doanh nghiệp xanh là trái phiếu doanh nghiệp được phát hành để đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường. Bên cạnh việc tuân thủ các quy định về phát hành trái phiếu bao gồm các điều kiện cơ bản để phát hành trái phiếu, điều khoản, điều kiện trái phiếu, điều kiện phát hành trái phiếu thị trường trong nước, quốc tế, chế độ công bố thông tin và báo cáo như của trái phiếu doanh nghiệp; Khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp xanh, tổ chức phát hành phải hạch toán riêng và quản lý vốn huy động từ trái phiếu xanh của công ty. Số vốn này phải được giải ngân cho các dự án bảo vệ môi trường theo kế hoạch của doanh nghiệp và được phê duyệt bởi các cơ quan có thẩm quyền. Các tổ chức phát hành còn được yêu cầu công bố thông tin về quy trình quản lý và rút vốn huy động từ phát hành trái phiếu xanh, và đưa báo cáo tác động môi trường vào công bố thông tin thường xuyên của doanh nghiệp. Các quy định về trái phiếu doanh nghiệp xanh theo Nghị định 163 dự kiến sẽ tạo ra một kênh tiềm năng để huy động vốn cho các dự án xanh trong khu vực tư nhân, tạo nền tảng cho giao dịch sản phẩm phái sinh xanh tại Việt Nam; tạo khung pháp lý để thu hút thêm đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đến các dự án liên quan đến môi trường tại Việt Nam.

Một số thách thức trong việc phát triển thị trường trái phiếu xanh

Mặc dù thị trường trái phiếu xanh toàn cầu đang phát triển nhanh chóng, nhưng Việt Nam nói riêng cũng như các nước đang phát triển nói chung đang còn phải đối mặt với nhiều thách thức, việc triển khai áp dụng các chiến lược, chính sách tài chính xanh còn gặp nhiều rào cản bao gồm rào cản từ thể chế đến thị trường.

- Thách thức về thể chế: Thông thường các Bộ khác nhau với các nhiệm vụ và kỹ năng khác nhau đang theo đuổi các mục tiêu khác nhau nếu các mục tiêu này không xung đột trong quá trình thực hiện chính sách của chính phủ với ưu tiên phát triển đất nước. Sự phân loại các ưu tiên và nhiệm vụ có thể dẫn đến làm giảm ảnh hưởng đối với chính sách của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Do đó, sự phối hợp hiệu quả giữa Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường là rất cần thiết để phát triển trái phiếu xanh. Ví dụ, chính sách trợ giá điện, duy trì tỷ lệ lạm phát hàng năm trung bình dưới 5% sẽ làm giảm cơ hội cạnh tranh của các dự án năng lượng tái tạo. Ngoài ra, trái phiếu xanh đòi hỏi các kỹ năng, kỹ thuật để theo dõi và đánh giá việc sử dụng tiền thu được trong suốt vòng đời dự án, đảm bảo rằng các dự án được thực hiện theo Nguyên tắc Trái phiếu Xanh (GBP).

- Thách thức từ thị trường: Có 03 thách thức từ thị trường quan trọng tác động đến sự phát triển trái phiếu xanh của các nước đang phát triển là (1) vấn đề quy mô tối thiểu, trong đó nhiều dự án quy mô nhỏ không đáp ứng các ngân hàng, tổ chức tài chính lớn trên thế giới; (2) tiền tệ phát hành, do là loại tiền tệ không thể chuyển đổi nên dẫn đến khả năng phải phát hành trái phiếu ngoại tệ nếu muốn phát hành khối lượng lớn; (3) chi phí phát hành cao, do nhà phát hành phải chịu thêm chi phí để có được chứng nhận trái phiếu xanh từ cơ quan đánh giá độc lập và các hoạt động công bố thông tin, báo cáo về việc phân bổ số tiền thu được từ trái phiếu xanh trong suốt vòng đời dự án.

4. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam

Để đạt được chiến lược tăng trưởng xanh mà chính phủ Việt Nam đã đề ra, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp để giải quyết các thách thức, biến những thách thức thành cơ hội, cụ thể:

(1) Chính phủ Việt Nam cần nhất quán trong quá trình triển khai chiến lược, tăng cường cụ thể hóa nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trên cơ sở phối hợp hiệu quả trong việc ban hành các chính sách; Đặc biệt, Việt Nam cần có cam kết mạnh mẽ hơn trong việc thiết lập giá cả theo định hướng thị trường, giúp giảm nhu cầu than so với khí đốt tự nhiên sạch và các nguồn năng lượng thay thế khác. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, lợi ích của việc tái cấu trúc hệ thống giá năng lượng sẽ có lợi cho Việt Nam khi tạo cơ hội tăng hệ thống phúc lợi xã hội thay vì chi tiêu cho trợ cấp năng lượng như hiện nay. Theo WB (2016), để đảm bảo sự bền vững tài chính cho EVN cũng như tạo ra mức giá năng lượng hấp dẫn để thu hút đầu tư, giá năng lượng nên tăng khoảng 10% mỗi năm thay vì phản ánh tỷ lệ lạm phát trung bình dưới 5% hàng năm. Trong trung hạn, cải cách giá điện và cắt giảm trợ cấp cho các công nghệ nhiên liệu hóa thạch sẽ cho phép đầu tư nhiều hơn vào công nghệ năng lượng tái tạo với sự cạnh tranh tương đối bình đẳng;

(2) Hoàn thiện khung chính sách tài chính xanh: Trên cơ sở hành lang pháp lý hiện có, Chính phủ Việt Nam cần ban hành các văn bản cụ thể quy định rõ các tiêu chuẩn trong việc xác định trái phiếu xanh, dự án xanh cũng như các nguyên tắc trong việc phát hành và quản lý, sử dụng nguồn vốn hình thành từ trái phiếu xanh để làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng. Nghiên cứu và xây dựng bộ chỉ số đánh giá các công ty phát triển bền vững nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư cho trái phiếu xanh;

(3) Việt Nam tiếp tục có những chính sách ưu đãi để khuyến khích các tổ chức phát hành trái phiếu xanh và thu hút các nhà đầu tư quan tâm đến loại tài sản này. Sau khi đưa ra được các tiêu chuẩn liên quan đến trái phiếu xanh, Nhà nước cần đưa ra những ưu đãi về thuế, phí hoặc những thuận lợi khác cho các tổ chức phát hành cũng như những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong đề án về trái phiếu xanh, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội đã đưa ra đề xuất đối với Ngân hàng Nhà nước chấp thuận sử dụng trái phiếu xanh trong thị trường mở với ưu đãi là tỷ lệ chiết khấu ở mức cao hơn so với các loại trái phiếu cùng loại, chấp nhận sử dụng một số loại trái phiếu xanh để làm dự trữ bắt buộc… Điều này sẽ tạo ra tác động tốt đến việc khuyến khích các ngân hàng sở hữu trái phiếu xanh trong danh mục tài sản của mình, góp phần thúc đẩy thị trường phát triển.

(4) Tăng cường vai trò trung gian của ngân hàng trong việc phát hành và quản lý trái phiếu xanh do các điều kiện thuận lợi như xếp hạng tín dụng cao và bộ máy quản trị chuyên nghiệp. Như đã nêu ở trên, hầu hết các dự án xanh được thực hiện ở các nước đang phát triển có quy mô nhỏ, không đáp ứng yêu cầu quy mô tối thiểu của các ngân hàng, tổ chức tài chính lớn trên thế giới, do đó, việc gộp các dự án quy mô nhỏ, sử dụng các ngân hàng làm trung gian huy động sẽ có thể đạt được các điều khoản tài trợ có lợi hơn đối với các dự án xanh. Chính phủ Việt Nam cũng có thể xem xét đến việc thành lập một ngân hàng đầu tư xanh để phục vụ riêng mục đích đầu tư xanh. Theo OECD (2014), một ngân hàng xanh là một tổ chức công hoặc bán công được thành lập để tạo điều kiện cho đầu tư tư nhân vào các dự án cácbon thấp, có khả năng phục hồi khí hậu. Mô hình ngân hàng xanh có thể là một công cụ thực sự hiệu quả để phân luồng đầu tư tư nhân hướng tới các dự án thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, do chi phí thành lập một ngân hàng mới cao, cùng với việc thiếu hụt nguồn vốn và nguồn nhân lực lành nghề, sử dụng hiệu quả các ngân hàng trong nước hiện nay là giải pháp tốt nhất. Trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam không chỉ cần nghiên cứu thêm về kỹ thuật thực hiện thành lập và vận hành mô hình ngân hàng xanh mà còn cần cải thiện việc thu thập dữ liệu cho tương lai dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu về thị trường trái phiếu xanh tại các nước có nền kinh tế mới nổi.

(5) Bên cạnh những giải pháp về chính sách, chế độ nêu trên, Chính phủ Việt Nam cần nâng cao nhận thức của người dân. Những chính sách liên quan đến tăng trưởng xanh nói chung, hệ thống tài chính xanh nói riêng cần được tuyên truyền rộng rãi đến người dân, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư để hoàn thiện đầy đủ yếu tố cung cầu cho việc phát triển trái phiếu xanh tại Việt Nam.

Kết luận

Có thể thấy, cùng với sự tăng nhận thức về biến đổi khí hậu từ các nhà đầu tư, các cam kết của các nhà hoạch định chính sách để chống lại biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, nền tảng để phát triển trái phiếu xanh ở Việt Nam đã có. Bằng cách phối hợp hiệu quả giữa các Bộ, ngành, khu vực công và tư nhân, sự liên kết giữa các tổ chức tài chính, ngân hàng với doanh nghiệp và nhà cung cấp giải pháp công nghệ, Việt Nam có thể tăng cường phát triển trái phiếu xanh, từ đó, đẩy nhanh việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh;

(2) Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020;

(3) Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030;

(4) Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch hành động của ngành tài chính thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020;

(5) Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 7/8/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam;

(6) Nghị định 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp;

(7) Học viện Ngân hàng phát triển Châu Á: Tài chính xanh tại Việt Nam- các rào cản và giải pháp;

(8) Thị trường trái phiếu xanh: Một nguồn tài chính khí hậu tiềm năng của các nước đang phát triển. Josue Banga (2019), Journal of Sustainable Finance & Investment, 9:1, 17-32, DOI:10.1080/20430795.2018.

1498617

(9) Nguyên tắc Trái phiếu xanh (GBP) của Hiệp hội thị trường vốn quốc tế (ICMA).


ThS. Quản Thu Trang

TCNH Số 17/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành