Thực trạng ngân sách nhà nước và một số khuyến nghị

Nghiên cứu - Trao đổi
Tốc độ thu Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm trong thời gian vừa qua bởi những chính sách miễn, giãn, giảm thuế sau năm 2012 và tốc độ lạm phát hàng năm thấp hơn trong giai đoạn 2012 đến nay so với...
aa

Tốc độ thu Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm trong thời gian vừa qua bởi những chính sách miễn, giãn, giảm thuế sau năm 2012 và tốc độ lạm phát hàng năm thấp hơn trong giai đoạn 2012 đến nay so với giai đoạn 2008 - 2011 làm cho tốc độ tăng thu của một số sắc thuế phụ thuộc vào yếu tố lạm phát giảm đi.

Kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước vẫn còn một số hạn chế khi nhiều năm liền, chi Ngân sách Nhà nước thực tế đều cao hơn so với dự toán. Bội chi Ngân sách Nhà nước ở mức cao trong nhiều năm và cao hơn so với dự toán ban đầu dẫn đến nợ công trên GDP có xu hướng tăng và đạt đỉnh vào năm 2016 ở mức 63.7% GDP. Bài viết này sẽ đưa ra các đánh giá về thực trạng thu, chi, bội chi Ngân sách Nhà nước và nợ công và từ đó, đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam.


Chính phủ cần tăng cường khuyến khích sự tham gia của người dân,

cơ quan ngôn luận xã hội khác trong quá trình lập và thực hiện Ngân sách Nhà nước

từ đó sẽ đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước

1. Về thu Ngân sách Nhà nước

Thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam có thể chia thành 3 nguồn chính đó là thu từ thuế và phí, thu về vốn (lợi nhuận từ các doanh nghiệp có vốn nhà nước), thu từ viện trợ không hoàn lại. Nguồn thu Ngân sách Nhà nước từ thuế, phí và viện trợ được chia làm 3 loại: Nguồn thu cho ngân sách trung ương, nguồn thu cho ngân sách địa phương, nguồn thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Nguồn thu từ thuế và phí là nguồn thu quan trọng nhất đóng góp khoảng 90.7% tổng thu Ngân sách Nhà nước, thu từ vốn chiếm 7.95% và thu từ viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 1.45% [1].

Thu Ngân sách Nhà nước tăng 3.23 lần trong giai đoạn từ 2008 đến 2018 trung bình 14.3%/năm, nhưng nếu loại bỏ yếu tố lạm phát ra thì tăng trưởng thu Ngân sách Nhà nước thực chỉ khoảng 6.4%/năm. Thu Ngân sách Nhà nước có xu hướng tăng chậm lại từ năm 2012, khi tốc độ thu Ngân sách Nhà nước trung bình chỉ tăng 10.2%/năm, thấp hơn mức 21.3% giai đoạn 2008 - 2011. Nguyên nhân thu Ngân sách Nhà nước tăng trưởng chậm hơn từ năm 2012 là do Chính phủ thực hiện điều chỉnh chính sách thuế theo hướng miễn, giảm, giãn, giảm thời hạn nộp thuế ở hầu hết các sắc thuế chính như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố lạm phát thì thu ngân sách thực giai đoạn 2008 đến 2011 trung bình tăng trưởng 6.95%/năm,trong khi tăng trưởng thu ngân sách thực giai đoạn 2013 đến 2018 là 7.67%/năm. Do đó, mặc dù thu ngân sách có vẻ cao hơn trong giai đoạn 2008-2011 nhưng lại đi kèm với yếu tố lạm phát cao và những bất ổn kinh tế vĩ mô dẫn đến thu Ngân sách Nhà nước thực (sau khi loại trừ yếu tố lạm phát) dành để cho chi tiêu công lại tăng trưởng thấp hơn so với những giai đoạn lạm phát thấp và nền kinh tế vĩ mô ổn định. (Hình 1)

Thu ngân sách trên GDP ở mức tương đối ổn định quanh mức 21% - 22% GDP trong giai đoạn 2010 - 2017 đã tăng lên mức 25.74% trong năm 2018. Đặc biệt, từ năm 2017 đến 10 tháng đầu năm 2019 mặc dù chính sách tài khóa cơ bản là giữ ổn định vì chỉ tăng thuế, lệ phí theo lộ trình đối với mặt hàng theo lộ trình từ trước đó nhưng thu ngân sách vẫn khả quan. Một trong những nguyên nhân là do thực hiện các giải pháp tăng cường quản lý thu, đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nước qua việc tăng cường thường xuyên kiểm tra, thanh tra, rà soát số lượng đăng ký kinh doanh, đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát công tác hoàn thuế giá trị gia tăng đảm bảo hoàn thuế đúng quy định, tăng cường công tác quản lý hóa đơn bán hàng,…Quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng đạt được những kết quả tích cực. Tính đến 30/9/2019, toàn hệ thống đã thu hồi được 24.767 tỷ đồng, trong đó, thu bằng biện pháp quản lý nợ là 15.803 tỷ đồng, bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 8.964 tỷ đồng. Tổng tiền thuế nợ tính đến 31/8/2019 là 80.786 tỷ đồng giảm 3% so với cùng kỳ 2018. Ngoài ra, nhằm tăng cường công tác quản lý nguồn thu ngân sách từ thuế, ngày 13/6/2019, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Quản lý thuế với nhiều nội dung quan trọng như: kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế, mở rộng quyền người nộp thuế, lần đầu tiên quy định quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho đại lý thuế, siết chặt quản lý hoạt động chuyển giá. Trong thời gian qua, thủ tục hành chính liên quan đến từ khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế đã được đơn giản hóa và rút ngắn thời gian. Tổng cục Thuế cũng đã tăng cường phối với các cơ quan nhà nước có liên quan như cơ quan đăng ký kinh doanh, ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc, hải quan...) trong quá trình giải quyết các thủ tục về thuế cho người nộp thuế. Tuy nhiên, các giải pháp giảm thiểu chi phí tuân thủ thuế cho người dân đã được triển khai nhưng chi phí thu thuế của các cơ quan quản lý nhà nước cần chú trọng giảm thiểu hơn nữa. Ngoài ra, công tác giáo dục tuyên truyền cho dân chúng về ý thức và trách nhiệm đóng thuế cho Ngân sách Nhà nước cũng cần được triển khai quyết liệt hơn thông qua tuyên truyền, các khóa đào tạo miễn phí để cho người dân hiểu về luật và nghĩa vụ trách nhiệm phải đóng thuế.

Thu Ngân sách Nhà nước có cơ cấu ngày càng bền vững hơn, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế với hàng loạt các hiệp định cắt giảm thuế quan khi tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu Ngân sách Nhà nước ngày càng cao tăng từ mức 55.76% trong tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2008 lên đến hơn 81.7% năm 2018. Thu Ngân sách Nhà nước từ xuất nhập khẩu và thu Ngân sách Nhà nước từ dầu thô giảm từ mức đóng góp 21.24% và 20.8% tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2008 xuống còn 14.3% và 4% năm 2018. Thu Ngân sách Nhà nước từ xuất nhập khẩu trong tổng thu Ngân sách Nhà nước giảm do cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do. Thu Ngân sách Nhà nước đỡ phụ thuộc vào dầu thô thể hiện xu hướng tốt vì đây là nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên và không có tính bền vững lâu dài. Về phân cấp thu Ngân sách Nhà nước, thu ngân sách địa phương có xu hướng tăng cả về quy mô lẫn tỷ trọng từ đó giảm dần vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong tổng thu Ngân sách Nhà nước. Cụ thể, quy mô thu ngân sách địa phương năm 2017 theo quyết toán gấp 2.1 lần năm 2011, tỷ trọng thu ngân sách địa phương trong tổng thu Ngân sách Nhà nước cũng tăng từ 37.2% năm 2011 lên mức 43.79% năm 2017.

Thu Ngân sách Nhà nước qua các năm đều cao hơn so với dự toán trước đó (trừ năm 2012). Trung bình trong giai đoạn 2008 đến 2018 thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự toán thu Ngân sách Nhà nước 13.5%. Điều này đặt ra yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước cần chính xác và sát với thực tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một số địa phương có thể muốn dự báo thu ngân sách ở mức thấp hơn so với thu ngân sách thực tế hàng năm để từ đó có khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương [2].

2. Về chi Ngân sách Nhà nước

Chi Ngân sách Nhà nước được phân cấp thành chi ngân sách trung ương và chi ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Những địa phương có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp sẽ được bổ sung từ ngân sách trung ương để đảm bảo các nhiệm vụ chi ngân sách. Chi Ngân sách Nhà nước chủ yếu là cho: Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi trả lãi vay, chi cho dự phòng và chi cải cách tiền lương. Trong đó, chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi Ngân sách Nhà nước chiếm trung bình khoảng 61% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước, chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 23%, chi trả nợ và viện trợ chiếm khoảng 7% giai đoạn 2008 - 2018. Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi Ngân sách Nhà nước có xu hướng tăng lên và đạt đỉnh ở mức 70.7% trong năm 2017. Trong khi đó, chi cho đầu tư phát triển trong tổng chi Ngân sách Nhà nước lại có xu hướng giảm từ mức khoảng 26.3% năm 2008 xuống khoảng 21.27% năm 2017. Chi thường xuyên có xu hướng tăng trong khi chi cho đầu tư phát triển mới chính là nguồn lực cho phát triển kinh tế dài hạn lại có xu hướng thu hẹp lại.

Tổng chi Ngân sách Nhà nước tăng 2.8 lần trong giai đoạn 2008 - 2018 với tốc độ trung bình 12%/năm. Nếu loại trừ lạm phát, tốc độ tăng trưởng trung bình thực của chi Ngân sách Nhà nước ở mức 4%/năm. Giai đoạn 2008 - 2012, trung bình tốc độ tăng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm ở mức 20.8%/năm nhưng sau năm 2012, tốc độ tăng chi Ngân sách Nhà nước giảm bởi vì những chính sách thắt chặt chi tiêu (đặc biệt là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) sau khi lạm phát cao ở mức 2 chữ số trong năm 2011 (18.58%). Chi Ngân sách Nhà nước thực tế luôn cao hơn so với dự toán chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2008 đến năm 2016. Cụ thể, trung bình chi Ngân sách Nhà nước luôn cao hơn so với dự toán chi 9.9% đặc biệt là từ năm 2008, 2009, 2010 và 2013 chi ngân sách thực tế luôn cao hơn ở mức hai chữ số so với dự toán chi. Do đó, kỷ luật chi tiêu Ngân sách Nhà nước vẫn còn lỏng lẻo, dẫn đến chi ngân sách luôn vượt dự toán làm tăng bội chi ngân sách và nợ công. Trên thực tế, nhiều công trình dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước khi thực hiện thường có mức chi tiêu cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu. Chi tiêu thường xuyên từ Ngân sách Nhà nước cũng tăng cao cho quản lý hành chính, tăng lương và tăng biên chế, y tế giáo dục. Bắt đầu từ năm 2017, chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu ở mức thấp hơn dự toán cho thấy kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu được thắt chặt đảm bảo chi Ngân sách Nhà nước ở mức hợp lý giảm bội chi ngân sách và nợ công.

Hiện nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc là cơ quan đại diện cho nhân dân tham gia vào quá trình giám sát ngân sách và đầu tư công. Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội là cơ quan giám sát về tình hình thực hiện dự toán ngân sách và một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân sách của Quốc hội; xem xét việc thực hiện hoạch định tài chính của các địa phương. Cơ quan kiểm toán Nhà nước có vai trò kiểm toán Ngân sách Nhà nước và trình Quốc hội báo cáo kiểm toán quyết toán Ngân sách Nhà nước để Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước, tham gia với Ủy ban tài chính, ngân sách và các cơ quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét, thẩm tra báo cáo về dự toán Ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán Ngân sách Nhà nước3. Tuy nhiên, vai trò của nhân dân trong quá trình lập dự toán và thực hiện chi Ngân sách Nhà nước còn hạn chế. Các khảo sát lấy ý kiến dân chúng được thực hiện bởi các nhà hoạch định chính sách để quyết định chi tiêu ngân sách hầu như chưa được phổ biến. Vai trò của hệ thống truyền thông, các tổ chức xã hội khác trong quá trình giám sát việc thực hiện Ngân sách Nhà nước chưa được đề cao. Ngoài ra, công tác thống kê công bố dữ liệu còn hạn chế. Hiện nay, chỉ có các cơ quan chức năng như Kiểm toán Nhà nước, Ủy Ban ngân sách Nhà nước hay Mặt trận Tổ quốc mới có thể thanh kiểm tra đảm bảo tính chính xác của các nhiệm vụ chi Ngân sách Nhà nước. Hiện nay, ở một số quốc gia phát triển trên thế giới (chẳng hạn như Mỹ) thì các thành phố trong quốc gia đều phải có một báo cáo Ngân sách Nhà nước hàng năm được công khai với các số liệu được cung cấp chi tiết. Ví dụ chi Ngân sách Nhà nước ở các thành phố được thể hiện chi tiết ở các khoản chi có các phòng, ban như: tài chính, phòng cháy chữa cháy, phòng đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng,… hay các khoản chi tiêu được công khai theo các các mục đích chi như chi cho hệ thống cấp nước trong thành phố, chi cho các công trình như sân golf, công viên, xây dựng đường sá, trả nợ các khoản vay…

Một vấn đề nữa đó là vẫn còn tình trạng tham nhũng ở một số dự án, dẫn đến việc chi tiêu Ngân sách Nhà nước thường tăng cao hơn so với dự toán và được đánh giá là hiệu quả thấp. Ba loại tham nhũng chính từ Ngân sách Nhà nước có thể nhận thấy đó là: các khoản chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu chuẩn. Do đó, công tác phòng chống tình trạng tham nhũng từ Ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước và giảm thiểu tăng chi so với dự toán đảm bảo bội chi ngân sách ở mức mục tiêu đề ra trong dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm (Hình 2).

Trong thời gian qua, chi cao hơn so với dự toán và bội chi Ngân sách Nhà nước còn xuất hiện cao hơn so với mức bội chi mà theo dự toán của Quốc hội đã đặt ra. Cụ thể là, các năm 2008, 2009 và giai đoạn từ 2012 đến 2015, bội chi cao hơn so với dự toán, có những năm bội chi cao hơn so với dự toán 31.5%. Gần đây, bội chi Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm dần nhờ có chủ trương tăng kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước, giảm bội chi và nợ công. Theo đó, nợ công trên GDP cũng đã tăng từ mức 44.3% GDP năm 2008 lên mức 63.7% GDP năm 2016 và giảm dần xuống còn 61% trong năm 2018.

Cùng với xu hướng của thu ngân sách trung ương thì chi ngân sách trung ương cũng giảm dần vai trò, thay vào đó là sự gia tăng chi tiêu ở cấp ngân sách địa phương từ mức chiếm 45.77% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2011 lên mức 58.33% năm 2017. Chi bổ sung ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương tăng từ mức 182,225 tỷ đồng năm 2011 lên đến 320,581 tỷ đồng năm 2017 nhưng xét về cơ cấu thì bổ sung từ ngân sách trung ương so với tổng chi ngân sách địa phương có xu hướng giảm từ 32.72% xuống còn 30.95%, thể hiện tính tự chủ của ngân sách địa phương ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách trung ương phải cấp bổ sung cân đối ngân sách cho một số tỉnh có nguồn thu không đủ chi tiêu (một số tỉnh miền núi). Việc chi tiêu của nhiều tỉnh có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp và phụ thuộc quá nhiều vào phân bổ ngân sách trung ương tạo áp lực cho ngân sách trung ương hàng năm.

3. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước ở cấp chính quyền địa phương và chính quyền trung ương; Hạn chế các tác nhân chủ quan nhằm làm sai lệch dự báo thu Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu để bổ sung chỉ tiêu tổng thu chi ngân sách thực sau khi đã loại trừ lạm phát hàng năm khi đánh giá về kết quả công tác ngân sách hàng năm vì sau khi loại trừ yếu tố lạm phát để có thể sẽ đánh giá được nguồn lực tài chính thực sự từ nguồn thu ngân sách đáp ứng cho chi tiêu hàng năm của Chính phủ nhất là chi đầu tư phát triển vì cơ sở hạ tầng máy móc thiết bị thường sẽ tăng giá hàng năm do yếu tố lạm phát.

Thứ hai, Chính phủ cần tăng cường khuyến khích sự tham gia của người dân, cơ quan ngôn luận xã hội khác trong quá trình lập và thực hiện Ngân sách Nhà nước qua việc phản hồi về chất lượng các dịch vụ hàng hóa được cung cấp, các công trình dự án được xây dựng… Từ đó sẽ đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước, đẩy lùi các hành vi tham nhũng như: Chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu chuẩn.

Thứ ba, kỷ luật chi tiêu nên được tuân thủ chặt chẽ hơn nữa nhằm kiểm soát khoảng cách giữa chi tiêu Chính phủ thực tế và dự toán chi Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện ngân sách, các dự án, chương trình nào bị đội vốn do chi phí đầu vào tăng hay các lý do phát sinh khác thì phải bù bằng cách giảm các khoản chi tiêu khác để tránh chi tiêu thực tế cao hơn so với dự toán. Công khai minh bạch ngân sách cần được đẩy mạnh hơn, nhất là chi tiêu cho các thành phố, khu vực nông thôn huyện xã. Cần có chuẩn mực chung về báo cáo tài chính ngân sách cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, các thành phố, huyện, xã.

Thứ tư, việc chi tiêu ngân sách của một số tỉnh vẫn phụ thuộc vào nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương, do đó, làm tăng gánh nặng cho ngân sách trung ương; Cần tăng cường thêm tính tự chủ của ngân sách địa phương và Ngân sách Nhà nước chỉ nên phân bổ cho ngân sách địa phương nhằm thực hiện các mục tiêu chi cho cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội còn thu ngân sách địa phương cần phải đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên khác qua đó sẽ giảm áp lực lên ngân sách trung ương và bội chi ngân sách Nhà nước.

Thứ năm, chi phí thu thuế bao gồm chi phí quản lý của các cơ quan thuế và chi phí tuân thủ thuế của người có nghĩa vụ thuế. Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý thuế đã chú trọng theo hướng giảm chi phí tuân thủ thuế của người dân thông qua các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính, kê khai thuế điện từ… nhưng các biện pháp giảm chi phí quản lý của các cơ quan thuế cần được đẩy mạnh hơn nữa. Do đó, cần có các giải pháp giảm chi phí quản lý thuế của các cơ quan nhà nước qua việc tinh gọn bộ máy quản lý; nâng cao hiệu quả hoạt động, ứng dụng các công nghệ phương thức quản lý hiện đại để tiết giảm chi phí. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường áp dụng các chế tài đối với các hành vi trốn thuế nhằm giảm kỳ vọng về lợi ích đạt được khi có ý định trốn thuế của cá nhân, doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần tiếp tục khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế giảm thất thu cho Ngân sách Nhà nước. Cơ quan quản lý thuế có thể có thêm nhiều thông tin của các đối tượng nộp thuế khi thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến. Hệ thống ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán, đồng thời, cũng là đầu mối cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý thuế nhằm có được sự thống nhất đối với những số liệu về thuế mà cơ quan quản lý thuế có được, để từ đó đưa ra những đối tượng có khả năng không tuân thủ các nghĩa vụ về thuế nhất là đối với các sắc thuế trực thu như thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp và các đối tượng có thu nhập cao dễ trốn thuế sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn khi các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng trở nên phổ biến.

1 Trong giai đoạn từ 2008 đến 2018.

2 Theo khoản 4, điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 (Luật số 83/2015/QH13). Thưởng vượt dự toán các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách: Trường hợp ngân sách trung ương tăng thu so với dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, ngân sách trung ương trích một phần theo tỷ lệ không quá 30% của số tăng thu thưởng cho các địa phương có tăng thu, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.

3 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015.

Tài liệu tham khảo:

John L. Mikesell. Fiscal Administration: Analysis and Applications for the Public Sector. Wadsworth, Cengage Learning, Boston. 2013.

Peter J. Morgan and Long Q. Trinh. Fiscal decentralization and local budget deficits in Viet Nam: An empirical Analysis. ADBI Working Paper, No. 613. 2016.

Tran Dinh Thien and Chu Minh Hoi. Counter – Cyclical Fiscal Policy In Viet Nam: Theory, Evidence and Policy Recommendation. European Journal of Business and Social Sciences, Vol. 4, No. 10, January 2016. p.p. 73 – 85.

Nguyen Van Giau. Public Debt And Sustainability In Viet Nam: The Past, Present and The Future. National Assembly’s Economic Committee In Viet Nam. 2013.

Nguyen Cong Nghiep. Vietnam Public Expenditure and Financial Accountability (PEFA). Ministry Of Finance. 2013.

C.Ebdon and A. Franklin. Searching for a Role for Citizens in the Budget Process. Spring 2004.

Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015

H.T.Duncan và C.E Mclure (1997). Tax administration in the United Atates of America: A Decentralized System. International Bureau of Fiscal Documentation.

J.L. Mikesell (1997). Tax Administration: The Link Between Tax Law and Tax Collections. Indiana University.

J.L. Mikesell (2016). Tax Administration. Indiana University.

J.L. Mikesell (2002). Tax expenditure budgets, budget policy, and tax policy: confusion in the States. Indiana University.

ThS. Hồ Ngọc Tú

TCNH số 22/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành