Những khuyến nghị nhằm phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Tóm tắt: Sau gần 30 năm hoạt động, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen.
aa


Cần tăng cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tinh gọn bộ máy quản lý, nhân sự để nâng cao hiệu quả hoạt động của QTDND


Tóm tắt: Sau gần 30 năm hoạt động, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công này, luôn tồn tại những rủi ro đe dọa sự an toàn của hệ thống như rủi ro nợ xấu, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý. Đánh giá thực trạng các loại rủi ro này để có những cảnh báo sớm và giải pháp thích hợp là cần thiết, nhằm phát triển hệ thống QTDND an toàn, bền vững và hiệu quả.

Từ khóa: QTDND, nợ xấu, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý.

RECOMMENDATIONS FOR THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT

OF THE PEOPLE'S CREDIT FUND SYSTEM

Abstract: After nearly 30 years of operation, People's Credit Fund (PCF) system is considered a major channel of capital to farmers in rural areas and poor people in urban areas. PCF have made important contributions to poverty alleviation and decrease black credit. However, besides these successes, there are always risks that threaten the safety of the system such as bad debt risk, operational risk, legal risk. Assessing the status of these types of risks for early warnings and appropriate solutions is necessary, in order to develop a safe, sustainable and effective PCF system.

Keywords: PCF, bad debt, operational risk, legal risk.

1. Giới thiệu

Quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) là một trong những vấn đề được các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm hàng đầu. Rủi ro là nhân tố chính ảnh hưởng đến giá trị của TCTD và hiệu quả hoạt động của các TCTD. Mặc dù các QTDND đang hoạt động trong thị trường ngân hàng bán lẻ giống như các ngân hàng thông thường, nhưng các QTDND có sự khác biệt trong cấu trúc và hoạt động. Các thủ tục nội bộ về quản lý rủi ro trong các QTDND cũng không được chặt chẽ như ở các ngân hàng thương mại (NHTM). Bởi vì, các thành viên của QTDND đồng thời là chủ sở hữu của QTDND nên không tồn tại những phát sinh từ mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý. Chính vì vậy, ban lãnh đạo QTDND không quá chú trọng xây dựng các quy trình quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của QTDND. Trong một số trường hợp, việc quản lý rủi ro không đầy đủ có thể dẫn đến sự phá sản của các QTDND riêng lẻ hoặc gây ảnh hưởng toàn bộ hệ thống QTDND, có thể sẽ có ảnh hưởng dây chuyền đến hệ thống các TCTD. Với tầm quan trọng của vấn đề, bài viết sẽ đánh giá thực trạng rủi ro của hệ thống QTDND, đề xuất các khuyến nghị để phát triển an toàn hệ thống QTDND.

2. Thực trạng rủi ro của hệ thống QTDND

Rủi ro từ nợ xấu

Nợ xấu và nợ quá hạn quá lớn luôn là yếu tố chính đứng sau sự thất bại của các QTDND. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống QTDND trong giai đoạn 2011 - 2017 tuy không cao nhưng có xu hướng tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước. Trong đó, nợ nhóm 5 (nợ ở mức độ cao và nghiêm trọng nhất) chiếm tỷ trọng cao (trung bình là 60,4%) và có xu hướng tăng qua các năm. Thực trạng này cho thấy, hoạt động cho vay của một số QTDND bộc lộ nhiều bất cập, tiềm ẩn rủi ro. Quản trị rủi ro tín dụng của nhiều QTDND còn yếu, quy trình thẩm định xét duyệt cho vay còn lỏng lẻo. Để hạn chế sự ảnh hưởng của nợ xấu đến nền kinh tế, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD. Sau 3 năm tích cực xử lý nợ xấu, đến năm 2020, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống QTDND đã giảm dưới mức 1%. Cụ thể, hệ thống QTDND tại tỉnh Nam Định từ năm 2017 đến năm 2020 đã xử lý 2.590,98 tỷ đồng nợ xấu, bằng các biện pháp thu hồi nợ từ khách hàng, phát mại tài sản thế chấp… Đến cuối năm 2020, tỷ lệ nợ xấu hệ thống QTDND Nam Định giảm còn 9,297 tỷ đồng, giảm 99,64%. Tại tỉnh Hòa Bình, đến hết năm 2020, hệ thống QTDND tỉnh Hòa Bình có nợ xấu 10,97 tỷ đồng, chiếm 2,59% tổng dư nợ; hệ thống QTDND tỉnh Phú Thọ tỷ lệ nợ xấu của cả hệ thống chỉ chiếm 0,48% tổng dư nợ cho vay; hệ thống QTDND tỉnh Sóc Trăng có tỷ lệ nợ xấu dưới 1,65%; tỷ lệ nợ xấu của hệ thống QTDND tỉnh Hưng Yên khoảng 1,3%; hệ thống QTDND tỉnh Khánh Hòa có tỷ lệ nợ xấu 0,27%... Tuy nhiên, với tình hình dịch Covid-19 kéo dài trong cả năm 2021, mà đối tượng bị ảnh hưởng mạnh là các hộ buôn bán nhỏ, thuộc các lĩnh vực ngành nông nghiệp và thủy sản, xây dựng, kinh doanh, dịch vụ… đây cũng là thành viên vay vốn QTDND. Thực tế này dự báo một tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh ở hệ thống QTDND trong năm 2021. Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có văn bản yêu cầu các TCTD xây dựng các kịch bản ứng phó trong trường hợp dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng hoạt động của các TCTD, đồng thời, có những dự báo về xu hướng nợ xấu gia tăng trong thời gian tới. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn cuối năm 2021 ở mức 7,1 - 7,7%, xấp xỉ 8%. Với dự báo có cơ sở thực tiễn, xu hướng nợ xấu sẽ gia tăng ở hệ thống QTDND trong năm 2022. Tỷ lệ nợ xấu cao sẽ chứa đựng nhiều mối đe dọa cho sự an toàn của hệ thống QTDND nói riêng và các TCTD nói chung.

Rủi ro từ hoạt động

Từ năm 2018 đến năm 2021, số lượng QTDND rơi vào trạng thái kiểm soát đặc biệt có dấu hiệu tăng lên mỗi năm (Bảng 1). Hầu hết các QTDND bị kiểm soát đặc biệt là do yếu kém trong công tác quản trị đã dẫn đến các quyết định cho vay thiếu chính xác, nợ xấu gia tăng, hoạt động kinh doanh thua lỗ. Các QTDND rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt đều có liên quan đến sai phạm của lãnh đạo và cán bộ như sai phạm của QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Thanh Hóa, Hưng Yên, Hậu Giang... Lãnh đạo QTDND lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô, lừa đảo chiếm đoạt tài sản người khác hoặc lãnh đạo QTDND thiếu trách nhiệm, năng lực quản lý điều hành yếu kém dẫn đến bị lợi dụng làm thất thoát tài sản của quỹ. Bộ máy quản trị, điều hành, kiểm soát, kiểm toán nội bộ tại QTDND còn yếu; năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý QTDND còn hạn chế. Hoạt động của Ban Kiểm soát tại nhiều QTDND chưa đảm bảo tính độc lập trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Tại một số QTDND, Ban Kiểm soát đã bị vô hiệu hóa và chỉ mang tính hình thức. Những vấn đề về quản lý này đã đưa một số QTDND rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.


Nguồn: Tổng hợp từ NHNN

Với đặc điểm QTDND được sở hữu và quản lý bởi các thành viên, do đó, khi các QTDND rơi vào trạng thái kiểm soát đặc biệt, khiến các thành viên của QTDND mất đi nguồn tài trợ tín dụng là nguồn vốn chính tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này gia tăng khó khăn và nghèo đói cho các thành viên, gây cản trở mục tiêu phát triển kinh tế ở các vùng nghèo.

Rủi ro pháp lý

Môi trường pháp lý chưa đầy đủ cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các QTDND. Chẳng hạn, trong công tác cho vay, sự bất cập và chồng chéo của các quy định pháp luật sẽ khiến các cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm; các quy định về kế toán, kiểm toán chưa có chế tài mạnh mẽ sẽ khiến số liệu báo cáo có mức độ chính xác không cao, phản ánh không đúng kết quả hoạt động của quỹ. Những nội dung luật quy định còn chung chung sẽ khiến các đối tượng chịu tác động chi phối của pháp luật rất khó thực hiện. Chẳng hạn, Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ đối với các QTDND chưa cụ thể nên QTDND rất lúng túng khi triển khai thực hiện. Hoặc sự bất cập trong quy định như Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định thành viên Ban Kiểm soát nội bộ do Hội đồng Quản trị bổ nhiệm, Ban Kiểm soát nội bộ chỉ có quyền đề nghị. Trong khi đó, Hội đồng Quản trị cũng là đối tượng thuộc phạm vi giám sát của kiểm soát nội bộ. Hoặc Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 của Thống đốc NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về ngân hàng hợp tác xã, QTDND và Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống QTDND của NHNN vẫn còn bất cập về việc quy định công nhận tư cách thành viên. Theo quy định, QTDND hoạt động chịu sự chi phối bởi hai luật, Luật Hợp tác xã và Luật Các TCTD, để được vay vốn và gửi tiền tại QTDND thì khách hàng phải là thành viên của QTDND. Ngoài ra, để xác lập tư cách thành viên thì phải được đại hội thành viên thông qua ở mỗi kỳ thường niên sau khi kết thúc năm tài chính tối đa là 90 ngày theo quy định (ngoại trừ QTDND có lý do phải triệu tập đại hội bất thường). Như vậy, tại thời điểm cần vốn nhưng chưa được xác lập tư cách thành viên thì khách hàng không thể được vay vốn mà phải đợi đại hội thông qua, ít nhất là phải đợi 09 tháng… Những bất cập trong quy định pháp lý sẽ tạo ra rủi ro pháp lý cho QTDND, nó có thể làm gia tăng nợ xấu và giảm hiệu quả hoạt động của QTDND.


Hệ thống QTDND được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạntín dụng đen.

3. Một số khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro của hệ thống QTDND

Phát triển an toàn, hiệu quả hệ thống QTDND là một trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước, điều này cũng được thể hiện trong “Đề án Củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, ban hành kèm theo Quyết định số 209/QĐ-NHNN ngày 31/01/2019 của Thống đốc NHNN. Theo định hướng của Đề án và từ thực trạng phân tích ở trên, để hệ thống QTDND phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, tác giả đề xuất những khuyến nghị sau:

Cần kiểm soát nợ xấu

Nợ xấu cao là yếu tố đẩy các QTDND nhanh chóng đi đến sự đổ vỡ. Do đó, để kiểm soát nợ xấu, yêu cầu các QTDND cần tuân thủ đúng các quy định về an toàn trong hoạt động, các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy chế nội bộ về hoạt động cho vay, quản lý tiền vay, đảm bảo việc sử dụng tiền vay đúng mục đích; tăng cường thiết chế kiểm soát hoạt động tín dụng theo nguyên tắc phân định và bảo đảm tính độc lập giữa bộ phận thẩm định và bộ phận xét duyệt cho vay; tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, chủ động quản lý và kiểm soát nợ xấu; tăng cường quản lý rủi ro để giảm chi phí dự phòng rủi ro. Trước mắt, để đối phó với tỷ lệ nợ xấu gia tăng do đại dịch Covid-19, các QTDND cần trung thực báo cáo và thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của NHNN.

Nâng cao năng lực quản lý QTDND

Năng lực và trình độ quản lý của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc QTDND là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của tổ chức. Hiện nay, về cơ bản thì đội ngũ cán bộ chủ chốt của QTDND đã được đào tạo qua các lớp nghiệp vụ chuyên môn về QTDND ngắn ngày và trình độ tối thiểu là trung cấp trở lên. Hầu hết đội ngũ lãnh đạo đều đáp ứng các tiêu chuẩn trình độ theo quy định. Tuy nhiên, năng lực quản trị điều hành của Hội đồng Quản trị còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa theo kịp với xu thế. Một trong những lý do đó là một số thành viên lớn tuổi vẫn còn tham gia công tác, đặc biệt lại là nhân sự chủ chốt ở các QTDND. Điều này khiến khả năng tiếp cận ngoại ngữ, tin học, công nghệ tài chính hiện đại bị hạn chế, khiến QTDND hoạt động chưa phù hợp với sự phát triển của thị trường hiện tại. Do đó, trong Đề án Củng cố và phát triển QTDND nêu rõ “cần tăng cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tinh gọn bộ máy quản lý, nhân sự để nâng cao hiệu quả hoạt động của QTDND, rà soát đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn của Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc QTDND phù hợp với quy mô hoạt động của các QTDND; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm đáp ứng yêu cầu quản trị, quản lý tài chính, hạch toán, kế toán của QTDND”. Nếu nội dung này được thực hiện tốt, sẽ góp phần mạnh mẽ trong việc phát triển hiệu quả hệ thống QTDND.

Cần tách riêng một hệ thống pháp luật cho QTDND

Mặc dù, hệ thống QTDND thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng loại hình QTDND vẫn là những tổ chức dễ bị tổn thương khi thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội, đó là phục vụ những đối tượng yếu thế có hoàn cảnh khó khăn đa số ở vùng nông nghiệp, nông thôn, song, so với các TCTD khác, QTDND có quy mô tài sản nhỏ, năng lực tài chính yếu hơn. Thời gian qua, đã có nhiều thay đổi về mô hình và công tác quản lý Nhà nước đối với hệ thống QTDND, chủ trương của Đảng và Nhà nước là kiên trì phát triển loại hình kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, cho nên phải không ngừng hoàn thiện các nội dung quy định trong công tác quản lý Nhà nước đối với riêng hệ thống QTDND. Hiện nay, một số nội dung quy định trong quản lý của hệ thống pháp luật đối với QTDND chưa hoàn toàn phù hợp như thực trạng đã nêu. Kinh nghiệm các nước có tồn tại hệ thống QTDND (Hệ thống Liên hiệp Tín dụng - Credit Unions), đều có ban hành một hệ thống luật riêng biệt cho loại hình, đó là Luật Các liên hiệp Tín dụng (Credit Union Law). Với quy mô tổng tài sản, quy mô số lượng và các đặc thù riêng của QTDND Việt Nam, việc tách riêng một hệ thống luật cho hệ thống QTDND là cần thiết, như vậy, sẽ thuận lợi trong việc điều hành, giám sát hoạt động hệ thống QTDND, giảm thiểu rủi ro pháp lý cho QTDND.

Tăng cường giám sát hoạt động của QTDND

Cơ quan thanh tra, giám sát các TCTD cần tăng cường hơn nữa thanh tra, giám sát, phân tích và đánh giá chất lượng tài sản của các QTDND, các yếu tố liên quan đến tính thanh khoản, khả năng thanh toán, các khoản dự trữ... các chỉ số này có thể đưa ra cảnh báo sớm về tình trạng khó khăn của QTDND. Từ đó, phối hợp với QTDND đưa ra các giải pháp chấn chỉnh kịp thời, trước khi QTDND thật sự rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc phá sản. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, nếu quốc gia xây dựng đầy đủ hệ thống cảnh báo sớm để xác định các vấn đề tiêu cực sẽ phát sinh; xây dựng hệ thống can thiệp sớm để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và linh hoạt, thì hệ thống QTDND sẽ hoạt động an toàn, ổn định và hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo Ngân hàng Hợp tác xã về tình hình hoạt động QTDND.

2. Đề án Củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 209/QĐ-NHNN ngày 31/01/2019 của Thống đốc NHNN.

3. Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

4. Thông tư số 42/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN về quy định xếp hạng QTDND.

5. Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về Ngân hàng Hợp tác xã, QTDND và Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.

6. https://viettimes.vn/pho-thong-doc-nhnn-ty-le-no-xau-toan-he-thong-co-the-dat-gan-8-vao-cuoi-nam-2021-post150848.html, truy cập ngày 5/12/2021.

7. http://baonamdinh.com.vn/channel/5085/202009/hieu-qua-buoc-dau-thi-diem-xu-ly-no-xau-cua-cac-quy-tin-dung-nhan-dan-2539862/, truy cập ngày 6/12/2021.

8. http://www.baohoabinh.com.vn/12/151530/Hieu-qua-hoat-dong-cua-he-thong-quy-tin-dung-nhan-dan.htm, truy cập ngày 6/12/2021.


TS. Lê Hà Diễm Chi, Trịnh Thị Thu Dung

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Xem thêm
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành