Tiết kiệm, chống lãng phí - nhìn từ góc độ thể chế

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: Trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách...
aa

Lãng phí là bạn đồng hành của tham nhũng. Một quốc gia, ngay cả một cá nhân cũng không thể giàu hoặc giàu bền vững khi mà mặc sức lãng phí, không biết tiết kiệm!

Sinh thời, V.I. Lênin đã căn dặn: “Chúng ta phải thực hành tiết kiệm tột mức trong bộ máy nhà nước của chúng ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nhấn mạnh: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ…; Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn!”

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sớm được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo với hàng loạt chỉ thị, nghị quyết, kết luận của các cấp lãnh đạo và luật định về phòng, chống lãng phí, tiêu biểu như Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương (khóa X); Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013 của Quốc hội. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”.

Trong bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với nhan đề “Chống lãng phí” đã khẳng định: Trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách...

1. Nhận diện biểu hiện, nguyên nhân và hệ lụy lãng phí

Lãng phí là việc sử dụng không hiệu quả của cải, vật chất xã hội vào một công việc, bất kể đó là việc công hay việc riêng.

Lãng phí là việc “làm tốn kém, hao tổn một cách vô ích” (từ điển tiếng Việt thông dụng), hoặc là “làm một cách vô ích tiền tài, sức lực, thời gian” (từ điển Hán Việt).

Theo Điều 3 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, lãng phí là việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên không hiệu quả. Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định.

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu răn dạy lối sống cần kiệm: Bát ăn bát để (phải biết dè sẻn, tích lũy); Thắt lưng buộc bụng (tiết kiệm, không tiêu xài hoang phí); Bóp mồm, bóp miệng (hạn chế hết mức việc chi tiêu chưa cấp thiết); Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm (biết chi tiêu hợp lý, làm ăn có kế hoạch thì sẽ được no đủ); Làm khi lành để dành khi đau (khi trẻ, khỏe phải biết dành dụm phòng khi già, yếu); Tích tiểu thành đại (kiên trì dành dụm thì sẽ đủ đầy); Ở đây một hạt cơm rơi, ngoài kia bao hạt mồ hôi thấm đồng (kiếm tiền khó khăn nên phải biết chi tiêu hợp lý)…

Lối sống tiết kiệm xuất phát từ triết lý sống của người Việt rằng, mỗi người phải có trách nhiệm với mình, gia đình, xã hội và các thế hệ mai sau. Mặc dù vậy, người Việt xưa chú ý tiết kiệm trong tiêu dùng hơn là tiết kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong sinh hoạt cá nhân hơn là tiết kiệm trong các sinh hoạt khác liên quan đến cộng đồng, nhất là không có thói quen tiết kiệm thời gian...

Ngày nay, lối sống tiết kiệm trong truyền thống của dân tộc ta cần được kế thừa gắn với đổi mới trong quan niệm về tiết kiệm cho phù hợp với đời sống của xã hội hiện đại và điều kiện phát triển của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay, việc nâng cao ý thức tiết kiệm, tích lũy để mở rộng sản xuất vẫn đóng vai trò tích cực với việc nâng cao năng suất lao động, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống đa dạng của con người.

Tiết kiệm không phải là khuyến khích giảm thiểu nhu cầu, mà chính là nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu hợp lý của con người với cùng một khoản chi phí. Tiết kiệm theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” chứ không phải là bủn xỉn. “Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm”.

Ngày 25/12/2023, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Theo đó, Chỉ thị yêu cầu: Quán triệt, nâng cao nhận thức; thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là văn hóa ứng xử của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Tuy vậy, thực tế Việt Nam cho thấy, lãng phí vẫn còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, phức tạp và ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng nghiêm trọng cho sự phát triển của đất nước, nổi bật là:

Thứ nhất, lãng phí trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn có một số biểu hiện và căn nguyên gây lãng phí, như: Tiến độ và chất lượng văn bản quy định pháp lý cũng như một số hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí chất lượng thấp, chậm ban hành và chậm được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện và thông suốt, bộ máy nhà nước có nơi, có lúc hoạt động kém hiệu năng, thiếu phối hợp, còn một bộ phận cán bộ nhũng nhiễu, thiếu năng lực, sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy công việc…

Sự chậm trễ ban hành văn bản và tháo gỡ các vướng mắc cần thiết, hoặc chậm điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các văn bản đã không còn phù hợp với thực tế đều có thể gây ra các lãng phí xã hội và gây tăng chi phí cơ hội lớn đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời, làm giảm hiệu quả điều hành của Chính phủ.

Một bộ phận cán bộ mắc bệnh thành tích, tư duy nhiệm kỳ, tư duy chủ quan, tâm lý coi nhẹ việc chống lãng phí, coi lãng phí là hành vi cần khắc phục, chưa phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hoặc chỉ chú ý chống lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, mà không đánh giá hết sự lãng phí về cơ hội và thời gian...

Cần nhấn mạnh rằng, việc tuyển dụng và bổ nhiệm một cán bộ thiếu năng lực và trách nhiệm công vụ sẽ mang lại sự lãng phí ghê gớm trong nhiều thập kỷ khó tính được bằng tiền, mà quy mô sẽ tỉ lệ thuận với độ cao, độ dài trong cương vị và thời gian mà cán bộ đó nắm giữ trong bộ máy công quyền.

Thứ hai, lãng phí trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tài sản công

Sự lãng phí còn gắn với tình trạng không ít dự án đầu tư công được xây dựng vội vàng, thiếu căn cứ khoa học, thực tiễn hoặc chất lượng thấp, chậm triển khai cả trong khâu lập chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thiết kế kỹ thuật và xây dựng, lỏng lẻo trong quản lý và khai thác sử dụng sau hoàn thành làm đội vốn hoặc tăng chi phí bảo dưỡng, bảo trì; với việc trì trệ, không tính đúng, tính đủ trong cổ phần hóa, xử lý thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước; với tình trạng bỏ hoang hoặc sử dụng sai mục đích trong quá trình sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, các dự án sử dụng nhiều tài nguyên đất và nước; với tình trạng đầu tư và thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia, các gói tín dụng hỗ trợ phát triển an sinh xã hội không đồng bộ, còn chậm và thiếu giám sát.

Hơn nữa, sự lãng phí còn biểu hiện ở tính không tuân thủ quy trình xây dựng, biểu hiện rõ nhất ở cảnh “kẻ đào - người lấp” khi làm hè, đường giao thông và trong quản lý đô thị diễn ra kéo dài, phổ biến, đúng quy trình riêng lẻ ở các cấp và địa phương, mà không có ai chịu trách nhiệm…

Thứ ba, lãng phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của nhân dân diễn ra dưới nhiều hình thức

Trong nhiều hoạt động tiêu dùng, sản xuất và đời sống sinh hoạt xã hội, còn quá nhiều biểu hiện hoang phí các nguồn tài nguyên đất đai, nguyên liệu, năng lượng, tài chính vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, hoặc để chạy theo thành tích hoặc phô trương, hình thức, bất chấp hiệu quả…

Căn nguyên sâu xa của việc lãng phí của công và trong xã hội chính là quán tính cơ chế xin - cho, lối sống thực dụng, ích kỷ và tâm lý “cha chung không ai khóc”, dẫn đến việc mỗi người chỉ quan tâm nhất đến quyền lợi vật chất của cá nhân mình, bất chấp lợi ích tập thể và lợi ích chung quốc gia. Đồng thời, thiếu các chế tài đủ mạnh, cơ chế quản lý đủ hấp dẫn để phòng, chống lãng phí, đề cao tiết kiệm.

Tất cả những bất cập thể chế trên đây đã, đang và sẽ tiếp tục làm suy giảm năng lực, hiệu lực và hiệu quả thể chế; làm tăng chi phí cơ hội cả về thời gian, công sức và tài chính, cũng như tạo khó khăn, cản trở việc thực thi, gây thất thoát, lãng phí các nguồn lực xã hội, lãng phí cơ hội đầu tư và cơ hội phát triển, giảm hiệu quả sản xuất của người dân, doanh nghiệp, địa phương và của đất nước; làm tăng cơ hội tham nhũng và suy kiệt nguồn lực xã hội, cả tài chính và tài nguyên, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tạo rào cản vô hình trong thu hút đầu tư nước ngoài, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước, hạn chế sức cạnh tranh cả vi mô và vĩ mô, làm suy giảm lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước và chế độ…

Còn nhiều khu “đất vàng” bị bỏ hoang gây lãng phí tài nguyên đất đai
Còn nhiều khu “đất vàng” bị bỏ hoang gây lãng phí tài nguyên đất đai

2. Những đột phá thể chế cần có để thúc đẩy tiết kiệm, phòng, chống lãng phí

Thực tiễn đòi hỏi công tác phòng, chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ với những trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, thống nhất nhận thức và xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí

Thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng văn hóa tiết kiệm, ý thức tiết kiệm chống lãng phí trong từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và gia đình; đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng và tuyên truyền, nâng cao nhận thức, củng cố ý thức, trách nhiệm từng cán bộ, đảng viên và người lao động, nhất là người đứng đầu cả khu vực công, khu vực tư, tạo dư luận rộng rãi đồng thuận, ủng hộ và tự giác, tự nguyện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, coi chống lãng phí gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực sự là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, là hành động yêu nước của công dân và cán bộ, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, coi việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ hằng ngày, tự nhiên và bắt buộc, là trách nhiệm và đạo đức xã hội gắn với thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật.

Tiết kiệm, chống lãng phí phải được thể hiện rõ nét qua những quy chế, cam kết, kế hoạch, có lãnh đạo, có chỉ tiêu cụ thể, tiến hành thường xuyên, triệt để và cần được đưa vào yêu cầu đánh giá hoàn thành nhiệm vụ và là mục tiêu cho các cuộc vận động, phong trào thi đua về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Đưa nội dung cụ thể chống lãng phí đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức... vào trong các cuộc sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, trong quá trình triển khai nhiệm vụ chính trị của chính cơ quan, tổ chức, ngành, lĩnh vực. Đồng thời, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên, đặc biệt là kiểm tra, giám sát kịp thời khi có ý kiến phản ánh của người dân về tình trạng lãng phí. Đặc biệt, nội dung thực hành tiết kiệm cần trở thành một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại quan trọng nhất của năm ở mỗi cơ quan, đơn vị; có hình thức xử lý kịp thời theo mức độ đối với tình trạng lãng phí…

Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong thực hiện tốt công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đồng thời, xử lý nghiêm các cá nhân, tập thể gây thất thoát, lãng phí tài sản công.

Đặc biệt, cần sớm ban hành quy định của Đảng nhận diện cụ thể những biểu hiện lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; quy định vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng, chống lãng phí; xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí.

Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo hướng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho giám sát, kiểm tra, phát hiện, xử lý mạnh, có tính răn đe cao đối với các hành vi lãng phí; xây dựng cơ chế thực sự hữu hiệu cho giám sát, phát hiện lãng phí của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân. Đẩy mạnh phát hiện, xử lý nghiêm minh các vi phạm gây lãng phí lớn tài sản công theo tinh thần “xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thể chế, xây dựng Nhà nước, Chính phủ hiệu quả

Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực, giải quyết, khắc phục điểm nghẽn, mở rộng không gian, tạo đà cho phát triển.

Thường xuyên đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách sau ban hành để kịp thời điều chỉnh bất cập, mâu thuẫn, giảm tối đa thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp, chống bệnh quan liêu và giảm thiểu thất thoát, lãng phí các nguồn lực. Rà soát, bổ sung các quy định về cơ chế quản lý, các định mức kinh tế - kỹ thuật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Hoàn thiện các quy định về quản lý, sử dụng tài sản công; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ thực tài và hiệu quả.

Đặc biệt, trong quản lý nhà nước, không chỉ coi trọng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, đầu tư công hiệu quả, mà còn cần nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở chủ động tham chiếu và vận dụng kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bộ máy của Chính phủ; làm rõ và phân định rõ địa vị pháp lý, trách nhiệm, phân cấp, phân quyền, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ từng vị trí công tác trong từng đơn vị và giữa các cơ quan, bộ phận thật đồng bộ, hợp lý, liên thông, gắn kết nhau; làm rõ phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của một số bộ, ngành, nhất là những bộ, ngành có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, trùng lắp; kiên quyết cắt bỏ sự cồng kềnh, các tầng nấc, đầu mối và các khâu trung gian “ăn theo” không cần thiết, bảo đảm tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp, tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; vừa phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và vai trò tự quản của địa phương, đơn vị, vừa khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo và song trùng về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; giảm thiểu tính ôm đồm, bao biện làm thay; tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện, gắn tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát, cải cách tối đa thủ tục hành chính. Có cơ chế kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước; quy trình xây dựng pháp luật chặt chẽ, khoa học, dân chủ để chính sách, pháp luật thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển; nhưng cũng phải linh hoạt để kịp thời phản ứng chính sách, có giải pháp xử lý kịp thời các vấn đề thực tiễn phát sinh làm chậm sự phát triển theo nguyên tắc bảo vệ, bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc là trước hết và trên hết; phân công “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả” trong quy trình công tác, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể; thường xuyên đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách sau ban hành để kịp thời điều chỉnh bất cập, mâu thuẫn, giảm thiểu thất thoát, lãng phí các nguồn lực; tăng cường kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu, kiên quyết chống tiêu cực, “lợi ích nhóm”; tăng cường đồng thời 2 yếu tố: Đức trị và pháp trị; đẩy mạnh phòng, chống lãng phí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gắn tinh gọn bộ máy với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, chuẩn hóa chức danh và xác định vị trí việc làm theo khung tiêu chuẩn, tiêu chí ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình; tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, “vì việc tìm người”; coi trọng sử dụng người có năng lực nổi trội, chủ động, sáng tạo và trách nhiệm công vụ cao; coi trọng chất lượng tham mưu, đề xuất và năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện; thanh lọc kịp thời những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Nâng cao chất lượng, tinh thần trách nhiệm và kỷ cương công vụ, khắc phục tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm; tăng cường phân cấp quản lý và sự phối hợp giữa và ngay trong nội bộ các cơ quan, cấp, ngành và địa phương theo tinh thần trên - dưới đồng lòng, dọc - ngang thông suốt, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ quy trình, rõ thời gian và mục tiêu, kết quả nhiệm vụ được giao; xóa bỏ các rào cản chính sách, các biện pháp hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh, sự chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán và các biểu hiện lợi ích cục bộ trong xây dựng và thực thi chính sách, xóa bỏ sự bất bình đẳng trong tiếp cận và tạo bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nguồn lực xã hội; bảo đảm hài hòa lợi ích và sự gắn kết các mục tiêu ngắn hạn, trung và dài hạn, biết tạo lập môi trường, sử dụng đồng bộ, linh hoạt và thành thạo các công cụ chính sách, sự tôn trọng, bảo hộ pháp lý, tạo thuận lợi, giảm thiểu mọi chi phí kinh doanh và tuân thủ, bảo đảm sự đầy đủ, thông suốt, minh bạch của thông tin, các dịch vụ đầu tư và sự cạnh tranh lành mạnh thị trường; tạo môi trường đầu tư cởi mở, thân thiện, phục vụ thuận lợi, an toàn, bình đẳng, giảm thiểu mọi chi phí cơ hội cho doanh nhân, doanh nghiệp phát triển và cống hiến, bảo đảm quyền đầu tư, kinh doanh của người dân, lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, không hình sự hóa các quan hệ kinh tế; tạo điều kiện thuận lợi và giải quyết kịp thời các vướng mắc, khiếu nại, kiến nghị của doanh nghiệp, người dân trong đời sống kinh tế - xã hội.

Thực tế cho thấy, sự lãng phí trong công tác hành chính quá bé nhỏ nếu so với lãng phí của sự trì trệ, thiếu năng lực và trách nhiệm, gây ách tắc làm cho một bộ phận lực lượng sản xuất lớn đóng băng, không tạo ra của cải cho xã hội hoặc bỏ lỡ cơ hội đầu tư, tăng chi phí tuân thủ, chi phí thị trường của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Đó mới là điều cần cải tổ trong cuộc cách mạng Chính phủ hiệu quả.

Thực tế đã, đang và sẽ chứng tỏ, không thể có Chính phủ hiệu quả chỉ với mệnh lệnh cắt giảm nhân sự, giao việc cho cán bộ đương nhiệm nhiều hơn, nhưng không có cải thiện đáng kể về chính sách đãi ngộ và sử dụng người tài trong bộ máy quản lý Nhà nước các cấp, các lĩnh vực. Với mức lương của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước quá thấp thì Chính phủ khó chọn và giữ chân được người tài, khó ngăn nạn chảy máu chất xám và sẽ xảy ra tình trạng "ăn cắp" thời gian hoặc dễ nhũng nhiễu, tiêu cực. Bởi vậy, cần gắn kế hoạch cắt giảm nhân sự bộ máy với lộ trình nâng mức lương theo vị trí việc làm và kết quả công tác theo tương quan tỉ lệ nghịch, càng ít cán bộ thì lương càng cao để cán bộ nhà nước yên tâm làm việc, có đủ lương để trang trải cuộc sống.

Cần nhấn mạnh rằng, nâng cao chất lượng và bảo đảm sự minh bạch, lành mạnh của hệ thống pháp luật, tạo niềm tin cho cán bộ nhà nước làm việc cũng là điểm tiên quyết và kiên quyết phải làm để khắc phục tình trạng né tránh, sợ và đánh bóng trách nhiệm kéo dài và khá phổ biến thời gian qua.

Đồng thời, nên nghiên cứu xây dựng, áp dụng KPI như doanh nghiệp khi triển khai chủ trương xây dựng vị trí việc làm và tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ cho từng vị trí công tác, cho từng bộ, ngành, từng địa phương trong hệ thống chính trị gắn trách nhiệm chính trị và thực hiện chế độ thưởng, phạt nghiêm minh, thậm chí đưa vào Bộ luật Hình sự đối với những cán bộ làm chậm tiến độ giải quyết công việc. Lấy việc hoàn thành nhiệm vụ KPI làm tiêu chí để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.

Ngoài ra, chú ý lựa chọn các lãnh đạo doanh nghiệp xuất sắc vào bộ máy chính trị hoặc tham gia tổ tư vấn cho Chính phủ. Sử dụng thuế đất và thuế lũy tiến cao, cả những biện pháp hành chính phù hợp để buộc những người muốn giữ nhiều đất, những dự án, quỹ đất “lười”, không sinh lời phải nộp thuế, nhanh chóng đưa đất vào kinh doanh, hoặc phải chuyển nhượng, chống sự đầu cơ, chây ỳ, tăng khả năng sinh lời cho quốc gia. Trên thực tế lãng phí từ nguồn lực đất đai này cũng lớn gấp rất nhiều lần lãng phí hành chính.

Chính phủ hiệu quả là chính phủ điều hành đất nước bằng những hệ thống chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa và ngoại giao... đồng bộ, phù hợp, làm cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, chính trị ổn định, niềm tin của người dân vào chính quyền lớn, đồng lòng, đoàn kết và quan hệ ngoại giao tốt.

Cuộc cách mạng tinh gọn về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tạo hứng khởi và niềm tin cho doanh nghiệp vừa là mục tiêu, nhiệm vụ, vừa là giải pháp tạo động lực thể chế quan trọng để mọi người dân Việt Nam, trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh, với mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao (trên 12.050 USD/năm theo chuẩn hiện nay của thế giới), mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu; xây dựng thành công một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu theo di nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và Chính phủ hiệu quả, cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân có nhiều cơ sở để kỳ vọng và dốc lòng, dốc sức góp phần kiên quyết phá bỏ những rào cản, sự trì trệ để phát triển đất nước giàu mạnh, nâng vị thế quốc gia trên trường quốc tế./.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.357; t.11, tr.110.

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t1, tr.92, 93.

3. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr.12.

4. V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.45, tr.458, 459.

5.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie

6. https://www.xaydungdang.org.vn/van-kien-tu-lieu/bai-viet-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-phat-huy-tinh-dang-trong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-21847

7. https://baotintuc.vn/thoi-su/khac-phuc-tinh-trang-lang-phi-trong-bo-may-cong-quyen-20241104115127512.htm

TS. Nguyễn Minh Phong
Hà Nội

Tin bài khác

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Từ mùa Xuân thành lập Đảng đến hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Từ mùa Xuân thành lập Đảng đến hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, ngày 3/2 luôn mang ý nghĩa chính trị - lịch sử đặc biệt sâu sắc. Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là dịp ôn lại sự kiện mang tính bước ngoặt của cách mạng nước ta mà còn là thời điểm để khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong việc mở ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, đặt nền móng vững chắc cho những thắng lợi vẻ vang của thế kỷ XX và tiếp tục định hướng, dẫn dắt sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và định hướng chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và định hướng chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững

Bài viết phân tích những điểm mới trong tư duy phát triển tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) về chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, làm rõ các định hướng chiến lược và giải pháp trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hình sứ mệnh của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển nhanh gắn với bền vững theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới thể chế, điều hành chính sách và phát triển tài chính xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Xem thêm
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam