Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng

Nghiên cứu - Trao đổi
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu tại hầu khắp các nền kinh tế trên thế giới. Song hành với quá trình đó, nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh ...
aa

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu tại hầu khắp các nền kinh tế trên thế giới. Song hành với quá trình đó, nhiều cơ hội và thách thức đan xen.


Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được triển khai phù hợp với các định hướng lớn và chủ trương của Đảng, Chính phủ


Nhân sự kiện quan trọng Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện Xuyên Thái Bình dương (CPTPP) vừa qua cũng như trong không khí mùa xuân mới Kỷ Hợi, chúng ta cùng điểm lại kết quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Đất nước nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng trong bối cảnh tới nay, Việt Nam đã tham gia 13 FTA với tư cách quốc gia độc lập và là nước thành viên ASEAN, trong đó lĩnh vực ngân hàng luôn là một trong các lĩnh vực hợp tác quan trọng được các nhà đàm phán và đầu tư quan tâm.

1. Bối cảnh và tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước thời gian qua

Có thể nói rằng, trong những năm qua, tình hình thế giới và khu vực có những chuyển biến hết sức nhanh chóng và sâu sắc với các thuận lợi và khó khăn đan xen. Nhiều yếu tố khó lường nổi lên làm tăng tính bất trắc trong môi trường kinh tế toàn cầu như cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn như Mỹ - Trung, diễn ra quyết liệt, rủi ro trong tài chính tiền tệ quốc tế, sự biến động phức tạp giá hàng hóa cơ bản, bất ổn chính trị xã hội gia tăng, đặc biệt là chủ nghĩa dân túy mà nếu không có sự kiểm soát tốt có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội ở các nước này, tác động đến ổn định chính trị toàn cầu.

Cạnh tranh chiến lược về kinh tế quyết liệt và gay gắt hơn. Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cạnh tranh, kiềm chế Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực trong đó cạnh tranh kinh tế, thương mại là trọng tâm. Xu hướng đòi hỏi định hình lại các luật chơi khu vực và toàn cầu cũng như nhu cầu cải cách các định chế quốc tế như World Bank, Liên Hiệp Quốc... đang đặt ra những thách thức rất lớn đối với các thể chế đa phương trong vai trò trung tâm của hệ thống thương mại đa phương với các chức năng chính như giám sát thực thi đa phương và giải quyết tranh chấp.

Trong khi đó, việc toàn cầu hóa, liên kết kinh tế toàn cầu và khu vực tiếp tục được điều chỉnh. Mỹ chủ động thúc đẩy tạo dựng luật chơi thương mại mới thông qua hình thành mạng lưới các thỏa thuận FTA song phương hoặc nhiều bên mà Mỹ có vai trò trung tâm. Các nước lớn cũng tranh thủ tập hợp lực lượng thông qua liên kết, kết nối kinh tế. Đàm phán FTA được đẩy mạnh trên nhiều tầng nấc, hình thái đa dạng, trong đó việc hình thành các FTA khu vực và liên khu vực tiếp tục là trọng tâm xu thế FTA.

Là một nền kinh tế có độ mở cao với mức độ gắn kết ngày càng sâu rộng hơn với thế giới, các liên khu vực và khu vực quan trọng, những biến động tình hình kinh tế và chính trị thế giới đã, đang có tác động lớn và ngay lập tức tới các vấn đề trong nước. Đứng trước tình hình kinh tế chính trị như trên cũng như kế thừa quan điểm chỉ đạo về đối ngoại của các kỳ Đại hội trước đây, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương có tính bước ngoặt về đường lối đối ngoại trong điều kiện mới nhằm vừa đảm bảo tính đúng hướng của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa giải quyết các thách thức; qua đó, xác định một số nội dung sau:

(i) Trước hết, Đảng ta xác định cần nhận thức đúng về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực để có thể đưa ra các định hướng chỉ đạo và chính sách đúng đắn, kịp thời trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc;

(ii) Thứ hai, Đại hội XII của Đảng ta đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước. Đảng ta xác định đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020. Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước;

(iii) Thứ ba, về mục tiêu và nhiệm vụ của đối ngoại, Đảng ta đã xác mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.

(iv) Thứ tư, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định phương châm và định hướng lớn của hoạt động đối ngoại là “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

(v) Thứ năm, Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà nước quản lý tập trung đối với các hoạt động đối ngoại tạo nên diện mạo đa dạng với nội dung và hình thức phong phú của đối ngoại Việt Nam trong tình hình mới.

(vi) Thứ sáu, Đảng ta rất chú trọng hoạt động đối ngoại với các Đảng anh em, góp phần định hướng, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước, nhất là các nước láng giềng.

Ở cấp độ quốc gia, công tác đối ngoại đã và đang góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các đối tác ưu tiên, quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 quốc gia, đối tác toàn diện với 11 quốc gia và quan hệ chiến lược đặc biệt với Lào và Campuchia. Các mối quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện tiếp tục được thúc đẩy, phát huy được các mặt tích cực.

Chúng ta đã đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi mặt, tiếp tục phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và toàn cầu, trong đó nổi bật là đã tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, đoàn kết, hợp tác và tự cường. Công tác đàm phán và tham gia các hiệp định thương mại tự do luôn được quan tâm, thúc đẩy.

Sau hơn 10 năm ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước nói chung và sự trưởng thành vượt bậc của ngoại giao đa phương Việt Nam nói riêng, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế của đất nước với việc tham gia đầy đủ các sân chơi đa phương lớn nhất trên toàn cầu thông qua việc chủ động, tích cực vận động, thúc đẩy đàm phán và kí kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. FTA đang được coi là trào lưu phát triển trong thời gian gần đây, đặc biệt trong bối cảnh Vòng đàm phán Doha năm 2018, cả thế giới đã có 673 FTA, trong đó có 459 FTA đang có hiệu lực.

Trong bối cảnh chung của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, quyết sách phù hợp với xu thế chung để Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trên tất cả các phương diện đa phương, khu vực và song phương. Cho đến nay, Việt Nam đã hoàn thành đàm phán 13 FTA và đang đàm phán 03 FTA khác nhau. Theo định hướng được nêu tại Chiến lược tham gia FTA của Chính phủ, các FTA đã kết thúc đàm phán giúp kết nối thị trường của Việt Nam với các thị trường lớn và thuộc nhóm các nước đi đầu trong khu vực.

2. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng

Hòa chung dòng chảy hội nhập của đất nước, hội nhập ngành Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng và đưa quan hệ của ta với các nước đối tác phát triển theo chiều sâu, tạo lợi thế đan xen và đạt được nhiều kết quả tích cực và khá toàn diện. Có thể nói, tiến trình hội nhập kinh tế và lĩnh vực ngân hàng đã tạo nền tảng quan trọng giúp Việt Nam thu hút một dòng vốn nước ngoài lớn vào nền kinh tế nói chung và ngành dịch vụ tài chính nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng nâng cao tính thanh khoản và tiếp cận các nguồn vốn có chi phí thấp trên thế giới. Bên cạnh đó là việc gia tăng cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam, giúp thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, kiến thức, năng lực điều hành và quản lý cấp cao. Các yếu tố tích cực này là đòn bảy quan trọng để ngành Ngân hàng phát triển hiệu quả và phù hợp với các thông lệ trong khu vực và quốc tế.

Về mở cửa thị trường ngân hàng: Là một thành viên kết nạp sau của WTO, Việt Nam đã mở cửa lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, tài chính tương đối cao so với các nước có trình độ phát triển chung trong khu vực và thế giới. Tới nay, các ngân hàng nước ngoài được phép hiện diện tại Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh với số vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng không ngừng được hoàn thiện, đổi mới theo hướng thực thi đầy đủ các nghĩa vụ cam kết quốc tế về mở cửa thị trường, đối xử công bằng giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, đối xử tối huệ quốc và các nghĩa vụ bảo hộ đầu tư cơ bản khác. Những việc làm này cho thấy, Chính phủ và ngành Ngân hàng đã và đang cam kết mạnh mẽ trong việc xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và công bằng cho cả các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Trong năm 2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục thực hiện tốt vai trò là đại diện của nước CHXHCN Việt Nam tại các tổ chức tài chính quốc tế thông qua việc duy trì, phát triển quan hệ hợp tác với các tổ chức IMF/WB/ADB/AIIB và tham gia tích cực vào hoạt động của 2 ngân hàng quốc tế IIB, IBEC. NHNN đã phối hợp với các tổ chức tài chính quốc tế tiến hành công tác truyền thông về các chủ trương, chính sách mà Chính phủ Việt Nam kiên trì thực hiện với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

NHNN tiếp tục triển khai tốt đối thoại chính sách giữa Chính phủ Việt Nam và các tổ chức tài chính quốc tế và phối hợp hiệu quả để giúp định hướng nguồn lực của cộng đồng quốc tế phù hợp với mục tiêu, ưu tiên trong các chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đảm bảo hiệu quả hỗ trợ cao nhất. Thông qua đó, cơ chế điều phối giữa Chính phủ với các Tổ chức tài chính quốc tế cũng như giữa các nhà tài trợ quốc tế song phương và đa phương đã được thiết lập và tổ chức hiệu quả, tránh chồng chéo, trùng lắp. Từ đó các bên đã luôn lắng nghe, nâng cao hiểu biết, sự minh bạch và lòng tin lẫn nhau, và vị thế đối thoại của Việt Nam đã được nâng cao dần trong quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài. Các hoạt động đối thoại được diễn ra thường xuyên và dưới nhiều hình thức, như thông qua các cuộc gặp cấp cao giữa lãnh đạo Việt Nam và lãnh đạo các tổ chức tài chính quốc tế, các cuộc tiếp xúc cấp bộ trưởng và nhiều cuộc họp cấp kỹ thuật. Kết quả đối thoại chính sách đã giúp phát huy vai trò làm chủ của Việt Nam, nâng cao năng lực xây dựng và hoạch định chính sách.

NHNN tiếp tục chủ động, tích cực nghiên cứu về cơ chế, chính sách, các công cụ cho vay…, để từ đó kịp thời nắm bắt cơ hội, đưa ra các đề xuất, định hướng hợp tác với các các tổ chức tài chính quốc tế nhằm huy động nguồn lực về vốn và tri thức cho phát triển KT-XH. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam và các các tổ chức tài chính quốc tế đã linh hoạt điều chỉnh các quy trình, cơ chế, chính sách nhằm hài hòa thủ tục, đáp ứng yêu cầu, hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi bên để đảm bảo hiệu quả hỗ trợ cao nhất.

Về thúc đẩy các quan hệ hợp tác song phương, NHNN tích cực tăng cường và đẩy mạnh hợp tác song phương với các đối tác ở nhiều khu vực trên thế giới, triển khai nhiều sáng kiến và hoạt động mới, qua đó ngày một tăng cường vị thế cũng như thúc đẩy hợp tác với các ngân hàng trung ương (NHTW), cơ quan quản lý tiền tệ, ngân hàng các nước. NHNN cũng xúc tiến mạnh mẽ hợp tác trong khuôn khổ các sáng kiến/tổ công tác với các đối tác như Lào, Nga, Trung Quốc... Hoạt động của các khuôn khổ hợp tác này ngày càng đi vào thực chất, qua đó giúp các bên tăng cường hiểu biết và phối hợp xử lý các vấn đề liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ giữa các NHTW, hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước, từ đó góp phần thúc đẩy quan hệ đầu tư, thương mại giữa các bên.

Trên bình điện đa phương, NHNN tiếp tục chủ động triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, bao gồm: Tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và các nước ASEAN, ASEAN+3, APEC thông qua các hoạt động/sáng kiến hợp tác tài chính, ngân hàng trong khuôn khổ tiến trình Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHTW ASEAN, ASEAN+3, APEC; Phối hợp chặt chẽ và xem xét, phê duyệt các vấn đề quan trọng trong hoạt động của Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu NHTW các nước Đông Nam Á (SEACEN) ... Tại các diễn đàn này, NHNN đã và đang tham gia tích cực vào các phiên trao đổi, đánh giá về diễn biến kinh tế - tài chính, các phản ứng chính sách tại các quốc gia trong khu vực và trên thế giới để tham vấn, đề xuất những biện pháp chính sách phù hợp, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế nhiều bên, mở rộng thị trường dịch vụ, tăng cường hợp tác tiền tệ - ngân hàng khu vực và quốc tế.

Một điểm nhấn đáng lưu ý đó là NHNN tiếp tục thực hiện tốt chủ trương về hội nhập quốc tế của Bộ Chính trị đề ra tại Nghị quyết số 22-NQ-TW, Nghị quyết 06-NQ-TW và các Chỉ thị 25 và 26 về hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan đàm phán, ký kết hoặc hoàn thiện thủ tục phê chuẩn và triển khai các FTA trong lĩnh vực ngân hàng như: Đàm phán, ký kết hoặc hoàn thiện thủ tục phê chuẩn và triển khai các FTA như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Khối Thương mại tự do châu Âu (EFTA), Hiệp định RCEP, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), Hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA)...

Công tác hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đã được triển khai phù hợp với các định hướng lớn và chủ trương của Đảng, Chính phủ, tuân thủ nguyên tắc được nêu tại Nghị quyết số 06-NQ/TW Hội nghị TW 4 tháng 12: “Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”.

3. Hiệp định CPTPP và ngành Ngân hàng

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) ra đời nhằm thay thế Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Hoa Kỳ rút lui hồi tháng 1 năm 2017. Dù là TPP hay CPTPP thì đây đều là những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện nhằm thúc đẩy hội nhập quốc tế, mở ra một chương mới cho thương mại toàn cầu. Đồng thời, phát đi thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng quốc tế rằng mở cửa thị trường, hội nhập mới là công cụ tốt nhất tạo nên sự thịnh vượng.

Hiệp định trải qua hơn 7 năm với 40 vòng đàm phán và để có thể đi đến kết quả ngày hôm nay của CPTPP là không hề dễ dàng. Hiệp định CPTPP gồm 30 Chương và 9 Phụ lục điều chỉnh rất nhiều vấn đề từ thương mại truyền thống như mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn phổ biến trong các FTA; đến các vấn đề ít truyền thống hơn như mua sắm của các cơ quan chính phủ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước và mở rộng ra cả các vấn đề được coi là phi truyền thống trong đàm phán ký kết các FTA như lao động, môi trường, chống tham nhũng trong thương mại và đầu tư. Về tổng thể, CPTPP được đánh giá là một FTA chất lượng cao và toàn diện với mức độ cam kết sâu nhất từ trước tới nay.

Đối với Việt Nam, việc quyết định tham gia, đàm phán, ký kết và phê chuẩn Hiệp định CPTPP đã trả qua một quá trình dài với sự chuẩn bị tích cực, chủ động. Kết quả đàm phán đạt được, về cơ bản, đã đảm bảo được các lợi ích cốt lõi của Việt Nam cũng như dành được nhiều bảo lưu, linh hoạt để tạo thuận lợi hơn cho quá trình thực thi Hiệp định. Các cam kết tại Hiệp định CPTPP dự kiến sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đối với hoạt động cải cách hành chính, luật pháp cũng như thể chế ở Việt Nam.

Trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP, lần đầu tiên lĩnh vực dịch vụ tài chính được xác lập quy định tại một Chương Độc lập (thay vì là một Phụ lục thuộc Chương Dịch vụ như trong khuôn khổ WTO và các FTA khác). Đàm phán lĩnh vực tài chính ngân hàng trong CPTPP bao gồm 3 nhóm vấn đề cơ bản: (i) Cam kết về môi trường pháp lý cho việc hoạt động và cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng được quy định trong lời văn Chương Dịch vụ tài chính; (ii) Cam kết về mở cửa thị trường được thể hiện trong danh mục các biện pháp không tương thích (NCM), các dịch vụ tài chính được phép cung cấp qua biên giới (CBT) và các cam kết cụ thể khác (SC), và (iii) Các vấn đề về chuyển tiền và quản lý luồng vốn trong các Chương Dịch vụ, Đầu tư và Ngoại lệ.

Về cơ bản, lời văn Chương Dịch vụ tài chính trong CPTPP được dự thảo dựa trên các quy định trong các FTA ký kết giữa các nước khu vực Bắc Mỹ. Đặc thù của mô hình FTA Bắc Mỹ là hệ thống những yêu cầu rất cao và chặt chẽ về mặt pháp lý thể chế, từ đó kéo theo việc đưa ra các cam kết mở cửa cao tương ứng. Tham gia Hiệp định CPTPP ta đã cam kết tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các nhà đầu tư các nước thành viên CPTPP khi gia nhập thị trường Việt Nam thông qua (i) Các cam kết mở cửa thị trường; và (ii) các cam kết bảo hộ nhà đầu tư.

Có thể nhận thấy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và ngân hàng nói riêng đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, những chuyển biến mạnh mẽ trong cục diện chính trị, kinh tế thế giới đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Trước tình hình đó, ta cần bám sát chủ trương đường lối của Đảng, điều hành của Chính phủ để xử lý tốt các mối quan hệ nhằm vừa chủ động tích cực hội nhập quốc tế vừa xây dựng được một nền kinh tế tự chủ, nâng cao sức mạnh tổng thể quốc gia.

Việc tham gia các FTA thế hệ mới, bên cạnh các lợi ích, ta cũng phải thực thi các cam kết hội nhập sâu rộng và đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt ở cả ba cấp độ, quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Vấn đề đặt ra là làm sao để hiện thực hóa các cơ hội, hạn chế các rủi ro và xử lý tốt các thách thức. Triển khai hiệu quả các FTA thế hệ mới sẽ giúp tăng cường nội lực, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế, nuôi dưỡng và phát triển được các yếu tố mới và đột phát trong nền kinh tế. Song song với đó, ta cần nỗ lực duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng một hệ thống ngân hàng hoạt động có tính tuân thủ với năng lực cạnh tranh cao nhằm thích nghi và điều chỉnh linh hoạt trước những biến động kinh tế thế giới và khu vực.

TS. Tô Huy Vũ

Nguồn: TCNH số 2+3/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành