Thay đổi chiến lược đầu tư dự trữ ngoại hối của các NHTW trong bối cảnh lãi suất âm và một vài đề xuất đối với đầu tư dự trữ ngoại hối của Việt Nam

Công nghệ & ngân hàng số
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới hồi phục chậm chạp, giá cả và cầu đầu tư giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao… Trong bối cảnh đó, ngân hàng trung ương (...
aa

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới hồi phục chậm chạp, giá cả và cầu đầu tư giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao… Trong bối cảnh đó, ngân hàng trung ương (NHTW) của một số nước, nhất là những nước có đồng tiền nằm trong rổ dự trữ ngoại tệ của nhiều quốc gia như đồng EUR, đồng JPY… đã thực hiện chính sách lãi suất âm để thúc đẩy tín dụng kích thích tăng trưởng kinh tế hoặc nhằm để giảm áp lực tăng giá đồng tiền. Đây là chính sách tiền tệ phi truyền thống, chưa từng được áp dụng trước đây. Chính sách lãi suất âm này đã tác động đến mục tiêu sinh lời khi đầu tư dự trữ ngoại hối (DTNH) của các NHTW khác trên thế giới. Theo đó, để tránh lãi suất âm và đảm bảo yêu cầu đa dạng hóa khi đầu tư DTNH, cơ quan quản lý tài sản của các NHTW trên thế giới đang phải thay đổi chiến lược đầu tư DTNH và tăng cường công tác quản lý rủi ro. Với quy mô DTNH ngày càng tăng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng cần có những điều chỉnh trong công tác đầu tư DTNH để phù hợp với bối cảnh mới.


1. Lãi suất âm: khái niệm và diễn biến thực tế trên thị trường tài chính quốc tế

a) Khái niệm

Lãi suất là tỷ lệ chênh lệch giữa tiền cho vay và tiền nhận về, được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời gian, thường là một năm. NHTW các nước áp dụng chính sách tiền tệ phi truyền thống đã sử dụng tỷ lệ lãi suất áp dụng đối với ngân hàng thương mại (NHTM) để tác động đến lãi suất thị trường, giúp mở rộng hay thu hẹp tín dụng, đầu tư, tiêu dùng, đồng thời khích lệ hoặc hạn chế huy động vốn…, từ đó kiểm soát lạm phát và góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, công cụ lãi suất còn được NHTW sử dụng để góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế thông qua tác động của lãi suất đến cầu đồng nội tệ và cung, cầu đồng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối…

Lãi suất âm của NHTW là hiện tượng khi NHTW hạ lãi suất đối với tiền gửi của NHTM xuống mức âm, theo đó, NHTM phải trả lãi suất đối với dự trữ dư thừa tại NHTW. Lãi suất âm của NHTW có thể tác động đến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và lãi suất các NHTM áp dụng đối với tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.

b) Diễn biến lãi suất âm trên thị trường tài chính quốc tế

Kể từ năm 2012, khi mức lãi suất trên thị trường đã ở mức rất thấp, kinh tế các nước phát triển vẫn ở trong tình trạng trì trệ, một số NHTW ở khu vực châu Âu và NHTW của Nhật Bản đã lần lượt hạ lãi suất đối với tiền gửi của các NHTM xuống tới mức âm nhằm kích thích tín dụng, tăng tỷ lệ lạm phát hoặc để giảm áp lực tăng giá đối với đồng nội tệ.

NHTW Đan Mạch là NHTW đầu tiên áp dụng chính sách lãi suất âm, theo đó lãi suất đối với chứng chỉ tiền gửi của NHTW Đan Mạch đã ở mức âm từ tháng 7 năm 2012. Tiếp theo, từ tháng 6/2014, NHTW châu Âu (ECB) đã áp dụng lãi suất âm đối với tiền gửi của các NHTM, trở thành NHTW lớn đầu tiên áp dụng lãi suất âm và đã duy trì mức lãi suất -0,4% đối với tiền gửi của các NHTM từ năm 2016 đến nay. Sau đó, NHTW Thụy Sỹ đã áp dụng lãi suất âm đối với tiền gửi của các NHTM từ cuối năm 2014 và duy trì mức lãi suất -0,75% từ năm 2015 đến nay. Tiếp theo Thụy Sỹ, lãi suất repo (lãi suất thị trường mở) của Thụy Điển đã ở mức âm từ tháng 2/2015 và duy trì ở mức -0,5% từ năm 2016 đến nay. NHTW Nhật Bản cũng áp dụng chính sách lãi suất âm từ đầu năm 2016 và đến thời điểm tháng 10/2017, lãi suất chiết khấu của NHTW Nhật ở mức -0,1%.

Sau khi các NHTW nói trên áp dụng mức lãi suất âm đối với các NHTM, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ở các nước này đã ở mức âm. Cụ thể, lãi suất Libor đối với đồng EUR, CHF và JPY và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ở một số quốc gia đã thấp hơn “không”: lãi suất Libor 3 tháng đối với đồng Francs Thụy Sỹ (CHF) đã giảm xuống mức âm từ cuối năm 2014, ở mức -073% vào tháng 10/2017; lãi suất Libor 3 tháng đối với đồng EUR đã giảm xuống mức âm từ năm 2015, ở mức -0,38% vào ngày 16/10/2017; lãi suất Libor 3 tháng đối với đồng JPY đã giảm xuống mức âm vào tháng 2/2016 và ở mức -0,04% vào tháng 10/2017; lãi suất 3 tháng trên thị trường liên ngân hàng tại Thụy Điển và Đan Mạch đã giảm xuống mức âm từ năm 2015, ở mức -0,52% trên thị trường Thụy Điển vào ngày 17/10/2017, ở mức -0,3% trên thị trường Đan Mạch vào ngày 17/10/2017.

Khi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ở mức âm, các NHTM chưa áp dụng lãi suất âm đối với khách hàng cá nhân do lo ngại về khả năng khách hàng cá nhân rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng; tuy nhiên, các NHTM đã áp mức lãi suất âm đối với số dư tài khoản lớn của khách hàng doanh nghiệp và của các NHTW khác trên thế giới. Đồng thời, một số NHTM đã áp dụng lãi suất âm đối với khách hàng thông qua các loại phí, như phí duy trì tài khoản và các loại phí khác. Theo số liệu của IMF, tại Thụy Điển, Đan Mạch, Thụy Sỹ và Nhật Bản và tại khu vực đồng EUR, lãi suất áp dụng đối với người gửi tiền cá nhân nhìn chung vẫn ở mức dương. Theo Tradingeconomics, trung bình lãi suất tiền gửi đối với khách hàng tổ chức và cá nhân tại Nhật Bản và Đan Mạch vẫn duy trì ở mức dương, tuy nhiên, tại thị trường Thụy Điển và Thụy Sỹ đã xuống mức âm, trong đó, mức âm bắt đầu tại Thụy Điển từ năm 2014 và bắt đầu tại Thụy Sỹ từ năm 2015.

Không chỉ riêng đối với tiền gửi, lãi suất âm lan sang cả thị trường trái phiếu. Vào thời điểm cao điểm giữa năm 2016, tổng giá trị thị trường của các loại trái phiếu, bao gồm các khoản nợ được chứng khoán hóa và nợ của doanh nghiệp hưởng lãi suất âm đạt tới 12,2 nghìn tỷ USD. Cũng vào thời điểm cao điểm giữa năm 2016, lãi suất trái phiếu Chính phủ Nhật và Đức thời hạn tới 15 năm đã ở mức âm. Tại Thụy Sỹ từ tháng 2/2016 lãi suất trái phiếu Chính phủ thời hạn 10 năm đã ở mức âm.


2. Thay đổi chiến lược đầu tư dự trữ ngoại hối của các NHTW trên thế giới trong bối cảnh lãi suất thị trường âm

DTNH có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tin đối với chính sách tiền tệ, tỷ giá, đồng thời giúp đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế và đáp ứng các nghĩa vụ nợ nước ngoài của một quốc gia. Để thực hiện tốt được vai trò này, các tài sản thuộc DTNH được các NHTW quản lý hoặc đầu tư theo mục tiêu an toàn, thanh khoản và sinh lời. Tuy nhiên, chính sách lãi suất âm của một số NHTW đã tác động đến mục tiêu sinh lời trong hoạt động đầu tư DTNH của các NHTW, khiến các NHTW đã phải điều chỉnh chiến lược đầu tư, như đa dạng hóa đồng tiền đầu tư DTNH, đa dạng hóa tài sản đầu tư…

2.1. Điều chỉnh cơ cấu đồng tiền đầu tư dự trữ ngoại hối của các NHTW

2.1.1. Xu hướng giảm đầu tư vào đồng EUR:

Trong cơ cấu đồng tiền đầu tư DTNH của các NHTW, đồng EUR chiếm tỷ lệ đầu tư khá cao chỉ sau USD do đồng tiền này là một đồng tiền mạnh, có giá trị ổn định, có tính thanh khoản cao, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thanh toán thương mại và đầu tư quốc tế. Do đó, việc duy trì tỷ lệ đồng EUR trong DTNH của quốc gia là cần thiết, đảm bảo yêu cầu về đa dạng hóa đầu tư cũng như yêu cầu về đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, từ khi ECB áp dụng chính sách lãi suất âm khiến lợi tức đối với các khoản tiền gửi bằng đồng EUR thuộc DTNH của các NHTW tại các NHTM giảm mạnh, thậm chí ở mức âm, đồng thời lợi tức trái phiếu bằng đồng EUR của chính phủ các nước Đức, Pháp… cũng giảm mạnh, thậm chí ở nhiều thời điểm còn giảm xuống mức âm khiến NHTW các nước phải điều chỉnh giảm lượng đầu tư DTNH vào đồng EUR. Theo cơ sở dữ liệu Thống kê dự trữ hối đoái chính thức (COFER) của IMF, từ khi ECB áp dụng chính sách lãi suất âm từ tháng 6/2014 đến nay, tỷ lệ đầu tư DTNH vào đồng EUR của các NHTW đã duy trì xu hướng giảm; giảm mạnh từ mức 24,1% vào Quý I/2014 xuống các mức 21,56%, 21,2%, 20,01% tương ứng vào Quý III/2014, Quý IV/2014 và Quý I/2015, tiếp đó liên tục duy trì ở mức thấp dưới 20% từ Quý II/2015 đến thời điểm quý II/2017.

2.1.2. Đa dạng hóa đồng tiền:

Cùng với xu hướng giảm đầu tư vào đồng EUR, một số NHTW đã thực hiện đa dạng hóa đồng tiền đầu tư DTNH. Cụ thể là:
Bên cạnh một số nền kinh tế lớn, Úc và Canada là hai nền kinh tế thịnh vượng và phát triển ổn định, đều được đánh giá là các quốc gia có mức xếp hạng an toàn cao, tương đương với xếp hạng của các nước Mỹ, Đức, Nhật. Đồng thời, lợi tức và quy mô thị trường của đồng AUD và CAD tương đối phù hợp để đầu tư. Cụ thể, lãi suất hai đồng tiền này tương đối hấp dẫn, ở mức 1,5% đối với đồng AUD và 1% đối với đồng CAD, cao hơn lãi suất của các đồng GBP, EUR và JPY. Lợi tức trái phiếu Chính phủ Úc và Canada hiện khá cao: lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Chính phủ Úc vào thời điểm ngày 8/12/2017 là 2,53%, của trái phiếu Chính phủ Canada vào ngày 7/12/2017 là 1,86%, cao hơn nhiều lợi tức trái phiếu cùng kỳ hạn của Chính phủ Đức (0,29%), Anh (1,25%), Nhật (0,05%),… Ngoài ra, quy mô thị trường trái phiếu bằng hai đồng tiền này khá lớn; cụ thể, theo Bloomberg, vào Quý IV năm 2015 và quý I năm 2016, quy mô thị trường trái phiếu bằng đồng AUD tương ứng ở mức 398 tỷ AUD và khoảng 414 tỷ AUD, quy mô thị trường trái phiếu bằng đồng CAD tương ứng ở mức 665 tỷ CAD và khoảng 658 tỷ CAD.

Xét trên tiềm lực kinh tế của Úc, Canada và mức lãi suất tiền gửi, lợi tức đầu tư trái phiếu cao và quy mô thị trường trái phiếu lớn, đồng thời để tránh phải đầu tư DTNH với lãi suất âm, NHTW các nước đã tăng cường đầu tư DTNH vào đồng AUD và CAD. Cùng với xu hướng tăng cường đầu tư vào đồng AUD và CAD của các NHTW, từ tháng 6/2013 IMF đã chính thức bổ sung hai đồng tiền này vào cơ sở dữ liệu COFER, đưa hai đồng tiền này trở thành đồng tiền DTNH chính thức thứ 6 và 7 trong dữ liệu của IMF, cùng các đồng tiền khác như USD, EUR, JPY, GBP và CHF. Theo số liệu COFER của IMF, tỷ lệ đầu tư vào đồng AUD trung bình giai đoạn từ Quý II năm 2014 đến nay ở mức 1.71%, đầu tư vào đồng CAD ở mức 1,83%; trong đó, xét theo số liệu trung bình năm, tỷ lệ đầu tư vào đồng AUD và CAD có xu hướng tăng từ năm 2015 đến nay. Đến thời điểm Quý II năm 2017, tỷ lệ đầu tư vào đồng AUD ở mức 1,77%, đầu tư vào đồng CAD ở mức 1,95%.

Bên cạnh việc đa dạng hóa đầu tư đồng AUD và CAD, nhiều NHTW đã xem xét việc đa dạng hóa đầu tư DTNH vào đồng RMB của Trung Quốc. Hiện nay đồng RMB đóng vai trò quan trọng trong thanh toán thương mại và đầu tư quốc tế. Cụ thể, theo thống kê của Hiệp hội thanh toán tiền tệ quốc tế (SWIFT), tính đến tháng 12/2014, RMB là đồng tiền thứ 2 sau USD trong giao dịch thương mại quốc tế (chiếm khoảng 8%). Đồng thời, theo BIS, tính đến tháng 4/2016, tỷ trọng RMB trong giao dịch toàn cầu khoảng 4%, RMB đứng thứ 8 trong số các đồng tiền giao dịch toàn cầu, cặp tỷ giá USD/CNY đứng thứ 6 trong số các cặp tỷ giá được giao dịch nhiều nhất và RMB là đồng tiền được giao dịch mạnh nhất trong số các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi. Trong trung và dài hạn, vai trò của RMB trong thương mại, đầu tư, vay nợ quốc tế dự kiến sẽ tăng lên khi Trung Quốc đạt được thành quả trong cải cách kinh tế, các chỉ số kinh tế vĩ mô được cải thiện, tiến trình quốc tế hóa đồng RMB và tự do hóa tài khoản vốn tiếp tục được đẩy mạnh.

Ngày 30/11/2015, IMF công bố kể từ ngày 01/10/2016, đồng RMB của Trung Quốc được bổ sung vào rổ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), trở thành đồng tiền thứ 5 trong rổ SDR cùng với đô la Mỹ, đồng EURO, bảng Anh và Yên Nhật. Với việc được IMF đưa vào rổ SDR, RMB được coi là đồng tiền có khả năng tự do sử dụng và trở thành đồng tiền dự trữ chính thức. Trong bối cảnh giảm lãi suất của các tài sản an toàn truyền thống và rủi ro ngày càng tăng của các tài sản thường được nắm giữ khác, hiện có tới 60 NHTW đã bổ sung RMB vào DTNH. Hầu hết các nước ASEAN đã đầu tư DTNH bằng đồng RMB (toàn bộ các nước ASEAN 5 và Campuchia), trong đó Malaysia là quốc gia đầu tiên tuyên bố nắm giữ trái phiếu bằng đồng RMB trong cơ cấu DTNH của mình (tháng 10/2010) và Singapore là quốc gia gần đây tuyên bố đưa RMB vào DTNH chính thức của nước này (tháng 6/2016). Theo số liệu COFER của IMF, tỷ trọng đầu tư DTNH bằng RMB từ quý IV năm 2016 đến nay của các nước trên thế giới trung bình là 1,08%.

2.2. Đa dạng hóa tài sản đầu tư dự trữ ngoại hối

Các NHTW thường đầu tư DTNH thông qua hình thức tiền gửi hoặc đầu tư vào các tài sản có tính an toàn và thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ của các nước được xếp hạng tín nhiệm cao. Trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, các hình thức đầu tư này vẫn mang lại lợi tức khá cao. Tuy nhiên, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, lãi suất trên thị trường quốc tế giảm xuống ở mức thấp, đặc biệt kể từ khi một số NHTW áp dụng lãi suất âm, trái phiếu bằng đồng EUR của các chính phủ được xếp hạng cao như Đức, Thụy Sỹ, Nhật Bản đã ở mức âm. Để tránh phải trả lãi suất âm, các NHTW đang phải đa dạng hóa tài sản đầu tư DTNH, trong đó nhiều NHTW đã phải chấp nhận đầu tư vào các tài sản mang tính rủi ro cao hơn và tính thanh khoản thấp hơn. Một khảo sát thực hiện vào tháng 8/2015 đối với các nhà quản lý quỹ DTNH từ 77 NHTW quản lý tới 6000 tỷ USD DTNH cho thấy đa số các NHTW đang điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng đầu tư cả vào những tài sản rủi ro hơn.

Một trong số những tài sản các NHTW thực hiện đa dạng hóa đầu tư trong bối cảnh lãi suất âm là trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu của Chính phủ các nước có thị trường mới nổi. Các tài sản này được đánh giá có tính an toàn và thanh khoản kém hơn trái phiếu Chính phủ các nước Mỹ, Đức, Nhật, Thụy Sỹ…; tuy nhiên, để đạt được lợi tức lớn hơn và đặc biệt để tránh phải đầu tư DTNH với lãi suất âm, một số NHTW đã đầu tư vào các tài sản này. Trong đó, từ năm 2015, NHTW Thụy Sỹ đã đầu tư vào trái phiếu chính phủ Trung Quốc và trái phiếu doanh nghiệp ở các thị trường mới nổi. NHTW Thụy Điển và Na Uy cũng tăng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và các tài sản có rủi ro cao hơn trước đây. Đồng thời, một cuộc khảo sát được thực hiện với 18 NHTW tại châu Âu, Trung Đông và châu Phi trong năm 2016 cho thấy gần một nửa số NHTW dự kiến tăng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp do lợi tức từ trái phiếu chính phủ ở mức quá thấp.

Bên cạnh tăng cường đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ các thị trường mới nổi, các NHTW cũng tăng cường đầu tư vào cổ phiếu, cũng là một tài sản có tính rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ của các nước được xếp hạng tín dụng cao. Cụ thể, từ năm 2014 NHTW Phần Lan đã bắt đầu đầu tư vào cổ phiếu doanh nghiệp, còn tại Thụy Sỹ, đến năm 2017, tổng đầu tư vào cổ phiếu đã chiếm tới khoảng 20% tổng DTNH của Thụy Sỹ. Đồng thời, cuộc khảo sát được thực hiện với 18 NHTW tại châu Âu, Trung Đông và châu Phi trong năm 2016 cho thấy phần lớn các NHTW dự kiến tiếp tục tăng cường đầu tư thêm vào cổ phiếu doanh nghiệp.

Hơn nữa, theo một cuộc khảo sát do Central Banking Publications và Ngân hàng HSBC thực hiện, một số NHTW đang xem xét đầu tư vào các khoản cho vay được cơ cấu thành chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản, các tài sản này được đánh giá là có mức độ rủi ro tương đối cao. Ngoài ra, một số NHTW đã phải kéo dài thời hạn đầu tư tài sản để hưởng lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, các tài sản dài hạn này thường có tính thanh khoản không cao, do đó, có thể tác động đến việc thực hiện chức năng của DTNH như chức năng ổn định thị trường ngoại tệ, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế của quốc gia…

Đồng thời, trong bối cảnh lãi suất đối với một số đồng tiền đã ở mức âm, các NHTW đã tăng cường đa dạng hóa đầu tư sang vàng. Trong đó, Nga và Trung Quốc là 2 nước dẫn đầu xu hướng này. Theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới, chỉ tính riêng 6 tháng cuối năm 2015, các NHTW trên thế giới đã mua trên 336 tấn vàng, là lượng vàng kỷ lục mua được trong 6 tháng của các NHTW. Theo Theguardian, tính từ năm 2008 đến quý III năm 2016 lượng vàng trong dự trữ ngoại hối của các NHTW đã tăng thêm 2.800 tấn, tương đương 9,4% tổng dự trữ, đưa vàng chiếm tới 13% tổng dự trữ của các NHTW. Mặc dù vàng có tính thanh khoản cao nhưng giá vàng thường có những biến động lớn, có thể tác động đến việc bảo tồn giá trị của quỹ DTNH của các quốc gia.

Cùng với xu hướng đa dạng hóa đầu tư vào nhiều tài sản phi truyền thống, trong đó có nhiều loại tài sản có tính rủi ro cao hơn, NHTW nhiều nước đang triển khai áp dụng hình thức ủy thác đầu tư DTNH. Hình thức này đã được nhiều NHTW, đặc biệt là NHTW các nước khu vực châu Á áp dụng trong hoạt động đầu tư DTNH. Nghiệp vụ này vừa giúp NHTW các nước tận dụng các kỹ thuật quản lý tiên tiến của các công ty quản lý tài sản chuyên nghiệp để tăng độ an toàn sinh lời cho đầu tư DTNH, mặt khác, NHTW các nước sẽ được lợi từ các cam kết chuyển giao công nghệ, chia xẻ thông tin và đào tạo cán bộ từ đối tác.

2.3. Tăng cường công tác quản lý rủi ro trong đầu tư dự trữ ngoại hối:

Chính sách lãi suất âm đã tác động đến lợi tức đầu tư DTNH của các NHTW trên thế giới, khiến các NHTW đang phải đầu tư vào các tài sản rủi ro cao hơn và tính thanh khoản thấp hơn. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đã cho thấy việc đầu tư DTNH cần đặt ưu tiên đối với việc đảm bảo an toàn và thanh khoản cho DTNH. Trong bối cảnh hiện nay, để các nhà quản lý quỹ DTNH có các quyết định đầu tư đúng đắn thì khuôn khổ hướng dẫn đầu tư phải được tăng cường theo hướng quy định chi tiết các nhiệm vụ trong quản lý quỹ DTNH, những mục tiêu dài hạn của quỹ, việc cân bằng giữa lợi suất và rủi ro, các mức độ rủi ro được phép đầu tư (bao gồm quy định cụ thể các đồng tiền, tài sản, thời hạn, đối tác … được phép đầu tư). Đồng thời, để giám sát chặt chẽ các rủi ro trong hoạt động đầu tư, cần xây dựng các chỉ số định lượng, bao gồm chỉ số về rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tập trung, rủi ro tín dụng của các đối tác đầu tư…

Trên cơ sở khuổn khổ hướng dẫn đầu tư, các nhà quản lý quỹ DTNH phải thực hiện thường xuyên phân bổ đầu tư trên cơ sở theo dõi những diễn biến thực tế và dự báo về lãi suất, tỷ giá các đồng tiền trên thị trường tài chính quốc tế để có những quyết định đầu tư kịp thời và hiệu quả.

Như vậy, trong bối cảnh sau khủng hoảng tài chính, lãi suất trên thị trường ở mức rất thấp và đặc biệt lãi suất của một số đồng tiền ở mức âm, NHTW các nước đã thay đổi chiến lược đầu tư DTNH, bao gồm đa dạng hóa đồng tiền và tài sản đầu tư, triển khai hình thức ủy thác đầu tư và tăng cường công tác quản lý rủi ro trong đầu tư DTNH.

3. Một số đề xuất đối với đầu tư dự trữ ngoại hối của Việt Nam

Đối với Việt Nam, trong bối cảnh lãi suất đầu tư một số đồng tiền ở mức âm, NHNN cũng cần tiếp tục có những điều chỉnh trong đầu tư DTNH theo hướng đảm bảo an toàn, thanh khoản, sinh lời và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Trong đó, việc thực hiện đa dạng hóa đồng tiền đầu tư cần được thực hiện thận trọng theo từng giai đoạn và dựa trên phân tích về triển vọng thị trường, dự báo lãi suất, tỷ giá của đồng tiền đó. Việc đa dạng hóa tài sản đầu tư DTNH cần dựa trên nghiên cứu và phân tích kỹ về những rủi ro và phương thức quản lý những rủi ro đi kèm.

Song song với việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư, công tác quản lý rủi ro cũng cần được tăng cường. Theo đó, kiểm soát rủi ro cần phải được thực hiện đồng thời với cả rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản trên cơ sở một tập hợp chỉ số phức hợp về đo lường rủi ro. Đồng thời, NHNN cần hoàn thiện quy trình giám sát việc tuân thủ quy định về quản lý rủi ro theo hướng quy định rõ ràng hơn trách nhiệm của từng cấp quản lý cụ thể. Ngoài ra, để đạt hiệu quả trong quản lý và đầu tư DTNH, hệ thống công nghệ thông tin cần được tăng cường, các cán bộ làm công tác quản lý và đầu tư DTNH cần được đào tạo chuyên sâu để đảm bảo hiểu rõ quy trình đầu tư và những rủi ro tiềm tàng của các hình thức đầu tư mới.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bank of Japan. 2016. Introduction of “Quantitative and Qualitative Monetary Easing with a Negative Interest Rate.”
- ADB, 2017, The effectiveness of Japan’s negative interest rate policy
- ECB, 2017, Monetary policy and bank profitability in a low interest rate environment
- ECB, 2017, Do negative interest rates make banks less safe?
- FED, 2017, “Low-For-Long” Interest Rates and Banks’ Interest Margins and Profitability: Cross-Country Evidence
- IMF, 2017, Negative interest rates policies - initial experiences and assessments
- BIS, 2016, Unconventional monetary policies.

ThS. Nguyễn Ngọc Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN

(Tạp chí Ngân hàng số 1/2018)
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng