Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài và vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới

Nghiên cứu - Trao đổi
Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam sang nước ngoài được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ và doanh nghiệp nhằm xuất khẩu, phân phối hàng hóa của Việt Nam ra nước n...
aa

Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam sang nước ngoài được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ và doanh nghiệp nhằm xuất khẩu, phân phối hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài...

Cùng với các chính sách của Nhà nước về thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài, xu hướng gia tăng nhanh số lượng, quy mô các dự án đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam tuy đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng cần có những hướng đi cụ thể với những giải pháp đồng bộ để phát triển hệ thống phân phối hàng hóa vững chắc, làm cầu nối cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xuất khẩu trong thời kỳ mới. Bài viết đánh giá về hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020 và một số vấn đề đặt ra đối với hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong giai đoạn tới.



Hàng nông sản Việt Nam được người tiêu dùng của nhiều quốc gia quan tâm, đón nhận

1. Một số đánh giá về hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020

1.1. Những kết quả đạt được

Trong giai đoạn 2016 - 2020, hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài đã đạt được một số kết quả quan trọng cả từ phía Nhà nước và doanh nghiệp. Về phía Nhà nước, với sự nỗ lực trong việc đàm phán, tiến tới ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTAs), cũng như các hiệp định đa phương khác có liên quan; tổ chức xúc tiến thương mại tại các nước... đã tạo điều kiện thuận lợi và góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước và vùng lãnh thổ.

Cụ thể: (i) Số lượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các quốc gia có xu hướng gia tăng; (ii) Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang mở rộng hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang nhiều nước; (iii) Các phương thức và hình thức phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước tương đối phù hợp với điều kiện thực tế và trình độ phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam:

Phát triển hình thức xuất khẩu trực tiếp hàng hóa vào các hệ thống phân phối hiện đại

Hầu hết đại diện các tập đoàn phân phối lớn trên thế giới đang có mặt ở Việt Nam như Walmart, Central Group, Aeon, Lotte, Decathlon,… sẵn sàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam tìm kiếm cơ hội xuất khẩu các sản phẩm gốc Việt vào hệ thống phân phối với những tiêu chuẩn tuyển chọn hàng hóa khá khắt khe của họ.

Hàng Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều trong các đại siêu thị, trong các hệ thống phân phối hiện đại tại nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển khá tốt phương thức xuất khẩu hàng hóa thông qua các siêu thị lớn đang đầu tư tại Việt Nam. Giá trị hàng hóa Việt Nam xuất khẩu qua hệ thống phân phối hiện đại đang hiện diện tại Việt Nam tăng dần qua các năm. Chủng loại mặt hàng của Việt Nam đã có sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, hàng hóa được trưng bày có sự đa dạng về chủng loại và mẫu mã, với rất nhiều loại mặt hàng như trái cây tươi (dừa, thanh long, chuối…), hàng thực phẩm chế biến (mì, phở ăn liền, gia vị, bia - rượu - nước giải khát…), hàng may mặc, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ… Hàng Việt Nam được người tiêu dùng của nhiều quốc gia quan tâm và đón nhận. Trong đó, hàng nông sản chủ yếu là mặt hàng quả tươi (như thanh long, xoài, chuối, vải, khoai lang, ớt chuông, củ dền,…) và thủy sản (như cá tra đông lạnh, mực,...). Bên cạnh đó, xuất hiện những mặt hàng nông sản chế biến thương hiệu Việt.

Sản phẩm Việt Nam xuất khẩu vào hệ thống phân phối hiện đại ở nước ngoài được đưa vào một số thị trường khó tính như Nhật Bản (tập đoàn Aeon), Mỹ (Walmart), Pháp và Thái Lan (Big C MM Mega Market), Ý (Central Retail)… Tại châu Á gồm có Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Trung Quốc; tại châu Âu: Ý, Pháp, Anh; tại châu Mỹ: Hoa Kỳ và một số thị trường các quốc gia châu Phi.

Số lượng doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp hàng hóa xuất khẩu thông qua các hệ thống phân phối hiện đại hiện diện tại Việt Nam ngày càng tăng.

Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam có tiến triển tích cực với số dự án và vốn đăng ký năm sau luôn cao hơn năm trước. Điều này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung đầu tư ở trong nước mà còn mở rộng đầu tư ra nước ngoài để khẳng định thương hiệu, vị thế của mình trên trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vào lĩnh vực này đa dạng, phong phú nhiều ngành nghề như: Thông tin truyền thông, y tế, giáo dục đào tạo, tài chính - ngân hàng, bất động sản, kho bãi, giao thông vận tải, giải trí, nghệ thuật… Trong đó, lĩnh vực dịch vụ phân phối có tổng số vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng, đến năm 2020, con số tương ứng là 602,1 triệu USD. Các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ phân phối (bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác) là các lĩnh vực có số lượng dự án đầu tư ra nước ngoài cao nhất trong khu vực dịch vụ. Số lượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang nước ngoài có xu hướng gia tăng.

Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang nước ngoài, nhưng thực tế qua các hội chợ thương mại Việt Nam ở các nước này cho thấy, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam đang và dự kiến tìm kiếm đối tác để phát triển hệ thống phân phối ra nước ngoài đang có xu hướng gia tăng mạnh trong những năm gần đây.

- Mở rộng hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam. Giai đoạn đầu, các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hệ thống phân phối hàng hóa qua biên giới sang các nước Lào và Campuchia do những điều kiện thuận lợi có chung đường biên giới đất liền. Sau đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã và đang đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối sang Myanmar để khai thác tiềm năng của thị trường này. Đối với thị trường Thái Lan, mặc dù Việt Nam có sự tương đồng về cơ cấu hàng hóa cộng với những hạn chế về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã có bước đầu tìm kiếm cơ hội phát triển hệ thống phân phối thông qua hội chợ tại Thái Lan.

Bên cạnh các quốc gia Đông Nam Á, một số doanh nghiệp của Việt Nam đã đầu tư cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển hơn như Hàn Quốc, Singapore, thậm chí là Nhật Bản và Mỹ, trong đó, phần lớn là các loại thực phẩm như cà phê, sữa,... Việc doanh nghiệp Việt Nam tăng đầu tư sang các thị trường lớn, có trình độ công nghệ, khoa học kỹ thuật cao như Mỹ, Canada, châu Âu... là tín hiệu tốt, cho thấy chất lượng đầu tư được cải thiện.

- Hàng hóa Việt Nam được cung cấp sang các nước qua các hệ thống phân phối của doanh nghiệp có sự gia tăng về quy mô và cơ cấu mặt hàng.

- Các phương thức và hình thức phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước phù hợp với điều kiện thực tế và tương đối đa dạng với phương thức hiện diện của thể nhân (lực lượng thương nhân mang hàng hóa sang bán tại các chợ biên giới của Lào và Campuchia), cũng như phương thức tiêu dùng dịch vụ phân phối ở nước ngoài (các thương nhân Việt Nam bán hàng hóa qua các chợ, siêu thị tại các khu kinh tế cửa khẩu cho dân cư biên giới hai nước Lào và Campuchia). Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã phát triển hệ thống phân phối sang các nước bằng phương thức hiện diện thương mại (mở chi nhánh, xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng bán lẻ).

Về các hình thức phát triển hệ thống phân phối, các doanh nghiệp Việt Nam đang tập trung phát triển mạnh theo hình thức đại lý tiêu thụ. Bên cạnh đó, việc phát triển hệ thống phân phối theo hình thức bán lẻ, bán buôn cũng được các doanh nghiệp Việt Nam tập trung phát triển trên tuyến biên giới với Lào và Campuchia.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển khá tốt phương thức phân phối hàng hóa sang các quốc gia thông qua các siêu thị lớn của các tập đoàn đa quốc gia đang đầu tư tại Việt Nam. Tận dụng được kênh phân phối thông qua các doanh nghiệp gốc Việt ở các nước có cộng đồng Việt kiều sinh sống lớn như Mỹ, Đức, Cộng hòa Séc... Đồng thời, một số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô lớn cũng đã bước đầu phát triển hệ thống phân phối sang các nước bằng phương thức thương mại (mở chi nhánh, xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng bán lẻ) tại thị trường nước sở tại.

- Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang mở rộng hoạt động phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang nhiều nước: Tại các nước châu Á: Lào, Campuchia, Myanmar và một số quốc gia châu Á khác là địa điểm nhận đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam khá lớn, trong đó có lĩnh vực hạ tầng phân phối.

Trong số các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU): Giai đoạn đầu các doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước thông qua các doanh nghiệp phân phối đang đầu tư tại Việt Nam như Pháp, Đức và sau đó là đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối sang một số thị trường khác như Cộng hòa Séc, Thụy Điển, Italia… để khai thác tiềm năng của thị trường này. Nhiều doanh nghiệp đang bước đầu tìm kiếm cơ hội phát triển hệ thống phân phối thông qua các hội chợ và triển lãm thương mại ở châu Âu như Hội chợ Quốc tế Công nghiệp thực phẩm Anuga 2019 tại Cộng hòa liên bang Đức, Hội chợ công nghiệp thực phẩm (SIAL Paris), Triển lãm Quốc tế chuyên ngành Thủy hải sản tại Bỉ, Hội chợ Thương mại Quốc tế MAP-EXPO tại Hà Lan…

1.2. Những hạn chế và nguyên nhân

(i) Hạn chế

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng việc phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nước từ phương diện Nhà nước còn những hạn chế cơ bản, như:

- Các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hệ thống phân phối sang các nước chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất và với số lượng không nhiều. Việc thiếu vắng các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ phân phối, nhất là các doanh nghiệp lớn trong phát triển hệ thống phân phối ra nước ngoài đã hạn chế khả năng huy động nguồn hàng có lợi thế sản xuất trong nước cả về quy mô và cơ cấu hàng hóa. Đồng thời, số lượng doanh nghiệp tham gia phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước còn quá thấp so với khoảng trên 400 nghìn doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay.

- Danh mục hàng hóa trong hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nước còn khiêm tốn. Thực tế cho thấy, danh mục hàng hóa Việt Nam được phân phối tại các nước còn hạn hẹp. Ví dụ, tại thị trường Pháp mới chỉ có khoảng 25 mặt hàng của Việt Nam. Đồng thời, chủng loại hàng hóa cũng chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng thực phẩm công nghệ, đồ điện gia dụng. Trong khi nhiều mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế sản xuất và xuất khẩu lớn như may mặc, giầy dép, các mặt hàng nông sản chế biến,… chưa được đưa vào trong hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp sang các nước.

- Các doanh nghiệp Việt Nam mới tập trung phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước dưới hình thức bán buôn hoặc xuất khẩu qua các nhà phân phối bán lẻ lớn, hình thức đầu tư hệ thống bán lẻ, nhượng quyền thương mại cũng chưa được thực hiện. Trong các hình thức phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ra nước ngoài, việc phát triển hệ thống bán lẻ sẽ có lợi thế trong việc tăng khai thác nguồn hàng trong nước cả về quy mô và cơ cấu hàng hóa, đồng thời có thể thu nhận được thông tin trực tiếp từ khách hàng để điều chỉnh hoạt động phân phối, cơ cấu, giá cả hàng hóa... Bên cạnh đó, hoạt động nhượng quyền thương mại có tác dụng quảng bá thương hiệu, tiếp cận nhanh thị trường nước ngoài. Do đó, đây là một trong những hạn chế, đòi hỏi Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam khắc phục trong giai đoạn tới.

Đối với các quốc gia có chung biên giới như Lào, Campuchia, hình thức buôn bán chủ yếu thông qua đường tiểu ngạch, khiến lượng hàng Việt Nam đến tay người tiêu dùng nước ngoài còn nhỏ lẻ. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa quan tâm thực sự tới việc thiết lập kênh phân phối của mình tại thị trường nước ngoài mà chỉ chủ yếu là bán hàng cho các thương nhân Lào, Campuchia để họ tự phân phối tại thị trường. Điều này khiến cho việc phân phối hàng hóa không có sự chủ động và khó điều chỉnh trong những thời điểm gặp khó khăn.

Trình độ quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, tiềm lực vật chất còn yếu, nguồn nhân lực dồi dào nhưng kỹ năng không cao, điều này khiến cho hệ thống phân công lao động gặp nhiều bất cập ở thị trường nước ngoài.

Thách thức về hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết, vẫn còn tồn tại chênh lệch đáng kể về cơ sở hạ tầng, bao gồm các tuyến đường thứ cấp kém chất lượng, thiếu kết nối đường sắt, thiếu cảng biển và cơ sở hạ tầng cảng hàng không, thiếu cơ sở vật chất hậu cần, thiếu năng lượng ở một số nước làm gián đoạn quá trình sản xuất cũng như vận chuyển

hàng hóa.

- Kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với số lượng chủng loại mặt hàng cũng như tiềm năng sản xuất của Việt Nam. Danh mục hàng hóa trong hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nước còn khiêm tốn. Trong đó, mặt hàng xuất khẩu qua các hệ thống phân phối nước ngoài chiếm chủ yếu vẫn là hàng may mặc, thủy sản, thực phẩm chế biến và một số mặt hàng trái cây, rau củ tươi,... Bên cạnh đó, đa số mới chỉ là “Made in Vietnam” mà còn thiếu những nhãn hàng chính thức của Việt Nam.

- Các doanh nghiệp Việt Nam phát triển hệ thống phân phối sang các nước chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất và với số lượng không nhiều. Các doanh nghiệp Việt Nam mới tập trung phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước dưới hình thức bán buôn hoặc xuất khẩu qua các nhà phân phối bán lẻ lớn, hình thức đầu tư hệ thống bán lẻ, nhượng quyền thương mại cũng chưa được thực hiện.

- Tình trạng cho vay đầu tư ra nước ngoài gia tăng. Tại một số địa bàn và lĩnh vực xuất hiện rủi ro về mặt pháp lý, có nguy cơ dẫn đến các vụ kiện, tranh chấp quốc tế. Một số dự án đầu tư chậm tiến độ, đầu tư không hiệu quả, nhất là dự án đầu tư của nhà nước, tiến độ xử lý các dự án này còn chậm do có quy mô lớn, liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp,... Số dự án vẫn còn ít, vốn đầu tư thực hiện thấp và các dự án triển khai khá chậm; vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các dự án Việt Nam không đều qua các năm; chất lượng hoạt động của các vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam cũng có những hạn chế...

Lĩnh vực dịch vụ phân phối còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Năm 2020 tỷ trọng này tăng nhẹ, đạt 2,81%. Quy mô vốn đầu tư bình quân dự án nhỏ so với nhiều ngành dịch vụ khác. Quy mô vốn đăng ký đầu tư bình quân của các dự án trong lĩnh vực dịch vụ phân phối năm 2020 đạt 1,48 triệu USD/dự án. So với quy mô vốn đăng ký bình quân chung của các dự án đầu tư ra nước ngoài, vốn đăng ký bình quân của dự án trong lĩnh vực dịch vụ phân phối đã giảm mạnh. Đến năm 2020, tỷ lệ này tăng nhẹ nhưng vẫn thấp, tương đương 9,68%.

- Hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam trên tuyến biên giới với Lào và Campuchia tập trung vào ngành bán lẻ chủ yếu là mua bán nhỏ và phục vụ nhu cầu của cư dân biên giới. Các siêu thị, trung tâm thương mại tại các cửa hàng miễn thuế của các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam hiện nay hoạt động không hiệu quả. Đến năm 2019 mới khánh thành được 01 chợ biên giới kiểu mẫu do Chính phủ Việt Nam đầu tư tại Campuchia.

Dịch vụ phân phối của Việt Nam ở Lào, Campuchia, Myanmar khá đơn điệu, chủ yếu dựa vào mạng lưới chợ; mức độ bao phủ của hệ thống phân phối hàng Việt Nam vẫn thấp hơn so với hàng Thái Lan, Trung Quốc; các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú trọng nhiều vào đầu tư phát triển hệ thống phân phối theo phương thức hiện diện thương mại trên thị trường nước bạn…

(ii) Nguyên nhân

- Mặc dù năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đã được cải thiện nhanh trong giai đoạn 2016 - 2020, nhưng vẫn còn ở mức thấp trên thế giới, năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn thấp hơn so với các nước. Đây là một trong những nguyên nhân chi phối hầu hết những hạn chế trong phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước EU.

- Chính sách định hướng cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đang trong quá trình hoàn thiện và còn thiếu cụ thể cho từng loại hình, từng nhóm hàng xuất khẩu cần ưu tiên mà Việt Nam có lợi thế sản xuất. Đồng thời, Quyết định số 1513/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03/9/2015 phê duyệt Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài giai đoạn đến năm 2020 cũng chưa đề cập đến định hướng phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài. Việc chậm trễ trong xây dựng và thực thi định hướng đó đã góp phần hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc phát triển hệ thống phân phối sang các nước.

- Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa. Nhu cầu và khả năng phát triển hệ thống phân phối của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước còn thấp. Những thương hiệu của các doanh nghiệp và hàng hóa có tên tuổi trên thị trường nước ngoài chưa nhiều.

Sự vượt trội của nhiều quốc gia so với Việt Nam về năng lực cạnh tranh quốc gia, về trình độ phát triển của các doanh nghiệp, về sức cạnh tranh của hàng hóa,… cùng với sự tương đồng về những yếu tố thuận lợi sẽ tạo sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước.

- Ở trong nước, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa hoàn thiện, thủ tục hành chính về đầu tư ra nước ngoài còn nhiều bất cập, Nhà nước chưa có nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài... Đó là những khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và phát triển hệ thống phân phối hàng hóa sang các nước nói riêng.

- Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực tài chính, công nghệ và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp Việt Nam thường kinh doanh đơn lẻ, thiếu sự liên kết, hợp tác, chia sẻ thông tin với nhau, thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh. Đó là những khó khăn nội tại của bản thân các doanh nghiệp trong việc phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam sang nước ngoài.

- Tiêu chuẩn của nhà phân phối rất chặt chẽ và cao. Hầu hết các hệ thống phân phối lớn như Walmart, Central Group, Aeon đều có tiêu chí lấy khách hàng làm trọng tâm. Do vậy, dựa vào phản ứng của người tiêu dùng, các nhà phân phối đặt ra những tiêu chuẩn tuyển chọn hàng hóa khá khắt khe. Bên cạnh đó, đa số các nhà bán lẻ có tiêu chí về giá dẫn đến giá đặt hàng quá rẻ lại đòi hỏi tiêu chuẩn rất khắt khe, dẫn đến nhà sản xuất Việt Nam thu được lợi nhuận rất thấp, đặc biệt là Walmart. Đưa được hàng hóa của Việt Nam vào siêu thị của các tập đoàn phân phối lớn tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các thị trường có tiêu chuẩn cao như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc thực sự là một cuộc cạnh tranh khắc nghiệt giữa các doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp các quốc gia khác, nhất là từ Trung Quốc do năng lực cạnh tranh và sự tương đồng của hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc. Bên cạnh đó, các kênh phân phối hiện đại ở những thị trường tiêu chuẩn cao thường đòi hỏi những nhà cung cấp cho họ phải đạt được các tiêu chuẩn để họ có thể phục vụ cho hệ thống siêu thị và người tiêu dùng.

- Chất lượng, chủng loại hàng hóa của Việt Nam chưa đủ/chưa phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của thị trường nhập khẩu, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe của nhà phân phối và thị trường nhập khẩu, cũng như không đủ số lượng để đáp ứng những đơn hàng lớn từ nhà phân phối.

- Nhận thức và quan điểm của nhà sản xuất và doanh nghiệp Việt Nam đối với việc xuất khẩu hàng hóa của mình theo hình thức này còn thấp, dẫn đến chưa biết/hoặc chưa muốn tham gia xuất khẩu theo hình thức này.

Bên cạnh đó, cũng tồn tại tình trạng, doanh nghiệp hiểu và mong muốn đưa hàng Việt Nam ra các nước thông qua hệ thống phân phối hiện đại của nước ngoài là một trong những giải pháp để tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa nông sản, thực phẩm của doanh nghiệp nhưng vẫn chưa thể tham gia vào hình thức này. Nguyên nhân là do năng lực sản xuất của doanh nghiệp quá thấp hoặc sản phẩm sản xuất còn chưa phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường.

Chính sách định hướng cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện và còn thiếu cụ thể cho từng loại hình, từng nhóm hàng xuất khẩu cần ưu tiên mà Việt Nam có lợi thế sản xuất. Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa hoàn thiện, thủ tục hành chính về đầu tư ra nước ngoài còn nhiều bất cập, Nhà nước chưa có nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.

Những khác biệt về văn hóa, pháp luật, môi trường giữa Việt Nam và các quốc gia tiếp nhận đầu tư này đã dẫn đến các tranh chấp ngoài mong muốn, ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án, quyền và lợi ích của người dân địa phương cũng như hình ảnh của nhà đầu tư Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp khi đầu tư cửa hàng bán và phân phối sản phẩm của Việt Nam ở nước ngoài nên cân nhắc về sự phù hợp với văn hóa và thói quen người tiêu dùng bản địa.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn tới

2.1. Về đầu tư ra nước ngoài để phát triển hạ tầng phân phối hàng hóa

Một là, những khác biệt về văn hóa, pháp luật, môi trường giữa Việt Nam và các quốc gia tiếp nhận đầu tư này đã dẫn đến các tranh chấp ngoài mong muốn, ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án, quyền và lợi ích của người dân địa phương cũng như hình ảnh của nhà đầu tư Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài thường mang theo tư duy, cách nghĩ của người Việt Nam. Chẳng hạn như: Về đất đai, nếu doanh nghiệp đầu tư ở Việt Nam sẽ được Nhà nước hỗ trợ thu hồi đất, nhưng sang đầu tư ở Campuchia, chế độ sở hữu đất đai sẽ khác, dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài gặp không ít khó khăn.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp khi đầu tư cửa hàng bán và phân phối sản phẩm của Việt Nam ở nước ngoài nên cân nhắc nhất là sự phù hợp với văn hóa và thói quen người tiêu dùng bản địa.

Hai là, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu. Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân chủ quan dẫn đến kết quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam chưa đạt như kỳ vọng là do khả năng dự báo thị trường, năng lực quản lý, năng lực tài chính vẫn còn nhiều hạn chế.

Ba là, nhiều doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài kinh doanh nhưng hoạt động còn mang tính tự phát, do đó rất dễ xảy ra tranh chấp. Trong khi, về mặt quản lý nhà nước, hiện chưa có cơ quan đủ thẩm quyền, điều kiện và năng lực triển khai quản lý, theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động tại nước ngoài.

Bốn là, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chưa cao.

2.2. Về xuất khẩu hàng hóa qua hệ thống phân phối của nhà bán lẻ nước ngoài

Để hàng Việt Nam đứng vững trên thị trường, đủ sức cạnh tranh thì các nhà mua hàng cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó chuẩn hóa từ khâu sản xuất, phân phối, tiêu thụ và trọng tâm là nâng cao chất lượng sản phẩm.

Tại các cuộc đối thoại, kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với các nhà phân phối nước ngoài, đại diện các nhà bán lẻ nước ngoài khẳng định, Việt Nam có nhiều sản phẩm tiêu dùng được người nước ngoài ưa thích. Tuy nhiên, tại các thị trường “khó tính” như Nhật, EU, Mỹ… có yêu cầu rất khắt khe với các quy định về hàng rào kỹ thuật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất cấm... Do đó, việc sản xuất theo hướng an toàn là yêu cầu bắt buộc với các doanh nghiệp.

2.3. Những chính sách, giải pháp của Nhà nước trong việc tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu hàng hóa qua hệ thống phân phối hiện đại có hiệu quả thực thi chưa cao.

Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin, thiếu kết nối với nhà phân phối, nhận thức doanh nghiệp Việt Nam đối với việc xuất khẩu hàng hóa của mình theo hình thức này còn thấp, dẫn đến chưa nhiệt tình, chủ động tìm hiểu và tham gia xuất khẩu theo hình thức này. Bên cạnh đó, những hỗ trợ từ phía Nhà nước có thể chưa đủ hấp dẫn doanh nghiệp và nhà sản xuất Việt Nam lựa chọn hình thức xuất khẩu này.

2.4. Vốn là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia xuất khẩu hàng qua các chuỗi siêu thị nước ngoài phải đối mặt

Hầu hết doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ với số vốn thấp. Trong khi đó, nếu xuất khẩu trực tiếp vào hệ thống siêu thị nước ngoài thì việc thanh toán tiền lại chậm, thông thường từ 01 đến hơn 03 tháng. Điều này gây khó cho doanh nghiệp trong việc đảm bảo nguồn vốn quay vòng. Bên cạnh đó, chưa tính đến các chi phí chiết khấu, quảng cáo xúc tiến giới thiệu sản phẩm....

Nhu cầu và khả năng phát triển hệ thống phân phối của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước còn thấp. Những thương hiệu của các doanh nghiệp và hàng hóa có tên tuổi trên thị trường nước ngoài chưa nhiều. Trong khi, tiêu chuẩn của nhà phân phối rất cao và chặt chẽ. Chất lượng, chủng loại hàng hóa của Việt Nam chưa đủ/chưa phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của thị trường nhập khẩu, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe của nhà phân phối và thị trường nhập khẩu, cũng như không đủ số lượng để đáp ứng những đơn hàng lớn từ nhà phân phối. Vốn cũng là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia xuất khẩu hàng qua các chuỗi siêu thị nước ngoài phải đối mặt.

Ngoài ra, nhận thức và quan điểm của nhà sản xuất và doanh nghiệp Việt Nam đối với việc xuất khẩu hàng hóa của mình theo hình thức này còn thấp, dẫn đến chưa biết/hoặc chưa muốn tham gia xuất khẩu theo hình thức này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Bộ Công Thương (2010), Điều tra về mạng lưới phân phối hàng hóa thuộc “Chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước năm 2009”, Hà Nội.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), Đề án nghiên cứu “Chiến lược phát triển tổng thể khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020”.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT ngày 17/10/2018 hướng dẫn và ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài.

4. Nguyễn Thanh Bình (2012), Luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”.

5. Chính phủ (2015), Quyết định số 1513/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối ở nước ngoài giai đoạn đến năm 2020.

6. Chính phủ (2019), Quyết định số 1797/QĐ-TTg ngày 12/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài.

7. Chính phủ (2015), Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25/9/2015 của Chính phủ hướng dẫn về đầu tư ra nước ngoài.

8. Phạm Huy Giang (2011), Phát triển hệ thống phân phối hiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sĩ, Đại học Thương mại.

9. Lê Thị Thu Hương (2019), Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU, Đề tài cấp Bộ.

10. Phạm Hồng Tú (2016), Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển hệ thống phân phối của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước thuộc Tiểu vùng sông Mekong, Viện Nghiên cứu Thương mại.

11. Đinh Văn Thành (2006), Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta, Đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên cứu thương mại.

12. Đinh Văn Thành (2012), Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua công ty xuyên quốc gia (TNC) - Bài học cho Việt Nam, Đề tài cấp Bộ.

13. Lê Ngọc Trung (2018), “Giải pháp phát triển hệ thống phân phối hàng nông sản vùng Đông Nam Bộ hiện nay”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương.

14. Tổng cục Thống kê (2019), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng đầu năm 2019.

15. Viện Nghiên cứu Thương mại (2002), “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, Đề tài khoa học cấp Bộ.

16. Viện Nghiên cứu Thương mại (2006), “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối cho một số mặt hàng chủ yếu của nước ta”, Đề tài khoa học cấp Bộ.

ThS. Lê Thị Thu Hương

Tổng Cục Quản lý thị trường - Bộ Công Thương


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành