Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Công nghệ & ngân hàng số
An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
aa

Những chuẩn mực an toàn mới bảo vệ khách hàng

An toàn và bảo mật đang ngày càng trở thành trụ cột then chốt trong quá trình hiện đại hóa ngành Ngân hàng, với các chuẩn mực mới được thiết lập nhằm nâng cao khả năng bảo vệ khách hàng trước những rủi ro ngày càng tinh vi. Trong phạm vi ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã yêu cầu các đơn vị xác định an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu là thành phần bắt buộc trong mọi dự án công nghệ thông tin; chuyển từ các biện pháp phòng vệ thụ động sang tích cực chủ động phát hiện và xử lý sớm các nguy cơ mất an toàn thông tin.

NHNN đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng, tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNeID) và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin. Điển hình là Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Thông tư số 25/2025/TT-NHNN ngày 31/8/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2024/TT-NHNN giúp hoàn thiện quy trình định danh khách hàng điện tử (eKYC) và mở tài khoản trực tuyến, cho phép ứng dụng triệt để dữ liệu sinh trắc học từ thẻ căn cước công dân gắn chíp và ứng dụng VNeID để xác thực khách hàng.

Đồng thời, ngành Ngân hàng cũng đã triển khai những chuẩn mực an toàn mới nhất để bảo vệ khách hàng (cụ thể là Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng). Trước thực trạng tội phạm lợi dụng tài khoản doanh nghiệp “ma” và các công nghệ như Deepfake hay mã độc để lừa đảo, Thông tư số 50/2024/TT-NHNN và Thông tư số 77/2025/TT-NHNN đã tạo ra một "tấm khiên" vững chắc, quy định các tiêu chuẩn an toàn, bảo mật theo thông lệ quốc tế cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Theo quy định tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN, định kỳ tối thiểu 03 tháng một lần, các đơn vị phải đánh giá an toàn, bảo mật của các phiên bản phần mềm ứng dụng đang cho phép khách hàng cài đặt, sử dụng nhằm xác định các lỗ hổng bảo mật và đánh giá khả năng bị can thiệp bởi tội phạm mạng.

Trường hợp khách hàng sử dụng trên thiết bị mới hoặc kích hoạt lại ứng dụng Mobile Banking phải cài đặt phiên bản mới nhất hoặc phiên bản gần nhất bảo đảm các yêu cầu về an toàn, bảo mật theo quy định. Các đơn vị phải có giải pháp kiểm soát không cho phép hạ phiên bản (downgrading) xuống sử dụng các phiên bản thấp hơn trong trường hợp này.

Khi phát hiện có lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức cao hoặc nghiêm trọng, các đơn vị phải có biện pháp kiểm tra, không cho thực hiện giao dịch hoặc có biện pháp kiểm soát nhằm phòng chống tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật để tấn công mạng, thực hiện các giao dịch gian lận, chiếm đoạt tài sản; đồng thời đơn vị phải thực hiện xử lý, khắc phục, cập nhật ngay phiên bản mới trong thời gian quy định.

Bên cạnh đó, ứng dụng Mobile Banking phải tự động thoát hoặc dừng hoạt động và thông báo cho khách hàng lý do nếu phát hiện một trong các dấu hiệu sau (sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 8 Thông tư số 50/2024/TT-NHNN):

(i) Có trình gỡ lỗi (debugger) được gắn vào hoặc môi trường có trình gỡ lỗi đang hoạt động; hoặc khi ứng dụng bị chạy trong môi trường giả lập (emulator)/ máy ảo/ thiết bị giả lập; hoặc hoạt động ở chế độ cho phép máy tính giao tiếp trực tiếp với thiết bị Android (Android Debug Bridge).

(ii) Phần mềm ứng dụng bị chèn mã bên ngoài ứng dụng khi đang chạy, thực hiện các hành vi như theo dõi các hàm được chạy, ghi lại log dữ liệu truyền qua các hàm, API... (hook); hoặc phần mềm ứng dụng bị can thiệp, đóng gói lại (repacking).

(iii) Thiết bị đã bị phá khóa (root/jailbreak) hoặc bị mở khóa cơ chế bảo vệ (unlock_bootloader).

Nhằm đối phó với các hình thức gian lận ngày càng tinh vi sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là công nghệ Deepfake, Thông tư số 77/2025/TT-NHNN còn yêu cầu giải pháp phát hiện giả mạo sinh trắc học (PAD) phải đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 30107 cấp độ 2 hoặc tương đương, đồng thời được các tổ chức uy tín như Liên minh FIDO công nhận.

Không dừng lại ở đó, NHNN đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo Thông tư quy định về ứng dụng AI trong ngành Ngân hàng. Việc xây dựng Thông tư quy định về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai ứng dụng AI trong ngành Ngân hàng là cần thiết nhằm: Thiết lập khung yêu cầu tối thiểu về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng AI trong hoạt động ngân hàng, làm cơ sở thống nhất để các tổ chức tín dụng triển khai, đồng thời thúc đẩy việc ứng dụng AI trong hoạt động ngân hàng; kiểm soát, giảm thiểu rủi ro phát sinh từ các ứng dụng AI trong hoạt động nghiệp vụ ngân hàng (như chấm điểm tín dụng, thẩm định cho vay, eKYC, phát hiện gian lận, tư vấn/hỗ trợ ra quyết định), qua đó góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan; đáp ứng yêu cầu pháp lý và tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật AI theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm triển khai đồng bộ, kịp thời trong toàn Ngành.

Trước đó, NHNN đã nghiên cứu, tham mưu trình các cấp ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Ngoài ra, Thống đốc NHNN đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của Ngành, tập trung vào 05 trụ cột gồm: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 061. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW2 với 105 nhiệm vụ trọng tâm. Những chỉ đạo này đã tạo định hướng cho ngành Ngân hàng trong việc nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

An toàn tài sản của khách hàng nhờ “lá chắn số” SIMO

Đặc biệt, NHNN triển khai Hệ thống thống tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã phát huy vai trò bảo vệ đắc lực. Tính đến cuối tháng 4/2026, Hệ thống SIMO đã triển khai đến 149 tổ chức tín dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với tổng số gần 700 nghìn bản ghi tài khoản thanh toán/ví điện tử/thẻ ngân hàng/đơn vị chấp nhận thanh toán có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật được thu thập, góp phần hỗ trợ cảnh báo đến 3,89 triệu lượt khách hàng, ngăn chặn kịp thời hơn 1,26 triệu lượt giao dịch nghi ngờ gian lận với tổng số tiền gần 4,38 nghìn tỉ đồng. Những con số này không chỉ là kết quả của công nghệ, mà còn là trách nhiệm và sự cam kết của ngành Ngân hàng đối với sự an toàn tài sản của khách hàng.

Dữ liệu đóng vai trò là tài sản chiến lược và nền tảng cốt lõi trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Việc khai thác, phân tích dữ liệu lớn và AI cho phép cá nhân hóa dịch vụ, bảo mật giao dịch và thúc đẩy các mô hình kinh doanh số bền vững. Ngành Ngân hàng chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Đồng thời, Ngành Ngân hàng đã tích cực phối hợp Bộ Công an triển khai Đề án 06. Theo Cục Công nghệ thông tin (NHNN), tính đến hết ngày 24/4/2026, đã có hơn 156,6 triệu hồ sơ khách hàng (hơn 154,5 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 2,13 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức) đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chíp hoặc VNeID, giúp loại bỏ tài khoản ảo và nâng cao tính minh bạch cho toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Đến nay, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành Ngân hàng với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. Đặc biệt, đến hết năm 2025, có hơn 88,9% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng. Hoạt động TTKDTM tiếp tục phát triển mạnh, trong năm 2025, giá trị TTKDTM gấp khoảng 28 lần GDP, minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong thói quen thanh toán của người dân.

Mặc dù gặt hái những thành quả nhất định, quá trình chuyển đổi số ngân hàng cũng gặp nhiều thách thức. Sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng cùng các chiêu trò lừa đảo của tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, phức tạp. Bên cạnh đó, dữ liệu còn phân mảnh, chưa đồng bộ, thiếu kết nối. Việc thiếu các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất như giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) khiến việc kết nối giữa hệ thống ngân hàng với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) hoặc đơn vị dịch vụ công trở nên phức tạp. Việc kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đòi hỏi hạ tầng công nghệ hiện đại để đảm bảo xử lý hàng triệu giao dịch mỗi ngày một cách liên tục và an toàn. Đồng thời, việc chuẩn hóa và quản trị dữ liệu khách hàng cũng tiêu tốn rất nhiều nguồn lực. Các điểm nghẽn về thể chế cho những mô hình kinh doanh mới vẫn cần thời gian để rà soát và tháo gỡ triệt để.

Dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực

Thời gian tới, để đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống thông tin và bảo mật dữ liệu, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, ngành Ngân hàng tiếp tục bám sát định hướng “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực”. Coi an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Theo đó, ngành Ngân hàng tiếp tục tập trung các giải pháp trọng tâm như:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy và tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, đảm bảo sự vận hành thông suốt, an toàn của các hệ thống thanh toán. Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật trong hoạt động ngân hàng và tăng cường khả năng kết nối liên thông và tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác; mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.

Thứ ba, trong phát triển và kết nối, chia sẻ dữ liệu. Làm giàu, chuẩn hóa, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; phát huy vai trò của dữ liệu trong hỗ trợ ra quyết định của NHNN; kết nối, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm đổi mới căn bản phương thức thiết kế, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng.

Thứ tư, các ngân hàng cần nâng cao năng lực cảnh báo sớm, phát hiện và phòng ngừa gian lận, tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin. Các ngân hàng cần áp dụng công nghệ phát hiện giả mạo đạt tiêu chuẩn quốc tế; siết chặt an toàn thiết bị đầu cuối, thông qua ứng dụng Mobile Banking phải tự động dừng hoạt động nếu phát hiện thiết bị bị root/jailbreak, sử dụng trình giả lập hoặc có mã độc chiếm quyền điều khiển từ xa…

Thứ năm, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số, gắn với triển khai Đề án 06, xác thực định danh điện tử, đối chiếu sinh trắc học, làm sạch dữ liệu khách hàng. Đây là giải pháp quan trọng để vừa nâng cao tiện ích, vừa phòng ngừa gian lận, lừa đảo, bảo vệ khách hàng và bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ sáu, tiếp tục phát triển nguồn nhân lực số trong ngành Ngân hàng; đẩy mạnh đào tạo, phổ cập kỹ năng số, phát huy vai trò của đội ngũ “Đại sứ số”, “Hạt nhân số”, đồng thời có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phân tích dữ liệu và đổi mới sáng tạo.

Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính dưới nhiều hình thức để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng trên môi trường mạng đảm bảo an toàn, hiệu quả.

1 Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

2 Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

2. Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Lan Anh (NHNN)

Tin bài khác

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Cơ hội và thách thức của nghề kế toán, kiểm toán trong bối cảnh phát triển khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế

Bài viết này làm rõ tác động của khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế đối với nghề kế toán, kiểm toán, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Bài viết đề xuất ứng dụng công nghệ Geo-Tagging trong quản trị dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn, góp phần minh bạch hóa dòng tiền, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tài chính toàn diện, đồng thời tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, hiện đại và bền vững tại Việt Nam.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Cơ hội, ứng dụng, triển khai và thách thức

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Cơ hội, ứng dụng, triển khai và thách thức

Từ một xu hướng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh (Generative AI) đang nhanh chóng trở thành động lực đổi mới của ngành tài chính, ngân hàng, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức trong quá trình triển khai và quản trị.
Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Sự phát triển nhanh của tiền mã hóa đang làm thay đổi bức tranh tài chính số, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện các điều kiện nền tảng và khuôn khổ quản trị để thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent) đối với quá trình tái cấu trúc lao động trí tuệ và yêu cầu kỹ năng trong nền kinh tế số, đồng thời đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cộng tác với trí tuệ nhân tạo (AI), thích ứng với chuyển đổi số và tăng cường năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên AI.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại