Thực trạng và giải pháp phát triển công nghệ tài chính tại Việt Nam

Công nghệ & ngân hàng số
Từ khởi điểm là lĩnh vực có quy mô nhỏ, lẻ mang nhiều tiềm năng ứng dụng, đến nay thị trường công nghệ tài chính (Fintech) đã và đang phát triển mạnh mẽ, toàn diện, góp phần phát triển lĩnh vực tài chính trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo Fintech Asean 2022, sự bùng nổ và kéo dài của đại dịch Covid-19 từ năm 2020 - 2021 cùng với cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu do xung đột Nga - Ukraine cũng như việc nâng mức lãi suất cơ sở liên tục trong những năm qua để chống lạm phát đã tác động lớn đến các nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh tốc độ số hóa. Không nằm ngoài xu hướng chung, ngành Fintech của Việt Nam cũng đang trên đà phát triển.
aa

1. Thực trạng phát triển công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam

Từ khởi điểm là lĩnh vực có quy mô nhỏ, lẻ mang nhiều tiềm năng ứng dụng, đến nay thị trường công nghệ tài chính (Fintech) đã và đang phát triển mạnh mẽ, toàn diện, góp phần phát triển lĩnh vực tài chính trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo Fintech Asean 2022, sự bùng nổ và kéo dài của đại dịch Covid-19 từ năm 2020 - 2021 cùng với cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu do xung đột Nga - Ukraine cũng như việc nâng mức lãi suất cơ sở liên tục trong những năm qua để chống lạm phát đã tác động lớn đến các nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh tốc độ số hóa. Không nằm ngoài xu hướng chung, ngành Fintech của Việt Nam cũng đang trên đà phát triển.

Với tốc độ tăng trưởng hiện tại, thị trường Fintech ở Việt Nam được dự báo sẽ chạm mốc 18 tỉ USD vào năm 2024, tăng gấp bốn lần so với mức 4,5 tỉ USD năm 2016 và 93% vốn đầu tư mạo hiểm vào thị trường này tập trung vào mảng ví điện tử và thanh toán điện tử (Nhuệ Mẫn, 2023). Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đến năm 2025, nền kinh tế Việt Nam sẽ vươn lên vị trí thứ ba trong khu vực Đông Nam Á về quy mô kinh tế với GDP là 571,1 tỉ USD vì thị trường Fintech của Việt Nam sở hữu nhiều yếu tố để có thể trở thành một trong những thị trường hấp dẫn nhất ở khu vực (Trang Nhi, 2022), trong đó, dân số đông mang lại tiềm năng phát triển hấp dẫn cho thị trường này. Theo Tổng cục Thống kê, trung tuần tháng 4/2023, quy mô dân số Việt Nam đạt mốc 100 triệu người, trở thành nước đông dân thứ 15 trên thế giới và gần 70% dân số thuộc độ tuổi lao động (Mạnh Bôn, 2023). Bên cạnh đó, tỉ lệ sử dụng Internet cao và việc ứng dụng rộng rãi công nghệ vào các dịch vụ tài chính - ngân hàng cốt lõi cũng đem lại nhiều lợi thế. Vào đầu năm 2023, 161,6 triệu kết nối di động đang hoạt động tại Việt Nam, tương đương với 164% tổng dân số và hơn 77,9 triệu người Việt Nam sử dụng Internet, đạt tỉ lệ 79,1% dân số, đứng thứ 13 trên thế giới (Data Reportal, 2023). Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhiều nghiệp vụ cơ bản của ngành Ngân hàng đã được số hóa hoàn toàn và một số ngân hàng đã ghi nhận tỉ lệ hơn 90% giao dịch của khách hàng được thực hiện qua kênh số (Chí Tín, 2022). Ngoài ra, thị trường Fintech Việt Nam vẫn chưa bão hòa so với các nước trong khu vực (Nextrans, 2022). Sự thay đổi hành vi tiêu dùng nhanh chóng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) đã đem lại nhiều tiềm năng cho các công ty Fintech trong hoạt động thanh toán số, cho vay, công nghệ bảo hiểm (Insurtech) và tài chính nhúng (HyperLead, 2023). Theo International Data Corporation (IDC), tính đến năm 2025, doanh thu của Việt Nam từ các dịch vụ tài chính kĩ thuật số dự kiến sẽ đạt 3,8 tỉ USD (Medici, 2021).

Báo cáo thị trường Fintech Việt Nam 2022 của Nextrans, nền tảng tiếp thị liên kết hàng đầu Việt Nam cũng ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể về số lượng công ty khởi nghiệp Fintech. Trong số hơn 260 công ty hoạt động trong lĩnh vực Fintech tại Việt Nam vào cuối năm 2022, 81 công ty hoạt động trong mảng dịch vụ thanh toán (chiếm 31,1% tổng số lượng công ty Fintech tại Việt Nam), 42 công ty hoạt động trong mảng cho vay ngang hàng (P2P Lending) (14,7%); 31 công ty hoạt động trong mảng Blockchain/Crypto (tiền điện tử) (11,9%) (Nextrans, 2022). (Hình 1)

Hình 1: Số lượng công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech năm 2022

Nguồn: Nextrans, 2022


Trong thị trường Fintech, thanh toán số vẫn là mảng hoạt động chiếm tỉ trọng cao nhất không chỉ về số lượng công ty mà còn dựa trên tỉ lệ sử dụng điện thoại thông minh của người dùng. Tính đến tháng 11/2022, thanh toán không sử dụng tiền mặt đạt hơn 6,6 tỉ giao dịch với giá trị khoảng 192,4 triệu tỉ đồng (tăng 85,6% về số lượng và 31,4% về giá trị so với cùng kì năm trước). Đến nay, toàn thị trường có 120 triệu ví điện tử và có hơn 3.300 tỉ đồng được người dân duy trì trong ví điện tử để thực hiện các giao dịch thanh toán (HyperLead, 2023). Đồng thời, khoảng 18,8 triệu tài khoản và thẻ được mở bằng eKYC, cùng với hơn 13,2 triệu thẻ ngân hàng đã được kích hoạt bằng phương thức điện tử theo quy định tại Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Thống đốc NHNN (Phạm Anh Tuấn, 2023).

Trong những năm gần đây, việc thúc đẩy hợp tác giữa ngân hàng và công ty Fintech với đa dạng mô hình và phương thức đã giúp ngân hàng cải thiện các dịch vụ cốt lõi (thanh toán, tín dụng, nhận tiền gửi) một cách toàn diện hơn, nhờ đó gia tăng trải nghiệm mới cho khách hàng và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Chí Tín, 2022). Đáng chú ý phải kể đến xu hướng tài chính nhúng (Embedded finance) và ngân hàng như một dịch vụ (BaaS). Điển hình như, ngân hàng số Cake by VPBank - sản phẩm của sự kết hợp giữa Be Group và Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) - chỉ mất khoảng 20 tháng để có được hơn 2,3 triệu khách hàng nhờ vào ứng dụng công nghệ eKYC, điện toán đám mây (Hà An, 2022). Ngoài ra, việc hợp tác giữa Be Earning, VNPT - Media và ngân hàng số Cake by VPBank để triển khai dịch vụ ứng lương qua VNPT Money đã giúp tạo ra những giá trị lớn cho người lao động và xã hội, thúc đẩy chuyển đổi số dịch vụ tài chính tiêu dùng, đồng thời góp phần hạn chế nạn tín dụng đen (Quốc Anh, 2022). Với mục tiêu làm chủ công nghệ lõi, NHTMCP Kiên Long cũng đã thúc đẩy việc xây dựng mối quan hệ chiến lược với các đối tác có thế mạnh về công nghệ như Tập đoàn UniCloud, Công ty Sunshine Tech và Tập đoàn Tài chính Công nghệ Umee để cùng đồng hành trong quá trình phát triển. Hòa cùng xu thế chung, CIMB và Finhay cùng phát hành thẻ đồng thương hiệu CIMB - Finhay trên ứng dụng Finhay nhằm cung cấp đa tiện ích cho khách hàng. Để cung cấp giải pháp vay vốn trên hóa đơn hoàn toàn tín chấp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với lãi suất thấp và quy trình nhanh chóng, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam đã thực hiện hoạt động hợp tác chiến lược với Công ty cổ phần MISA. Như vậy, việc tăng cường hợp tác giữa ngân hàng và các công ty Fintech không chỉ mang lại những trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng về sản phẩm, dịch vụ mà còn giúp tiết kiệm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn chưa thể hiện được sự khác biệt độc đáo trong dịch vụ và sản phẩm mà họ cung cấp. Điều này đặt ra thách thức cho các ngân hàng trong việc tìm kiếm và xây dựng “lợi điểm bán hàng độc nhất - unique selling point” để định vị được chuỗi giá trị, nâng cao lợi thế cạnh tranh cũng như giữ vững được vị trí trên thị trường một cách bền vững trong bối cảnh công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng.

Theo Báo cáo thị trường Crypto Việt Nam 2022, Việt Nam có tỉ lệ nắm giữ tiền điện tử lớn thứ hai ở khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan và là một trong năm quốc gia đi đầu về công nghệ Blockchain (Coin98, 2022). Từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022, giá trị các hoạt động giao dịch tài sản số ở Việt Nam đạt mốc 112,6 tỉ USD, cao hơn cả Singapore với 101 tỉ USD. Tính đến tháng 12/2022, các dự án Crypto Việt Nam đã kêu gọi thành công gần 170 triệu USD, và hơn 200 dự án Blockchain hoạt động trong nước, chủ yếu tập trung vào các mảng GameFi, DeFi và NFT. Các doanh nghiệp ngày càng tích cực thử nghiệm, ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh. Trong đó, lĩnh vực tài chính, ngân hàng luôn dẫn đầu trong việc áp dụng công nghệ Blockchain. BNB Smart Chain là Blockchain được các nhà đầu tư tại Việt Nam sử dụng nhiều nhất với tỉ lệ 39% và sau đó là Ethereum với 20,7%. Mặc dù là một trong những Blockchain mới nổi, Polygon cũng chiếm tỉ lệ đáng chú ý là 12,7%. Năm 2022 là một năm đầy biến động với sự sụt giảm mạnh mẽ tổng vốn đầu tư toàn cầu. Dẫu vậy, khác với dự đoán về xu hướng chủ yếu giao dịch ngắn hạn của nhà đầu tư, tỉ lệ các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư dài hạn - ít giao dịch và các nhà đầu tư ngắn hạn - giao dịch thường xuyên vẫn khá cân bằng, tương ứng tỉ lệ 46% và 54% (Coin98, 2022). Điều này chứng tỏ kì vọng của nhà đầu tư đối với tiềm năng thị trường vẫn tích cực.

Ngoài ra, theo báo cáo của Google và Bain năm 2022, tốc độ tăng trưởng của thị trường Insurtech Việt Nam là gần 50% mỗi năm, cùng tốc độ với Indonesia và Philippines (Hoàng An, 2023). Mặc dù doanh thu từ các sản phẩm Insurtech chiếm tỉ lệ còn khiêm tốn (khoảng 2 - 3% tổng doanh thu thị trường bảo hiểm ở Việt Nam vào năm 2022), song nếu giữ đà tăng trưởng như hiện nay thì đến năm 2028, Việt Nam sẽ đạt quy mô Insurtech như Thái Lan và Singapore (Hoàng An, 2023). Trong những năm gần đây, các công ty Insurtech đẩy mạnh chính sách bán hàng qua nền tảng của bên thứ ba thông qua việc hợp tác chiến lược với các sàn thương mại điện tử như Lazada, Shopee, hoặc Tiki. Điều này cho phép họ tiết kiệm chi phí phân phối, cũng như khai thác cơ sở người dùng lớn. Ngoài ra, các công ty cũng tích cực kết hợp với nhà điều hành mạng viễn thông như Viettel Telecom; công ty bảo hiểm truyền thống như Bảo hiểm Bảo Việt, Bảo hiểm Bưu điện, MSIG, FWD… và các định chế tài chính khác như LOTTE Finance, CTCP, Quỹ Dragon Capital, Công ty Chứng khoán Tín Việt… để mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm cho người dùng. Hơn thế nữa, sự ra đời của bảo hiểm nhúng, hay còn gọi là bảo hiểm tích hợp cũng đã góp phần thúc đẩy thị trường này phát triển mạnh mẽ hơn. Theo dự báo, quy mô thị trường tài chính nhúng toàn cầu sẽ vượt mức 7.300 tỉ USD vào năm 2030 và thị phần lớn nhất đến từ bảo hiểm nhúng (Gia Linh, 2023). Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm như Bảo hiểm Bưu điện, Bảo hiểm VietinBank, Bảo hiểm PVI, Bảo hiểm Bảo Việt đã tiên phong phát triển và cung cấp dòng sản phẩm này ở Việt Nam (Gia Linh, 2023). Nhìn chung, ngành Bảo hiểm Việt Nam nói chung và thị trường Insurtech Việt Nam nói riêng còn ở giai đoạn đầu phát triển và do vậy thị trường này còn rất nhiều tiềm năng.

Mặc dù đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian vừa qua, song thị trường Fintech ở Việt Nam hiện vẫn chưa thực sự phát triển. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường Fintech tại Việt Nam dựa trên số công ty trong ngành còn khá khiêm tốn. Tính đến cuối tháng 9/2022, số lượng công ty Fintech hoạt động ở Singapore là 1.580 công ty, Malaysia có 612 công ty, Thái Lan có 293 công ty, trong khi Việt Nam chỉ có 263 công ty. Fintech ở Việt Nam chưa thực sự phát triển do hệ sinh thái Fintech còn thiếu sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia trong thị trường cũng như sự nhất quán và đồng bộ trong khuôn khổ pháp lí quản lí lĩnh vực Fintech.

2. Thách thức của thị trường Fintech tại Việt Nam

Bên cạnh những tiềm năng phát triển, thị trường Fintech tại Việt Nam hiện cũng đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn.

Cơ chế pháp lí

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho NHNN cũng như các cơ quan chức năng có thẩm quyền là phải đảm bảo đồng thời mục tiêu hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong khi vẫn phải duy trì sự ổn định, an toàn của thị trường tài chính và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

So với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ trong phạm vi lớn và tính phức tạp cao, thời gian sửa đổi, bổ sung chính sách pháp lí còn chưa kịp thời. Khuôn khổ pháp lí hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần cho lĩnh vực Fintech trong hoạt động thanh toán, chưa đồng bộ và đầy đủ cho các hoạt động khác (Đinh Bảo Ngọc, 2022). Hơn nữa, Việt Nam mới xây dựng “Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng” và còn đang trong giai đoạn lấy ý kiến (Nguyễn Thị Liệu, 2023). Việc chậm hoàn thiện cơ chế pháp lí có thể dẫn đến sự sụp đổ, thiếu tính thanh khoản và mất khả năng thanh toán của hàng loạt công ty trong thị trường P2P Lending, cũng như các vấn đề phát sinh liên quan đến rửa tiền, khủng bố, an ninh, an toàn, bảo mật thông tin... Hầu hết các công ty khởi nghiệp Insurtech tại Việt Nam đang đối mặt với các thách thức do hệ thống pháp lí chưa quy định về các hoạt động bảo hiểm với mô hình kinh doanh mới và việc số hóa trong bảo lãnh phát hành và bán sản phẩm bảo hiểm.

Hiện nay, Việt Nam chưa ban hành quy định cụ thể, đầy đủ về thể chế quản lí, giám sát các hoạt động Fintech và chưa có cơ chế phối hợp phù hợp, rõ ràng giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lí. Các cơ quan có thẩm quyền liên quan vẫn chưa phân rõ chức năng, nhiệm vụ chuyên trách và còn thiếu quy trình quản lí, quy định pháp lí cụ thể về việc bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm tài chính trước những rủi ro ngày một tinh vi và phức tạp hơn (Lê Hồng Thái, 2023). Bên cạnh đó, việc quản lí, thanh tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền đối với mối quan hệ hợp tác giữa ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng trong lĩnh vực này còn thiếu chặt chẽ và chưa thực sự hiệu quả. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hệ sinh thái Fintech.

Cơ sở hạ tầng và quy trình thủ tục hoạt động, vận hành

Cơ sở hạ tầng công nghệ quốc gia vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ bảo mật. Để tăng cường sự an toàn thông tin và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính, bản thân các doanh nghiệp Fintech, ngân hàng phải đầu tư thỏa đáng cho hệ thống bảo mật cũng như an ninh mạng. Đồng thời, các đơn vị cần liên tục rà soát, tăng cường các biện pháp giám sát, theo dõi hoạt động và nhật kí của các hệ thống thông tin quan trọng, để kịp thời phát hiện những rủi ro tiềm ẩn và xử lí sớm các vi phạm. Ngoài ra, quy trình, thủ tục hoạt động, vận hành doanh nghiệp của các công ty Fintech thường đơn giản và nhanh chóng hơn so với các ngân hàng truyền thống. Do sự chậm trễ trong xây dựng và ban hành cơ chế pháp lí nên các ngân hàng truyền thống bắt buộc phải cải tiến hoạt động vận hành.

Hầu hết các công ty khởi nghiệp Insurtech tại Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc số hóa, bảo lãnh phát hành và bán sản phẩm bảo hiểm. Quy trình tự bảo lãnh phát hành đòi hỏi nhiều yếu tố phức tạp, nên họ phải hợp tác với các nền tảng của bên thứ ba để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bảo lãnh phát hành phát triển. Tuy nhiên, việc hợp tác và phụ thuộc vào bên thứ ba đôi khi lại là lợi bất cập hại. Do đó, việc trở thành một “công ty Insurtech thực sự” vẫn là một thử thách với những công ty khởi nghiệp Insurtech nội địa trong thị trường Việt Nam (Nextrans, 2022).

An ninh và bảo mật thông tin

Theo Báo cáo thị trường an toàn thông tin Việt Nam 2022, các ngân hàng và doanh nghiệp Fintech đang gặp một số thách thức về an toàn thông tin vì tính bảo mật của các phương tiện, thiết bị, công cụ số còn chưa cao (Văn Phong, 2022). Năm 2022, Việt Nam có hơn 5.000 cuộc tấn công mạng và thiệt hại do virus gây ra lên đến 21,2 nghìn tỉ đồng (Văn Phong, 2022). Việc chia sẻ một phần cơ sở dữ liệu của ngân hàng cho bên thứ ba tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn, đặc biệt là rủi ro an ninh mạng phát sinh từ các hành vi gian lận, lừa đảo; mã độc đánh cắp tài khoản, tấn công mạng; rủi ro rò rỉ dữ liệu và thông tin bảo mật. Ngoài ra, các vấn đề bất cập xảy ra trong mảng tín dụng thường liên quan đến việc xác minh thông tin người dùng và trong hoạt động phòng, chống rửa tiền. Tóm lại, số lượng thông tin khách hàng trong thị trường Fintech rất khổng lồ, do đó, nếu sự cố xảy ra thì tổn thất thực sự rất nghiêm trọng.

Nguồn nhân lực và yếu tố khách hàng của thị trường Fintech

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc Ngân hàng số của NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), chia sẻ: “Nhân sự chuyên về công nghệ thường kém về nghiệp vụ. Nhân sự chuyên về nghiệp vụ thường thiếu sự am hiểu về công nghệ. Trong kỉ nguyên chuyển đổi số, nhân sự phải vừa biết công nghệ lại hiểu về nghiệp vụ, không thể thiên lệch về một bên” (Tùng Lâm, 2023). Khi cạnh tranh với các công ty nước ngoài tiềm lực mạnh, các công ty trong nước phải đương đầu với những thử thách lớn từ chi phí đầu tư khổng lồ tập trung vào việc liên tục phát triển công nghệ và nhân lực chất lượng cao trong thời gian dài, sự cạnh tranh và đào thải khắc nghiệt của thị trường, cũng như nguy cơ bị phá sản, bị thâu tóm trong quá trình vận hành và phát triển doanh nghiệp. Ngoài ra, nhiều công ty còn tâm lí ngại thay đổi, điều chỉnh cơ cấu tổ chức, tái định hình văn hóa doanh nghiệp để tạo môi trường phát triển cho lớp nhân sự mới vì sợ rủi ro (Tùng Lâm, 2023). Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của nhiều người dân ở Việt Nam còn chưa cao và nhận thức người tiêu dùng sản phẩm Fintech cũng còn hạn chế cả về thói quen và hiểu biết, điều này ảnh hưởng trực tiếp không chỉ đến khách hàng mà còn các tổ chức tài chính.

3. Một số giải pháp phát triển Fintech tại Việt Nam

Từ việc phân tích thực trạng, cơ hội phát triển cũng như thách thức và khó khăn của thị trường Fintech tại Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp cần ưu tiên thực hiện nhằm phát triển thị trường này, cụ thể như sau:

Hoàn thiện cơ chế pháp lí

Môi trường pháp lí đối với hoạt động Fintech chưa rõ ràng và hoàn thiện thực sự là khó khăn đối với việc phát triển hệ sinh thái Fintech. Điều này làm cho các công ty có thể có tâm lí e ngại đầu tư phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới do lo ngại về môi trường pháp lí. Với những điều kiện hiện tại của thị trường Fintech Việt Nam, để thúc đẩy sự phát triển của thị trường này cần sớm có những biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ và thực chất của Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành, trong đó việc hoàn thiện về khung pháp lí là một vấn đề hết sức cấp thiết.

Chính phủ cần sớm hoàn thiện và chính thức ban hành Nghị định về cơ chế thử nghiệm Sandbox cho hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các quy định cụ thể cho các định chế phi ngân hàng liên quan nhằm hoàn thiện hệ sinh thái Fintech, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai công nghệ mới và thúc đẩy hợp tác giữa các công ty Fintech và hệ thống ngân hàng. Kinh nghiệm của Anh hay Singapore trong việc xây dựng cơ chế thử nghiệm Sandbox rất đa dạng, bao trùm tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế số một cách cụ thể và toàn diện cũng như quy định về tất cả các đối tượng Fintech từ nhỏ đến lớn, từ rủi ro thấp đến cao để hạn chế rủi ro. Đồng thời, những thành công của Hoa Kỳ trong thiết lập cơ cấu quản lí phi tập trung giúp thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ giữa Chính phủ và doanh nghiệp trong ngành nhằm đảm bảo rằng quy định liên tục cập nhật để phù hợp với thực tiễn và tăng cường hiệu quả quản lí cũng là một trường hợp điển hình đáng để học tập.

Bên cạnh đó, cần xây dựng đầy đủ và đồng bộ các quy định về hoạt động, dịch vụ Fintech, cụ thể:

Quy định về các sản phẩm, dịch vụ Fintech: Thông tin mô tả chi tiết sản phẩm, dịch vụ Fintech; các tiêu chuẩn đối với từng sản phẩm, dịch vụ; các tiêu chuẩn về đánh giá tín nhiệm các đơn vị tham gia trên thị trường; các chuẩn mực quản trị rủi ro nhằm đảm bảo tính minh bạch và sự an toàn trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ…

Quy định về mô hình kinh doanh của Fintech: Điều kiện thành lập và hoạt động, quyền và nghĩa vụ, mô hình hoạt động của các công ty Fintech…

Quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động Fintech: Cơ chế hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ; ưu đãi về chính sách thuế cho các công ty Fintech; hỗ trợ tiếp cận các nguồn tài trợ, tổ chức sự kiện; hỗ trợ việc xây dựng và phát triển mạng lưới kết nối với chuyên gia, nhà đầu tư trong nước và quốc tế...

Quy định về cơ chế quản lí, giám sát đối với Fintech: Quy định rõ các cơ quan có thẩm quyền quản lí, giám sát đối với hoạt động Fintech, cũng như xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lí giám sát…

Quy định pháp lí liên quan đến việc hạn chế rủi ro đối với hoạt động Fintech: Quy định bảo vệ người tiêu dùng, bảo mật thông tin cá nhân, quy định về trách nhiệm công bố thông tin, trách nhiệm về báo cáo đối với giao dịch liên quan…

Xây dựng chiến lược, chính sách phát triển Fintech gắn với phát triển hệ thống tài chính - ngân hàng và nền kinh tế. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng nhằm nâng cao chất lượng quản lí, giám sát những lĩnh vực mới nhằm hoàn thiện thể chế, bộ máy quản lí Fintech.

Đầu tư hạ tầng công nghệ

Nhà nước cũng như các địa phương cần chú trọng và ưu tiên đầu tư hơn nữa vào nghiên cứu và phát triển công nghệ, đặc biệt những công nghệ tiên tiến nhất hiện nay như công nghệ Blockchain, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây…

Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức khoa học - công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và các công ty trong nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ, tư vấn đầu tư, lựa chọn sản phẩm, công nghệ đầu tư, phần mềm ứng dụng có hiệu quả cho các công ty. Đầu tư của công ty hướng vào công nghệ dữ liệu lớn, P2P Lending, nhận diện kĩ thuật số, công nghệ Blockchain… sẽ trở thành một nền tảng cơ sở hạ tầng quan trọng cho việc phát triển Fintech.

Đào tạo nguồn nhân lực

Yếu tố con người là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường Fintech. Việc phát triển Fintech đòi hỏi nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn cao, nắm vững về công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Blockchain... Một số biện pháp cần được thực hiện để có thể nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho ứng dụng và quản lí Fintech:

Thành lập các trung tâm nghiên cứu Fintech và Blockchain tại các khu vực, thành phố lớn nhằm trực tiếp hỗ trợ về chuyên môn, kĩ thuật cũng như hướng dẫn chính sách cho sự phát triển của Fintech

Thành lập các học viện đào tạo và khuyến khích các trường đại học trên địa bàn mở các chuyên ngành đào tạo Fintech nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực này.

Khuyến khích các cơ sở đào tạo tổ chức công tác đào tạo nguồn nhân lực cho hệ sinh thái Fintech, chú trọng chương trình đào tạo thực hành nhằm tạo điều kiện cho người học tiếp cận thực tiễn và nghiên cứu các giải pháp sáng tạo về công nghệ, mô hình kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ… Các cơ sở đào tạo nên kết nối với các tổ chức tham gia trong lĩnh vực này, tổ chức cho người học thực tập tại các công ty Fintech…

Thành lập Hiệp hội Fintech nhằm tạo liên kết giữa các tổ chức, cá nhân tham gia vào thị trường Fintech với các nhà quản lí trong việc hoạch định chính sách.

Các địa phương nên có cơ chế khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển Fintech.

Tranh thủ sự hỗ trợ kĩ thuật và tư vấn của các tổ chức quốc tế, tập đoàn lớn cũng như hợp tác song phương với các cơ quan quản lí các nước để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động quản lí công ty Fintech.

Thu hút và nâng cao ý thức của khách hàng

Thu hút khách hàng tham gia vào thị trường Fintech có thể được thực hiện thông qua việc tăng cường an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng tham gia vào thị trường này. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho các hệ thống thanh toán quan trọng, hệ thống ngân hàng lõi cũng như các hệ thống cung cấp dịch vụ cho khách hàng để đảm bảo hoạt động được diễn ra liên tục, đảm bảo an toàn, quyền lợi cho khách hàng trước các rủi ro. NHNN nên cập nhật tình hình an ninh mạng trong nước và quốc tế để cảnh báo, chỉ đạo các đơn vị kịp thời phòng, chống, xử lí các rủi ro trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Việc phổ cập kiến thức về Fintech giúp khách hàng nhận biết được những lợi ích mà Fintech đem lại cũng như những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải khi tham gia vào thị trường này. Hiệu quả sử dụng sản phẩm, dịch vụ Fintech sẽ góp phần thu hút khách hàng trong cung ứng dịch vụ tài chính. Cơ quan chức năng ở các địa phương cần phối hợp và hỗ trợ tích cực cho việc phổ cập kiến thức về Fintech theo các nội dung phù hợp cho từng nhóm đối tượng khách hàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Chí Tín (2022). Đã có những nghiệp vụ cơ bản ngân hàng số hóa 100%, Thời báo Tài chính Việt Nam, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/da-co-nhung-nghiep-vu-co-ban-ngan-hang-so-hoa-100-113782.html

2. Coin98 (2022). Báo cáo thị trường Crypto Việt Nam 2022. Coin98 Insights .

3. Data Reportal. (2023). Digital 2023: Vietnam, Data Reportal, https://datareportal.com/reports/digital-2023-vietnam

4. Đinh Bảo Ngọc (2022). Thị trường Fintech tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/thi-truong-Fintech-tai-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc.htm

5. Gia Linh (2023). Bảo hiểm nhúng, “cú huých” cho Insurtech, Đầu tư chứng khoán, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bao-hiem-nhung-cu-huych-cho-insurtech-post317277.html

6. Hà An (2022). Cake by VPBank (Cake) cán mốc 2 triệu người dùng chỉ sau 19 tháng ra mắt, Đầu tư chứng khoán, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/cake-by-vpbank-cake-can-moc-2-trieu-nguoi-dung-chi-sau-19-thang-ra-mat-post303982.html

7. Hoàng An (2023). Sự trỗi dậy của công nghệ bảo hiểm (Insurtech), Tạp chí điện tử của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/su-troi-day-cua-cong-nghe-bao-hiem-insurtech.htm

8. HyperLead (2023). Báo cáo thị trường Fintech Việt Nam 2022. Ho Chi Minh: HyperLead.

9. Lê Hồng Thái (2023). Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính ở Việt Nam và một số quan điểm kiến nghị, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, https://thitruongtaichinhtiente.vn/su-can-thiet-hoan-thien-phap-luat-bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-tai-chinh-o-viet-nam-va-mot-so-quan-diem-kien-nghi-44228.html

10. Mạnh Bôn (2023). Tận dụng thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” để phát triển, Đầu tư chứng khoán: https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tan-dung-thoi-ky-co-cau-dan-so-vang-de-phat-trien-post320702.html

11. Medici (2021). Digital Banking Innovations in Vietnam, Open Banking Directory, https://www.openbankingdirectory.io/news/digital-banking-innovations-in-vietnam

12. Nextrans (2022). Vietnam Startup Industry Report 2022, Nextrans, https://www.nextrans.vn/resources

13. Nguyễn Thị Liệu (2023). Cần một hành lang pháp lý Sandbox cho hoạt động kinh doanh công nghệ tài chính Fintech ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công Thương, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/can-mot-hanh-lang-phap-ly-sandbox-cho-hoat-dong-kinh-doanh-cong-nghe-tai-chinh-Fintech-o-viet-nam-hien-nay-105026.htm

14. Nhuệ Mẫn (2023). Fintech Việt: Cơ hội lớn nếu sớm có “Sandbox”, Đầu tư chứng khoán, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/Fintech-viet-co-hoi-lon-neu-som-co-sandbox-post312911.html

15. Phạm Anh Tuấn (2023). Kết quả hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt năm 2022 và giải pháp tiếp tục triển khai Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025, NHNN.

16. Quốc Anh (2022). VNPT-Media, Be Earning, ngân hàng số Cake by VPBank phối hợp triển khai dịch vụ ứng lương qua VNPT Money, https://congthuong.vn/vnpt-media-be-earning-ngan-hang-so-cake-by-vpbank-phoi-hop-trien-khai-dich-vu-ung-luong-qua-vnpt-money-181170.html

17. Trang Nhi (2022). Dư luận quốc tế đánh giá tích cực về tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Báo Công lý: https://congly.vn/den-2025-quy-mo-kinh-te-viet-nam-se-dung-thu-ba-dong-nam-a-208465.html

18. Tùng Lâm (2023). Cách nào giải bài toán ‘đuối’ nhân lực tài chính số?, Tạp chí Đầu tư Tài chính, https://vietnamfinance.vn/cach-nao-giai-bai-toan-duoi-nhan-luc-tai-chinh-so-20180504224283452.htm

19. UOB, PwC Singapore, & Singapore Fintech Association. (2022). Fintech in ASEAN Report 2022. Singapore: United Overseas Bank Limited.

20. Văn Phong (2022). An ninh mạng 2022 tại Việt Nam vẫn còn những điểm đáng quan ngại, Quân đội nhân dân: https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/cac-van-de/an-ninh-mang-2022-tai-viet-nam-van-con-nhung-diem-dang-quan-ngai-713907


TS. Đinh Bảo Ngọc, TS. Trần Nguyễn Hồng Vân
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn quản trị dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở tham chiếu đến Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng đối với quá trình xử lý dữ liệu cá nhân nói chung trong lĩnh vực ngân hàng.
Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

An ninh mạng toàn cầu đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược hàng đầu đối với mọi quốc gia, tổ chức và cá nhân. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các mối đe dọa tinh vi và khó lường trong không gian mạng. Các cuộc tấn công mạng không còn chỉ nhằm vào dữ liệu cá nhân mà đã mở rộng sang hạ tầng trọng yếu, hệ thống tài chính và cả an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao nhận thức và đầu tư vào các giải pháp bảo mật hiện đại trở thành yếu tố then chốt để đảm bảo một môi trường số an toàn, bền vững.
Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và rủi ro đặc thù khi nhận tài sản số làm tài sản bảo đảm, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị giúp tổ chức tín dụng an toàn trong việc cấp tín dụng và thu hồi nợ.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo tác nhân (Agentic AI) như một thế hệ trí tuệ nhân tạo tự chủ trong nâng cao chất lượng ra quyết định tài chính, với ba ứng dụng trọng tâm gồm lập hồ sơ rủi ro khách hàng, phê duyệt khoản vay dự đoán và quản lý kho quỹ tự động, qua đó mở ra tiềm năng chuyển đổi sâu sắc hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành