­­Nhiều khoảng trống pháp lý cho việc ứng dụng các công nghệ 4.0 trong sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số

Công nghệ & ngân hàng số
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra sự bùng nổ của công nghệ số, các công nghệ cốt lõi như: Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud computing), chuỗi khối (Blockchain), dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI)… mang đến cho nhân loại sự thay đổi toàn diện...
aa

Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra sự bùng nổ của công nghệ số, các công nghệ cốt lõi như: Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud computing), chuỗi khối (Blockchain), dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI)… mang đến cho nhân loại sự thay đổi toàn diện. Ngân hàng là lĩnh vực được đánh giá đứng thứ hai (chỉ sau lĩnh vực công nghệ) trong đầu tư ứng dụng các công nghệ 4.0 vào sự sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, kênh phân phối… trực tuyến với khách hàng, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề về pháp lý khi ứng dụng các công nghệ 4.0 chưa hề có tiền lệ, quan điểm tiếp cận, các tiêu chuẩn ứng dụng có cần quy định riêng với ngành Ngân hàng? Các vấn đề tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, các rủi ro trong giao dịch, vận hành khi ứng dụng công nghệ 4.0 gây ra dưới dạng ẩn danh… sẽ được pháp luật điều chỉnh ra sao? Rất nhiều câu hỏi cần phải trả lời.

Từ khóa: Hành lang pháp lý, ứng dụng, quyền sở hữu, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, giao diện lập trình ứng dụng.

Ứng dụng công nghệ 4.0 trong sáng tạo, phát triển, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đã phát sinh nhiều vấn đề mới: Có được phép ứng dụng công nghệ đó trong giao dịch căn bản của ngân hàng như gửi tiền, vay vốn, thanh toán hay không? Khung khổ pháp lý về tiêu chí được phép ứng dụng? Nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến chính sách, quy trình tự động giao dịch trên môi trường mạng? Mô hình kinh doanh, kênh phân phối qua sử dụng App hoàn toàn khác với mô hình truyền thống thì pháp lý phải thay đổi ra sao? Tiền điện tử, tài sản số dùng trong các giao dịch tài chính, ngân hàng ở góc nhìn rộng hơn là pháp lý cho nền kinh tế tiền điện tử sẽ ra sao… là những vấn đề rất lớn cần được bàn thảo, trao đổi rộng hơn, kỹ hơn.

Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, xin đề cập các điểm chủ yếu về hành lang pháp lý đối với việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong giao dịch, sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Thứ nhất, hành lang pháp lý ứng dụng công nghệ điện toán đám mây: Điện toán đám mây là mô hình dịch vụ cho phép người dùng truy cập tài nguyên điện toán dùng chung (mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng, dịch vụ) thông qua kết nối mạng một cách dễ dàng, mọi lúc, mọi nơi. Nói cách đơn giản, điện toán đám mây là mô hình cung cấp tài nguyên máy tính cho người dùng thông qua Internet. Ứng dụng của điện toán đám mây rất đa dạng trong thương mại điện tử nói chung và giao dịch sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng nói riêng. Hiện nay, hành lang pháp lý cho sử dụng dịch vụ điện toán đám mây được Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chung khi sử dụng dịch vụ điện toán đám mây trong cơ quan nhà nước (Văn bản số 783/THH-HTDLS ngày 16/6/2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông). Do tính cấp bách của việc sử dụng điện toán đám mây, trong khi chưa có cơ sở pháp lý chung để ban hành Thông tư riêng cho sử dụng dịch vụ từ công nghệ này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã lồng ghép trong Thông tư số 09/2020/TT-NHNN ngày 21/10/2020 quy định về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng, từ Điều 33 đến Điều 36 có những quy định mấu chốt quan trọng trong sử dụng dịch vụ điện toán đám mây của bên thứ ba, như: Phân loại hoạt động, nghiệp vụ dự kiến sử dụng điện toán đám mây; các cấu phần hệ thống thông tin từ cấp độ ba trở lên phải có phương án dự phòng và phương án này phải được kiểm thử; tiêu chí lựa chọn bên thứ ba cung cấp dịch vụ điện toán đám mây; việc bảo đảm an toàn hệ thống thông tin khi thuê bên thứ ba cung cấp dịch vụ điện toán đám mây; các nội dung phải có trong hợp đồng thuê dịch vụ điện toán đám mây của bên thứ ba.

Tuy nhiên, để có quy định riêng về việc sử dụng dịch vụ điện toán đám mây từ bên thứ ba còn rất nhiều vấn đề liên quan: Bên thứ ba là đối tác nước ngoài; vấn đề lưu trữ thông tin, dữ liệu; các vấn đề tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng năm 2018, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 còn có những xung đột cần tháo gỡ; vướng mắc nhất là bộ phận pháp chế của cơ quan soạn thảo chính sách cho rằng, không có căn cứ pháp lý để ban hành riêng một văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này.

Thứ hai, hành lang pháp lý cho ứng dụng giao diện lập trình ứng dụng (API): Hiện nay, đã có một số ngân hàng đang cung cấp API cho nhiều khách hàng lớn của mình, nhưng việc cung cấp API này phụ thuộc các ngân hàng và đối tác. Các API đều mang tính riêng lẻ do ngân hàng và đối tác tự xây dựng dựa trên nhu cầu của nhau, chính điều này dẫn tới việc các ngân hàng phải cung cấp một số lượng lớn các API cho các công ty đối tác.

Việc xây dựng API một cách riêng lẻ và không được chuẩn hóa, không có quy trình quản lý tập trung, có thể dẫn tới rủi ro rất lớn về an toàn thông tin của hệ thống do phía ngân hàng phải kết nối hệ thống back-end vào hệ thống của các doanh nghiệp đối tác. Nếu các hệ thống của đối tác xảy ra rủi ro sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống của ngân hàng. Thêm nữa, điều này cũng gây lãng phí cho các ngân hàng về nhân lực, thời gian, thiết bị phục vụ cho các kết nối này.

Kinh nghiệm từ ban hành chuẩn ứng dụng giao diện lập trình mở (Open API) của châu Âu cũng như trong quá trình trao đổi nghiên cứu với các bên liên quan cho thấy, để triển khai API trong ngành Ngân hàng Việt Nam, có nhiều vấn đề về pháp lý và công nghệ cần được làm rõ và tháo gỡ: Đảm bảo bí mật, tính riêng tư của thông tin cá nhân; mô hình và chuẩn kết nối thông tin giữa hệ thống ngân hàng, các công ty Fintech; phạm vi và lộ trình mở, chia sẻ dữ liệu của ngân hàng; các vấn đề về an ninh công nghệ thông tin trong việc bảo vệ hệ thống thông tin khỏi các nguy cơ truy cập bất hợp pháp...

Thứ ba, hành lang pháp lý cho ứng dụng Blockchain: Doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng ứng dụng Blockchain sẽ mang lại nhiều lợi ích và hiệu quả, song các vấn đề như: Huy động nguồn vốn từ tài sản mã hóa, tiền mã hóa; hệ sinh thái ứng dụng Blockchain; khung pháp lý an toàn, minh bạch để bảo vệ được cả ba bên tham gia; nan giải nhất là rà soát bãi bỏ những quy định của các bộ, ngành không còn phù hợp gây ra rào cản cho ứng dụng công nghệ này. Tuy nhiên, cho đến nay, để triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị đã vạch ra định hướng đi tắt, đón đầu công nghệ 4.0, trong đó công nghệ Blockchain được xác định là một trọng tâm, thì việc làm có tính chất khởi động cho những vấn đề trên mới chỉ có Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ về Đề án tài sản ảo, tiền ảo và một báo cáo đề xuất một số định hướng để xây dựng, hoàn thiện chính sách và khung pháp lý cho các sản phẩm, dịch vụ được phát triển trên nền tảng Blockchain. Như vậy, có thể thấy, khung pháp lý cho ứng dụng Blockchain trong phát triển hệ sinh thái kinh tế chia sẻ nói chung và hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng nói riêng với các bên vẫn đang được bỏ ngỏ.

Thứ tư, hành lang pháp lý cho ứng dụng AI: Có rất nhiều vấn đề về pháp lý đặt ra đối với công nghệ này, AI có thể tồn tại trong những hệ thống dữ liệu (chương trình máy tính, chatbot, phần mềm...) mang tính vô hình và cũng có thể được mang bởi một thực thể hữu hình hay còn gọi là các tác tử thông minh như robot hay xe tự lái. Ứng dụng dưới dạng chương trình máy tính, chatbot hay phần mềm đều đã xuất hiện ở một số ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên dưới dạng một robot hữu hình làm nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm, tư vấn tài chính gần như chưa có. Như vậy, có rất nhiều thách thức pháp lý đặt ra ở cấp quốc gia cũng như chuyên ngành như:

(i) Tư cách pháp lý của AI và thực thể mang AI: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, có hai cách tiếp cận về tư cách pháp lý của AI như sau: (1) AI là một đối tượng của pháp luật, một số thực thể hữu hình có gắn AI như robot có thể được xem xét có quyền như con người, tuy nhiên số lượng quốc gia theo cách tiếp cận này rất ít; (2) AI là một đối tượng riêng biệt trong pháp luật và được kiểm soát bởi những quy định đặc biệt, các thực thể mang AI không được công nhận có quyền như một con người, bản chất là một tài sản, công cụ, hay sản phẩm (pháp luật chỉ quy định AI là một đối tượng được kiểm soát đặc biệt và có những quy định dành riêng để điều chỉnh các vấn đề phát sinh liên quan đến AI).

Ở Việt Nam, chưa có một cách tiếp cận nào cho AI hay những thực thể mang AI. Việc này có thể là một thách thức trong quá trình vận dụng pháp luật điều chỉnh. Pháp luật Việt Nam quy định chủ thể phải là cá nhân hoặc tổ chức, do vậy sẽ là không thể nếu chúng ta xác định tư cách pháp lý của AI cũng như những thực thể mang AI là những chủ thể trong pháp luật, có quyền như một con người. Theo tác giả, khi xây dựng quy định pháp luật để điều chỉnh các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến AI, Việt Nam có thể tiếp cận theo cách thứ (2), không cố gắng xác định tư cách pháp lý của AI, mà tập trung định nghĩa AI và các vấn đề phát sinh; còn đối với thực thể mang AI cần có quy định rõ đến việc xác định bản chất của những thực thể đó. Cho đến hiện tại, một khung pháp lý chung về tư cách pháp lý của AI chưa được hình thành, thì đương nhiên các quy định pháp lý hiện tại trong hoạt động ngân hàng mang tính chất truyền thống còn khoảng cách khá xa khi ứng dụng công nghệ AI.

(ii) Pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ: Có hai vấn đề lớn về quyền sở hữu trí tuệ đó là: (1) Những phát minh của con người từ công nghệ AI, thì loại nào cần được bảo vệ, loại nào không được bảo vệ; (2) Những sản phẩm, sáng chế do chính AI sáng tạo cũng đặt ra những thách thức pháp lý so với pháp luật hiện tại.

(iii) Trách nhiệm bồi thường: Với khả năng tích lũy kinh nghiệm và học hỏi cũng như khả năng hành động độc lập và đưa ra quyết định riêng lẻ, AI có thể sẽ là một đối tượng trực tiếp gây hại cho con người hoặc những đối tượng khác. AI có thể trở thành một phương tiện để một chủ thể nào đó dùng gây hại, hoặc AI gây hại bằng hành động của mình. Có thể kể đến các trường hợp như robot của ngân hàng tư vấn sai, gây rủi ro cho khách hàng, vì một lý do nào đó theo lập trình nằm ngoài dữ liệu, khi đó tranh chấp xảy ra sẽ xử lý thế nào? Hay một xe tự lái gây tai nạn giao thông sẽ xử lý ra sao? Đây là những vấn đề lớn mà các chuyên gia pháp lý cho rằng, pháp luật của thế giới cũng như Việt Nam đều chưa lường đón hết để có quy định.
(iv) Quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân: Cần được bảo vệ ra sao khi nhiều tổ chức, trong đó có ngân hàng sử dụng AI thu thập, phân tích dữ liệu phục vụ mục đích kinh doanh của họ, thậm chí có tổ chức, cá nhân trục lợi trên dữ liệu này.

Kết luận và khuyến nghị: Bài viết mong muốn nêu ra những khoảng trống pháp lý còn nhiều thiếu hụt trong việc ứng dụng công nghệ 4.0 khi sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đối với khách hàng là quan hệ kinh tế dân sự. Chuyển đổi số ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung đang diễn ra mạnh mẽ, rất cần được các cơ quan quản lý quan tâm nghiên cứu, xây dựng khung khổ pháp lý với tư duy mới để thúc đẩy kinh tế số, kinh tế chia sẻ và nhất là sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số nhằm phát triển kinh tế bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Lưu Minh Sang, Trần Đức Thành (Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh): “Trí tuệ nhân tạo và những thách thức pháp lý”.
2. http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tri-tue-nhan-tao-trong-thoi-dai-so-boi-canh-the-gioi-va-lien-he-voi-viet-nam-55038.htm
3. Nguyễn Mai Linh, Nguyễn Quý Cảnh, Ngô Thị Hương Giang, Nguyễn Phương Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội): “Pháp luật về điện toán đám mây trong thương mại điện tử ở một số quốc gia và Việt Nam”/lapphap.vn
4. Minh Khôi: “Ngân hàng mở: Vấn đề ở pháp lý và công nghệ”/thoibaonganhang.vn
5. Một số tài liệu liên quan khác.


ThS. Phạm Xuân Hòe
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng