Những khuyến nghị nhằm phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Tóm tắt: Sau gần 30 năm hoạt động, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen.
aa


Cần tăng cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tinh gọn bộ máy quản lý, nhân sự để nâng cao hiệu quả hoạt động của QTDND


Tóm tắt: Sau gần 30 năm hoạt động, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công này, luôn tồn tại những rủi ro đe dọa sự an toàn của hệ thống như rủi ro nợ xấu, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý. Đánh giá thực trạng các loại rủi ro này để có những cảnh báo sớm và giải pháp thích hợp là cần thiết, nhằm phát triển hệ thống QTDND an toàn, bền vững và hiệu quả.

Từ khóa: QTDND, nợ xấu, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý.

RECOMMENDATIONS FOR THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT

OF THE PEOPLE'S CREDIT FUND SYSTEM

Abstract: After nearly 30 years of operation, People's Credit Fund (PCF) system is considered a major channel of capital to farmers in rural areas and poor people in urban areas. PCF have made important contributions to poverty alleviation and decrease black credit. However, besides these successes, there are always risks that threaten the safety of the system such as bad debt risk, operational risk, legal risk. Assessing the status of these types of risks for early warnings and appropriate solutions is necessary, in order to develop a safe, sustainable and effective PCF system.

Keywords: PCF, bad debt, operational risk, legal risk.

1. Giới thiệu

Quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) là một trong những vấn đề được các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm hàng đầu. Rủi ro là nhân tố chính ảnh hưởng đến giá trị của TCTD và hiệu quả hoạt động của các TCTD. Mặc dù các QTDND đang hoạt động trong thị trường ngân hàng bán lẻ giống như các ngân hàng thông thường, nhưng các QTDND có sự khác biệt trong cấu trúc và hoạt động. Các thủ tục nội bộ về quản lý rủi ro trong các QTDND cũng không được chặt chẽ như ở các ngân hàng thương mại (NHTM). Bởi vì, các thành viên của QTDND đồng thời là chủ sở hữu của QTDND nên không tồn tại những phát sinh từ mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý. Chính vì vậy, ban lãnh đạo QTDND không quá chú trọng xây dựng các quy trình quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của QTDND. Trong một số trường hợp, việc quản lý rủi ro không đầy đủ có thể dẫn đến sự phá sản của các QTDND riêng lẻ hoặc gây ảnh hưởng toàn bộ hệ thống QTDND, có thể sẽ có ảnh hưởng dây chuyền đến hệ thống các TCTD. Với tầm quan trọng của vấn đề, bài viết sẽ đánh giá thực trạng rủi ro của hệ thống QTDND, đề xuất các khuyến nghị để phát triển an toàn hệ thống QTDND.

2. Thực trạng rủi ro của hệ thống QTDND

Rủi ro từ nợ xấu

Nợ xấu và nợ quá hạn quá lớn luôn là yếu tố chính đứng sau sự thất bại của các QTDND. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống QTDND trong giai đoạn 2011 - 2017 tuy không cao nhưng có xu hướng tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước. Trong đó, nợ nhóm 5 (nợ ở mức độ cao và nghiêm trọng nhất) chiếm tỷ trọng cao (trung bình là 60,4%) và có xu hướng tăng qua các năm. Thực trạng này cho thấy, hoạt động cho vay của một số QTDND bộc lộ nhiều bất cập, tiềm ẩn rủi ro. Quản trị rủi ro tín dụng của nhiều QTDND còn yếu, quy trình thẩm định xét duyệt cho vay còn lỏng lẻo. Để hạn chế sự ảnh hưởng của nợ xấu đến nền kinh tế, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD. Sau 3 năm tích cực xử lý nợ xấu, đến năm 2020, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống QTDND đã giảm dưới mức 1%. Cụ thể, hệ thống QTDND tại tỉnh Nam Định từ năm 2017 đến năm 2020 đã xử lý 2.590,98 tỷ đồng nợ xấu, bằng các biện pháp thu hồi nợ từ khách hàng, phát mại tài sản thế chấp… Đến cuối năm 2020, tỷ lệ nợ xấu hệ thống QTDND Nam Định giảm còn 9,297 tỷ đồng, giảm 99,64%. Tại tỉnh Hòa Bình, đến hết năm 2020, hệ thống QTDND tỉnh Hòa Bình có nợ xấu 10,97 tỷ đồng, chiếm 2,59% tổng dư nợ; hệ thống QTDND tỉnh Phú Thọ tỷ lệ nợ xấu của cả hệ thống chỉ chiếm 0,48% tổng dư nợ cho vay; hệ thống QTDND tỉnh Sóc Trăng có tỷ lệ nợ xấu dưới 1,65%; tỷ lệ nợ xấu của hệ thống QTDND tỉnh Hưng Yên khoảng 1,3%; hệ thống QTDND tỉnh Khánh Hòa có tỷ lệ nợ xấu 0,27%... Tuy nhiên, với tình hình dịch Covid-19 kéo dài trong cả năm 2021, mà đối tượng bị ảnh hưởng mạnh là các hộ buôn bán nhỏ, thuộc các lĩnh vực ngành nông nghiệp và thủy sản, xây dựng, kinh doanh, dịch vụ… đây cũng là thành viên vay vốn QTDND. Thực tế này dự báo một tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh ở hệ thống QTDND trong năm 2021. Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có văn bản yêu cầu các TCTD xây dựng các kịch bản ứng phó trong trường hợp dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng hoạt động của các TCTD, đồng thời, có những dự báo về xu hướng nợ xấu gia tăng trong thời gian tới. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn cuối năm 2021 ở mức 7,1 - 7,7%, xấp xỉ 8%. Với dự báo có cơ sở thực tiễn, xu hướng nợ xấu sẽ gia tăng ở hệ thống QTDND trong năm 2022. Tỷ lệ nợ xấu cao sẽ chứa đựng nhiều mối đe dọa cho sự an toàn của hệ thống QTDND nói riêng và các TCTD nói chung.

Rủi ro từ hoạt động

Từ năm 2018 đến năm 2021, số lượng QTDND rơi vào trạng thái kiểm soát đặc biệt có dấu hiệu tăng lên mỗi năm (Bảng 1). Hầu hết các QTDND bị kiểm soát đặc biệt là do yếu kém trong công tác quản trị đã dẫn đến các quyết định cho vay thiếu chính xác, nợ xấu gia tăng, hoạt động kinh doanh thua lỗ. Các QTDND rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt đều có liên quan đến sai phạm của lãnh đạo và cán bộ như sai phạm của QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Thanh Hóa, Hưng Yên, Hậu Giang... Lãnh đạo QTDND lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô, lừa đảo chiếm đoạt tài sản người khác hoặc lãnh đạo QTDND thiếu trách nhiệm, năng lực quản lý điều hành yếu kém dẫn đến bị lợi dụng làm thất thoát tài sản của quỹ. Bộ máy quản trị, điều hành, kiểm soát, kiểm toán nội bộ tại QTDND còn yếu; năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý QTDND còn hạn chế. Hoạt động của Ban Kiểm soát tại nhiều QTDND chưa đảm bảo tính độc lập trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Tại một số QTDND, Ban Kiểm soát đã bị vô hiệu hóa và chỉ mang tính hình thức. Những vấn đề về quản lý này đã đưa một số QTDND rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.


Nguồn: Tổng hợp từ NHNN

Với đặc điểm QTDND được sở hữu và quản lý bởi các thành viên, do đó, khi các QTDND rơi vào trạng thái kiểm soát đặc biệt, khiến các thành viên của QTDND mất đi nguồn tài trợ tín dụng là nguồn vốn chính tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này gia tăng khó khăn và nghèo đói cho các thành viên, gây cản trở mục tiêu phát triển kinh tế ở các vùng nghèo.

Rủi ro pháp lý

Môi trường pháp lý chưa đầy đủ cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các QTDND. Chẳng hạn, trong công tác cho vay, sự bất cập và chồng chéo của các quy định pháp luật sẽ khiến các cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm; các quy định về kế toán, kiểm toán chưa có chế tài mạnh mẽ sẽ khiến số liệu báo cáo có mức độ chính xác không cao, phản ánh không đúng kết quả hoạt động của quỹ. Những nội dung luật quy định còn chung chung sẽ khiến các đối tượng chịu tác động chi phối của pháp luật rất khó thực hiện. Chẳng hạn, Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ đối với các QTDND chưa cụ thể nên QTDND rất lúng túng khi triển khai thực hiện. Hoặc sự bất cập trong quy định như Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định thành viên Ban Kiểm soát nội bộ do Hội đồng Quản trị bổ nhiệm, Ban Kiểm soát nội bộ chỉ có quyền đề nghị. Trong khi đó, Hội đồng Quản trị cũng là đối tượng thuộc phạm vi giám sát của kiểm soát nội bộ. Hoặc Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 của Thống đốc NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về ngân hàng hợp tác xã, QTDND và Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống QTDND của NHNN vẫn còn bất cập về việc quy định công nhận tư cách thành viên. Theo quy định, QTDND hoạt động chịu sự chi phối bởi hai luật, Luật Hợp tác xã và Luật Các TCTD, để được vay vốn và gửi tiền tại QTDND thì khách hàng phải là thành viên của QTDND. Ngoài ra, để xác lập tư cách thành viên thì phải được đại hội thành viên thông qua ở mỗi kỳ thường niên sau khi kết thúc năm tài chính tối đa là 90 ngày theo quy định (ngoại trừ QTDND có lý do phải triệu tập đại hội bất thường). Như vậy, tại thời điểm cần vốn nhưng chưa được xác lập tư cách thành viên thì khách hàng không thể được vay vốn mà phải đợi đại hội thông qua, ít nhất là phải đợi 09 tháng… Những bất cập trong quy định pháp lý sẽ tạo ra rủi ro pháp lý cho QTDND, nó có thể làm gia tăng nợ xấu và giảm hiệu quả hoạt động của QTDND.


Hệ thống QTDND được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạntín dụng đen.

3. Một số khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro của hệ thống QTDND

Phát triển an toàn, hiệu quả hệ thống QTDND là một trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước, điều này cũng được thể hiện trong “Đề án Củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, ban hành kèm theo Quyết định số 209/QĐ-NHNN ngày 31/01/2019 của Thống đốc NHNN. Theo định hướng của Đề án và từ thực trạng phân tích ở trên, để hệ thống QTDND phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, tác giả đề xuất những khuyến nghị sau:

Cần kiểm soát nợ xấu

Nợ xấu cao là yếu tố đẩy các QTDND nhanh chóng đi đến sự đổ vỡ. Do đó, để kiểm soát nợ xấu, yêu cầu các QTDND cần tuân thủ đúng các quy định về an toàn trong hoạt động, các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy chế nội bộ về hoạt động cho vay, quản lý tiền vay, đảm bảo việc sử dụng tiền vay đúng mục đích; tăng cường thiết chế kiểm soát hoạt động tín dụng theo nguyên tắc phân định và bảo đảm tính độc lập giữa bộ phận thẩm định và bộ phận xét duyệt cho vay; tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, chủ động quản lý và kiểm soát nợ xấu; tăng cường quản lý rủi ro để giảm chi phí dự phòng rủi ro. Trước mắt, để đối phó với tỷ lệ nợ xấu gia tăng do đại dịch Covid-19, các QTDND cần trung thực báo cáo và thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của NHNN.

Nâng cao năng lực quản lý QTDND

Năng lực và trình độ quản lý của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc QTDND là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của tổ chức. Hiện nay, về cơ bản thì đội ngũ cán bộ chủ chốt của QTDND đã được đào tạo qua các lớp nghiệp vụ chuyên môn về QTDND ngắn ngày và trình độ tối thiểu là trung cấp trở lên. Hầu hết đội ngũ lãnh đạo đều đáp ứng các tiêu chuẩn trình độ theo quy định. Tuy nhiên, năng lực quản trị điều hành của Hội đồng Quản trị còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa theo kịp với xu thế. Một trong những lý do đó là một số thành viên lớn tuổi vẫn còn tham gia công tác, đặc biệt lại là nhân sự chủ chốt ở các QTDND. Điều này khiến khả năng tiếp cận ngoại ngữ, tin học, công nghệ tài chính hiện đại bị hạn chế, khiến QTDND hoạt động chưa phù hợp với sự phát triển của thị trường hiện tại. Do đó, trong Đề án Củng cố và phát triển QTDND nêu rõ “cần tăng cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tinh gọn bộ máy quản lý, nhân sự để nâng cao hiệu quả hoạt động của QTDND, rà soát đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn của Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc QTDND phù hợp với quy mô hoạt động của các QTDND; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm đáp ứng yêu cầu quản trị, quản lý tài chính, hạch toán, kế toán của QTDND”. Nếu nội dung này được thực hiện tốt, sẽ góp phần mạnh mẽ trong việc phát triển hiệu quả hệ thống QTDND.

Cần tách riêng một hệ thống pháp luật cho QTDND

Mặc dù, hệ thống QTDND thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng loại hình QTDND vẫn là những tổ chức dễ bị tổn thương khi thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội, đó là phục vụ những đối tượng yếu thế có hoàn cảnh khó khăn đa số ở vùng nông nghiệp, nông thôn, song, so với các TCTD khác, QTDND có quy mô tài sản nhỏ, năng lực tài chính yếu hơn. Thời gian qua, đã có nhiều thay đổi về mô hình và công tác quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND, chủ trương của Đảng và Nhà nước là kiên trì phát triển loại hình kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, cho nên phải không ngừng hoàn thiện các nội dung quy định trong công tác quản lý Nhà nước đối với riêng hệ thống QTDND. Hiện nay, một số nội dung quy định trong quản lý của hệ thống pháp luật đối với QTDND chưa hoàn toàn phù hợp như thực trạng đã nêu. Kinh nghiệm các nước có tồn tại hệ thống QTDND (Hệ thống Liên hiệp Tín dụng - Credit Unions), đều có ban hành một hệ thống luật riêng biệt cho loại hình, đó là Luật Các liên hiệp Tín dụng (Credit Union Law). Với quy mô tổng tài sản, quy mô số lượng và các đặc thù riêng của QTDND Việt Nam, việc tách riêng một hệ thống luật cho hệ thống QTDND là cần thiết, như vậy, sẽ thuận lợi trong việc điều hành, giám sát hoạt động hệ thống QTDND, giảm thiểu rủi ro pháp lý cho QTDND.

Tăng cường giám sát hoạt động của QTDND

Cơ quan thanh tra, giám sát các TCTD cần tăng cường hơn nữa thanh tra, giám sát, phân tích và đánh giá chất lượng tài sản của các QTDND, các yếu tố liên quan đến tính thanh khoản, khả năng thanh toán, các khoản dự trữ... các chỉ số này có thể đưa ra cảnh báo sớm về tình trạng khó khăn của QTDND. Từ đó, phối hợp với QTDND đưa ra các giải pháp chấn chỉnh kịp thời, trước khi QTDND thật sự rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc phá sản. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, nếu quốc gia xây dựng đầy đủ hệ thống cảnh báo sớm để xác định các vấn đề tiêu cực sẽ phát sinh; xây dựng hệ thống can thiệp sớm để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và linh hoạt, thì hệ thống QTDND sẽ hoạt động an toàn, ổn định và hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo Ngân hàng Hợp tác xã về tình hình hoạt động QTDND.

2. Đề án Củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 209/QĐ-NHNN ngày 31/01/2019 của Thống đốc NHNN.

3. Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

4. Thông tư số 42/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN về quy định xếp hạng QTDND.

5. Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về Ngân hàng Hợp tác xã, QTDND và Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.

6. https://viettimes.vn/pho-thong-doc-nhnn-ty-le-no-xau-toan-he-thong-co-the-dat-gan-8-vao-cuoi-nam-2021-post150848.html, truy cập ngày 5/12/2021.

7. http://baonamdinh.com.vn/channel/5085/202009/hieu-qua-buoc-dau-thi-diem-xu-ly-no-xau-cua-cac-quy-tin-dung-nhan-dan-2539862/, truy cập ngày 6/12/2021.

8. http://www.baohoabinh.com.vn/12/151530/Hieu-qua-hoat-dong-cua-he-thong-quy-tin-dung-nhan-dan.htm, truy cập ngày 6/12/2021.


TS. Lê Hà Diễm Chi, Trịnh Thị Thu Dung

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế biển xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tài chính biển xanh, khơi thông dòng vốn cho các ngành kinh tế biển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Hoạt động ngân hàng tại các Trung tâm tài chính quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Bài viết tổng quan hoạt động ngân hàng tại các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), nhấn mạnh bốn khía cạnh: Mô hình tổ chức, khung pháp lý Basel III, tác động kinh tế và đổi mới công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp lý, thu hút đầu tư tài chính nước ngoài, tăng quản lý rủi ro và phát triển hệ sinh thái công nghệ tài chính (Fintech) cho Việt Nam.
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy