Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và một số biện pháp điều chỉnh

Nghiên cứu - Trao đổi
Cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân hàng hóa thâm hụt là vấn đề không mới đối với nền kinh tế Hoa Kỳ... Tóm tắt: Cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân hàng hóa thâm hụt là vấn đề không mới đối ...
aa

Cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân hàng hóa thâm hụt là vấn đề không mới đối với nền kinh tế Hoa Kỳ...

Tóm tắt: Cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân hàng hóa thâm hụt là vấn đề không mới đối với nền kinh tế Hoa Kỳ. Phân tích dưới góc độ kinh tế vĩ mô và phân tích ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, có thể thấy, cán cân thương mại của Hoa Kỳ thâm hụt hoàn toàn là yếu tố tất yếu do các lý do khách quan. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cán cân thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ đã ghi nhận mức thâm hụt cao nhất lịch sử. Vì vậy, để cân bằng được cán cân thương mại, Chính phủ Hoa Kỳ cần xúc tiến việc sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời với việc giảm thâm hụt ngân sách nhà nước. Về phía Việt Nam, để tăng cường xuất khẩu sang Hoa Kỳ, thì Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý quy tắc cạnh tranh công bằng, minh bạch và bảo đảm chất lượng sản phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Từ khóa: Cán cân thương mại, thâm hụt cán cân thương mại, Hoa Kỳ, Việt Nam.

Abstract: The trade deficit, especially the trade deficit on goods, is not a new problem for the US economy. Analyzing from the perspective of macroeconomics and analyzing the effects of the Covid-19 epidemic, it can be seen that the US trade deficit is inevitable due to objective reasons. However, recently, the US merchandise trade balance has recorded the highest deficit in history. Therefore, in order to get back the balance of trade, the US government needs to promote production to meet domestic consumption needs, promote exports, and reduce the federal budget deficit at the same time. In terms of Vietnamese government actions, this is an opportunity to increase exports to the US. However, the Vietnamese government and enterprises need to pay attention to the rules of fair competition, transparency and ensure the quality of products exported to the US.

Keywords: Trade balance, trade deficit, USA, Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Từ những năm 1970, cán cân thương mại của Hoa Kỳ nói chung và cán cân thương mại hàng hóa nói riêng luôn ở trong tình trạng thâm hụt. Từ năm 2014 đến nay, khoảng cách giữa nhập khẩu và xuất khẩu của Hoa Kỳ có xu hướng ngày càng gia tăng. Tính đến tháng 10 năm 2021, cán cân thương mại (hàng hóa và dịch vụ) của Hoa Kỳ chạm mốc thâm hụt 80,9 tỷ USD lần đầu tiên trong lịch sử, tăng 10,36% so với mức kỷ lục nhập siêu 73,2 tỷ USD vào tháng 6 năm 2021. Trước đó, vào tháng 9 năm 2021, theo số liệu của Cục Phân tích kinh tế Hoa Kỳ (BEA), cán cân thương mại hàng hóa Hoa Kỳ cũng đạt mức thâm hụt kỷ lục 96,3 tỷ USD. Trên thực tế, thâm hụt cán cân thương mại không phải là vấn đề quá mới đối với quốc gia này (Hình 1). Việc duy trì cán cân thương mại thâm hụt không chỉ khiến cho các nhà chức trách của Hoa Kỳ phải đau đầu mà cũng khiến cho các quốc gia đối tác bị ảnh hưởng. Ví dụ rõ ràng nhất là vào năm 2020, Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng, các quốc gia có thặng dư thương mại đã thực hiện thao túng tiền tệ như trường hợp của Thụy Sĩ và Việt Nam mà trong đó, cán cân thương mại song phương thâm hụt là một trong những tiêu chí được xét đến trong quá trình điều tra. Do vậy, việc nghiên cứu hiện trạng thâm hụt cán cân thương mại Hoa Kỳ là yếu tố cần thiết nhằm đưa ra các định hướng chính sách đối với chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam.



Bài viết tập trung làm rõ hai vấn đề chính: (i) Tại sao cán cân thương mại Hoa Kỳ liên tục duy trì trạng thái thâm hụt và thâm hụt kỷ lục từ cuối năm 2020 đến nay?

(ii) Thực trạng cán cân thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam và các biện pháp điều chỉnh nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cán cân thương mại giữa hai nước.

2. Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ

Để có thể trả lời cho câu hỏi đầu tiên, tác giả sẽ tiến hành rà soát lại lý thuyết kinh tế vĩ mô và các bài nghiên cứu liên quan đến cán cân thương mại Hoa Kỳ nhằm đưa ra lý giải hợp lý nhất. Theo đó, cán cân thương mại Hoa Kỳ duy trì sự thâm hụt là do các yếu tố khách quan và việc đạt kỷ lục thâm hụt vào năm 2021 là do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Thứ nhất, dưới góc nhìn của lý thuyết kinh tế vĩ mô, cán cân thương mại của Hoa Kỳ thâm hụt là do USD là phương tiện thanh toán và cất trữ giá trị toàn cầu.

Thật vậy, sử dụng lý thuyết kinh tế vĩ mô, ta có công thức:

Y = C + I + G + NX (1)

Trong đó:

Y là tổng sản phẩm nội địa (GDP).

C là tiêu dùng.

I là đầu tư.

G là tiêu dùng chính phủ.

NX là xuất khẩu ròng, hay chính là hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một nền kinh tế. Nói cách khác, chính là cán cân thương mại của một quốc gia.

Bên cạnh đó, tổng tiết kiệm quốc gia (S) là hiệu số giữa GDP của quốc gia đó trừ đi tiêu dùng (C) và tiêu dùng chính phủ (G).

S = Y - C - G (2)

Biến đổi công thức (1) và (2), ta có mối quan hệ giữa cán cân thương mại, tiết kiệm quốc gia và đầu tư quốc gia như sau:

NX = S - I (3)

Từ công thức (3) cho thấy, một quốc gia có cán cân thương mại thâm hụt nếu tiết kiệm nhỏ hơn đầu tư. Với việc hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970, USD và trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ đã trở thành phương tiện trao đổi và cất trữ giá trị trên toàn thế giới. Do đó, các quốc gia khác trên thế giới luôn có nhu cầu cao trong việc nắm giữ USD và trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ. Từ đó, khoảng cách giữa tiết kiệm quốc gia và đầu tư của Hoa Kỳ ngày càng tăng. Hay nói cách khác, cán cân thương mại của Hoa Kỳ luôn thâm hụt vì lý do khách quan.

Thứ hai, việc thâm hụt ngân sách nhà nước cũng là một lý do dẫn đến việc tăng thâm hụt cán cân thương mại. Thật vậy, theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, ta có công thức sau:

Thâm hụt thương mại = Thâm hụt ngân sách - Tiết kiệm tư nhân + Đầu tư (4)

Theo công thức (4), thâm hụt thương mại tỷ lệ thuận với thâm hụt ngân sách. Hoa Kỳ tính năm tài chính bắt đầu từ ngày 01 tháng 10 hàng năm, Theo đó, trong 05 năm tài chính trở lại đây, từ năm tài chính 2017 đến hết năm tài chính 2021, thâm hụt ngân sách Hoa Kỳ luôn ở mức cao. Đặc biệt, cuối năm tài chính 2020, chứng kiến mức thâm hụt ngân sách cao đột biến so với cùng kỳ các năm 2017, 2018 và 2019. (Hình 2)


Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2020 và kéo dài cho đến hiện tại, rõ ràng, tiết kiệm cá nhân sẽ giảm do các chính sách cắt giảm nhân công và tiền lương. Theo khảo sát của MagnifyMoney (2020), hơn một phần ba nhân công toàn thời gian tại Hoa Kỳ bị cắt giảm lương, thưởng. Bên cạnh đó, theo báo cáo của Bộ Tài chính Hoa Kỳ, đầu tư từ Mỹ cuối năm 2020 đã tăng 6,15 nghìn tỷ USD so với cùng kỳ năm 2019.

Như vậy, trong khoảng thời gian ngân sách nhà nước bị thâm hụt nặng nề, tiết kiệm tư nhân giảm và đầu tư tăng, thì cán cân thương mại Hoa Kỳ cũng sẽ chứng kiến sự thâm hụt nặng nề.

Thứ ba, khi nghiên cứu các nhóm nước khác nhau, các nhà nghiên cứu đều đồng tình rằng, những yếu tố khách quan đang khiến cho Hoa Kỳ có cán cân thương mại thâm hụt đối với các nhóm nước khác nhau. Cụ thể, Ferrero (2010) đã chỉ ra rằng, sự tăng trưởng năng suất và các yếu tố nhân khẩu học là tác nhân chính khiến cho Hoa Kỳ có cán cân thương mại âm với các quốc gia trong G6, bao gồm Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật và Anh. Bên cạnh đó, với sự vươn lên của Trung Quốc trong thế kỷ 21, cùng với các lợi thế của nhân công giá rẻ, trở thành quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, càng khiến cho cán cân thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bị thâm hụt (Kapustina và cộng sự, 2020).

Thứ tư, dưới sự tác động của dịch Covid-19 và việc tung ra các gói kích thích kinh tế trong bối cảnh đại dịch, Chính phủ Hoa Kỳ đã thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của người dân trong hoàn cảnh giãn cách, kèm theo dư âm của các chính sách phong tỏa đã khiến người dân Hoa Kỳ chuyển hướng từ mua hàng hóa sản xuất trong nước sang tiêu thụ hàng nhập khẩu. Điều này càng khiến cho cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ bị thâm hụt nặng nề.

Như vậy, bằng những lý giải trên, có thể thấy, việc cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ liên tục thâm hụt và đạt mức thâm hụt kỷ lục thời gian gần đây hoàn toàn là do các yếu tố khách quan. (Hình 3)


3. Cán cân thương mại hàng hóa song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Vào năm 2020, Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam vào danh sách điều tra với các dấu hiệu liên quan đến thao túng tiền tệ. Một trong những tiêu chí phía Hoa Kỳ đưa ra đó là thặng dư thương mại hàng hóa của Việt Nam với Hoa Kỳ đạt 58 tỷ USD trong 4 quý liên tục từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020.

Tuy nhiên, theo Phạm và Nguyễn (2021), cán cân thương mại hàng hóa Hoa Kỳ - Việt Nam thâm hụt hoàn toàn là bởi các yếu tố khách quan. Cụ thể, do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung năm 2020 đạt đỉnh căng thẳng, các nhà máy sản xuất từ Trung Quốc có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam để có thể tránh mức thuế mà Hoa Kỳ áp dụng với các mặt hàng có xuất xứ từ Trung Quốc. Việc chuyển dịch này tạo ra hiện tượng giá trị xuất khẩu hàng hóa tính cho Việt Nam nhưng thực chất là hàng có xuất xứ từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, phương pháp tính toán cán cân thương mại song phương cũng là nguyên do trực tiếp dẫn đến thặng dư cán cân thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Trên thực tế, các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng của Hoa Kỳ không có trụ sở tại Hoa Kỳ mà được đặt tại nhiều quốc gia trên thế giới, đã khiến cho phương pháp tính cán cân thương mại song phương tổng (Gross bilateral trade balance) không phản ánh con số nhập khẩu thực tế từ Hoa Kỳ vào Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh các quốc gia đang nỗ lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mỗi một công đoạn được thực hiện ở một quốc gia khác nhau, thì phương pháp tính này chỉ phản ánh sản phẩm cuối cùng mà Việt Nam nhập tại quốc gia lắp ráp cuối cùng, thay vì chỉ rõ xuất xứ hàng hóa. Hiện tại, Hoa Kỳ chủ yếu tập trung phát triển các công đoạn có giá trị gia tăng cao như thiết kế hoặc chăm sóc khách hàng và chuyển dịch các công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang các quốc gia khác. Do vậy, mặc dù người tiêu dùng Việt Nam ưa thích và tiêu thụ nhiều sản phẩm của Hoa Kỳ, nhưng giá trị những mặt hàng này lại không được phản ánh trong cán cân thương mại song phương giữa hai nước.

Cuối cùng, đó là do tác động của dịch Covid-19. Để đối phó với sự lây lan của đại dịch Covid-19, Hoa Kỳ và các đối tác lớn, đặc biệt là Trung Quốc, đã phải đóng cửa nhiều cơ sở sản xuất và thực hiện nhiều biện pháp phong tỏa. Trong khi đó, vào năm 2020, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia khống chế dịch Covid-19 thành công và vẫn tiến hành sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu. Đến năm 2021, mặc dù đã khống chế tương đối thành công dịch Covid-19 do đã triển khai tiêm vắc-xin diện rộng, nhưng dư âm từ các gói cứu trợ cùng nền kinh tế phục hồi đã khiến người dân Hoa Kỳ có nhu cầu cao về hàng hóa nhập khẩu (Oshin, 2021). Trong 10 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ đã tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2020, đạt giá trị 76 tỷ USD (Ngọc Quỳnh, 2021).

Đến tháng 7 năm 2021, sau khi đánh giá cao những cam kết của Việt Nam về việc giải quyết các mối quan ngại của Hoa Kỳ đối với hoạt động tiền tệ, Chính phủ Hoa Kỳ chính thức đưa ra thông báo về việc không áp dụng bất cứ biện pháp trừng phạt hoặc có điều chỉnh chính sách thương mại đối với Việt Nam. Do đó, trong tương lai gần, Việt Nam vẫn là đối tác thương mại quan trọng của Hoa Kỳ. (Hình 4)


Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam, với giá trị nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam lên đến 77,07 tỷ USD, chiếm 27,38% giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2020. Tính đến tháng 10 năm 2021, con số này chạm mốc 76,75 tỷ USD, chiếm 28,45% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Theo Tổng cục Hải quan, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào Hoa Kỳ là hàng dệt may (chiếm 18%), máy móc, thiết bị và dụng cụ (chiếm 16%), linh kiện điện tử và linh kiện điện thoại lần lượt chiếm 14% và 11%. Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ là quốc gia đứng thứ 5 trong số những quốc gia xuất khẩu hàng hóa nhiều nhất sang Việt Nam, với giá trị xuất khẩu năm 2020 là 13,7 tỷ USD. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng được các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Hoa Kỳ với giá trị đạt 4,72 tỷ USD vào năm 2020, tương đương 34,5%. Tính đến tháng 10 năm 2021, giá trị xuất khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam giảm nhẹ, xuống còn 12,85 tỷ USD, chiếm 4,77% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ.

Các con số này phản ánh hoàn toàn chính xác năng lực sản xuất giữa hai quốc gia và cách thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của hai quốc gia đối với các mặt hàng này. Trong khi Hoa Kỳ là quốc gia hàng đầu về công nghệ sản xuất, luôn tập trung vào các công đoạn có giá trị cao như thiết kế hoặc chăm sóc khách hàng thì ở chiều ngược lại, Việt Nam đang nỗ lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu bằng việc thực hiện các công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công. Do vậy, linh kiện là mặt hàng đứng đầu trong tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đối với Hoa Kỳ là điều không đáng ngạc nhiên do các doanh nghiệp Việt Nam cần nhập khẩu linh kiện để tiến hành lắp ráp, gia công trước khi xuất khẩu mặt hàng linh kiện sang Hoa Kỳ. Song song với đó, với cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, các nhà sản xuất lớn như Apple, Foxconn đều đồng loạt chuyển dịch nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam càng khiến cho nhu cầu xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia tăng cao. (Hình 5 - 6)



4. Một số biện pháp điều chỉnh

Mặc dù sự mất cân bằng cán cân thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn đến từ các lý do khách quan, nhưng trong dài hạn, chính phủ hai nước cần nhanh chóng đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng này, hướng tới phát triển bền vững lâu dài là điều kiện cần thiết nhằm phát triển kinh tế ở cả hai quốc gia.

4.1. Về phía Chính phủ Việt Nam

Thứ nhất, cần trang bị cho các doanh nghiệp xuất khẩu các kiến thức cần thiết về thị trường và luật cạnh tranh quốc tế, tránh để rơi vào các vụ kiện gây tổn hại đến lợi ích kinh tế của cả hai bên. Theo đó, các hội thảo, chương trình định hướng là vô cùng cần thiết trong bối cảnh hội nhập như hiện nay. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chủ động tiếp cận tìm hiểu các nguồn luật về cạnh tranh quốc tế để tránh bị điều tra từ chính phủ các quốc gia nhập khẩu, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cần có chính sách, chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ. Trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ - Trung vẫn hiện hữu nhiều căng thẳng, các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang có động thái chuyển dịch dây chuyền sản xuất sang Việt Nam. Nếu dây chuyền sản xuất được chuyển dịch, cán cân thương mại hai bên sẽ được cân bằng do Việt Nam cần thúc đẩy nhập khẩu nguyên vật liệu cần thiết từ Hoa Kỳ và vẫn đảm bảo được công đoạn có giá trị gia tăng thấp được thực hiện tại quốc gia đang phát triển với ưu thế về nhân công rẻ như tại Việt Nam.

Thứ ba, tiếp tục tập trung xuất khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như dệt may, máy móc, thiết bị, phụ kiện và linh kiện điện tử vào thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Kỳ là thị trường khó tính và đòi hỏi cao, nhất là với mặt hàng tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần lên kế hoạch kỹ lưỡng, kiểm soát và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu. Chính phủ Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế, chuẩn bị đón đầu làn sóng chuyển dịch nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam để có thể tận dụng cơ hội trở thành nhà sản xuất chính của các doanh nghiệp Hoa Kỳ.

4.2. Về phía Hoa Kỳ

Thứ nhất, cần đẩy mạnh sản xuất trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa, đặc biệt là hàng hóa tiêu dùng. Hiện tại, Hoa Kỳ đang quá phụ thuộc vào hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu, đặc biệt là trong bối cảnh nhu cầu người dân tăng cao sau khi đại dịch Covid-19 được khống chế. Bên cạnh đó, việc quá tập trung vào các công đoạn mang lại giá trị gia tăng cao cũng khiến cho hàng hóa tiêu dùng không được đầu tư sản xuất trong nước. Do đó, Chính phủ Hoa Kỳ cần tích cực kêu gọi đầu tư phát triển khả năng sản xuất trong nước, từ đó có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khẩu. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh, năng lực sản xuất trong nước hay rộng hơn là khả năng thu hẹp chuỗi cung ứng của sản phẩm sẽ khiến cho nền kinh tế của quốc gia không bị rơi vào tình trạng trì trệ.

Thứ hai, cải thiện thâm hụt ngân sách thông qua việc điều chỉnh chính sách nhập cư. Theo lý thuyết được trình bày ở trên, việc thâm hụt ngân sách là một trong những yếu tố dẫn đến việc thâm hụt cán cân thương mại. Bên cạnh đó, chính sách nhập cư của Hoa Kỳ lại đang tạo ra một lực lượng lao động không có chuyên môn cao, mức lương cơ sở cao so với trình độ và thất nghiệp dẫn đến hệ quả tất yếu là thâm hụt ngân sách và các doanh nghiệp có xu hướng đặt nhà máy sản xuất ở các quốc gia khác có trình độ nhân công rẻ cùng chất lượng sản xuất được đảm bảo. Do đó, việc điều chỉnh chính sách nhập cư có thể có tác động gián tiếp cân bằng được cán cân thương mại.

5. Kết luận

Cán cân thương mại, đặc biệt là cán cân hàng hóa bị thâm hụt là hiện tượng kinh tế không còn lạ lẫm đối với chính phủ Hoa Kỳ từ năm 1970. Tuy nhiên, Chính phủ Hoa Kỳ cần cân nhắc thu hút đầu tư vào sản xuất hàng tiêu dùng trong nước và cải thiện thâm hụt ngân sách để từ đó cải thiện được cán cân thương mại. Về phía Việt Nam, việc đại dịch Covid-19 được kiểm soát và ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang khiến cho Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng khả năng xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam cần cân nhắc, cẩn trọng với những can thiệp vào thị trường gây tác động tiêu cực đến các quy tắc cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả chưa lý giải cụ thể về cơ chế ảnh hưởng gián tiếp giữa chính sách nhập cư và cán cân thương mại. Do đó, đây cũng là gợi ý mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nghiên cứu sau này.


Tài liệu tham khảo:

1. Doan, V.H (2021) "Quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ: Một số vấn đề cần lưu ý". Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

2. Ferrero, A. (2010) "A structural decomposition of the US trade balance: Productivity, demographics and fiscal policy", Journal of Monetary Economics, 57(4), pp. 478–490.

3. Kapustina, L. Lipková, L., Silin, Y., Drevalev, A. (2020) "S-China trade war: Causes and outcomes", in SHS Web of Conferences. EDP Sciences, p. 01012.

4. "More Than a Third of Working Americans Experienced a Pandemic Pay Cut" (2020) MagnifyMoney, 1 December. Available at: https://www.magnifymoney.com/blog/banking/coronavirus-pay-cut-survey/

5. Ngoc Quynh (2021) "Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ: Sẽ sớm “cán mốc” 100 tỷ USD". Available at: https://congthuong.vn/thuong-mai-viet-nam-hoa-ky-se-som-can-moc-100-ty-usd-167464.html

6. Pham, M.H. và Nguyen, V.T. (2021) "Một số đánh giá về cáo buộc thao túng tiền tệ của hoa kỳ đối với Việt Nam". Tạp chí Kinh tế và Phát triển.

7. U.S. Bureau of Economic Analysis (BEA) (2021) ‘‘More Than a Third of Working Americans Experienced a Pandemic Pay Cut’ (2020) MagnifyMoney, 1 December. Available at: https://www.magnifymoney.com/blog/banking/coronavirus-pay-cut-survey/

8. Oshin, O. (2021) US trade deficit hits record $80.9 billion, TheHill. Available at: https://thehill.com/policy/finance/economy/

580079-us-trade-deficit-hits-record-809-billion

9. Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 10 và 10 tháng năm 2021 - TinHoatDong : Hải quan Việt Nam (no date). Available at: https://www.customs.gov.vn/Lists/TinHoatDong/ViewDetails.aspx?ID=31168&Category=Th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA%20H%E1%BA%A3i%20quan

10. Xuất nhập khẩu Việt Nam và Mỹ tháng 12/2020: Xuất siêu sang Mỹ hơn 6,4 tỷ USD (no date). Available at: http://www.lefaso.org.vn/chi-tiet-tin-tuc/26177/xuat-nhap-khau-viet-nam-va-my-thang-12-2020:-xuat-sieu-sang-my-hon-64-ty-usd



ThS. Đỗ Phú Đông

Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành