Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Hoạt động ngân hàng
Bài viết làm rõ vai trò quản lý, điều tiết hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh Khu vực 1 (NHNN Khu vực 1) trong việc khai thác hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2024, qua đó góp phần huy động, phân bổ nguồn lực và củng cố nền tảng tài chính cho phát triển kinh tế Thủ đô theo hướng bền vững.
aa

Tóm tắt: Thời gian qua, Luật Thủ đô năm 2024 đã bổ sung nhiều cơ chế đặc thù về tài chính, đầu tư, phân cấp quản lý và phát triển trung tâm tài chính, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động và phân bổ nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, những thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Với vai trò là cơ quan đại diện của NHNN; NHNN Khu vực 1 đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành tiền tệ linh hoạt; định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên; thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; đồng thời tăng cường giám sát hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn. Bài viết phân tích những kết quả nổi bật sau một năm thực hiện Luật Thủ đô năm 2024, qua đó làm rõ vai trò của chính sách tiền tệ trong hỗ trợ tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng tài chính cho mục tiêu phát triển bền vững.

Từ khóa: Luật Thủ đô, NHNN, chính sách tiền tệ, phát triển kinh tế Thủ đô.

THE STATE BANK OF VIETNAM'S REGIONAL BRANCH 1 AND THE CAPITAL’S ECONOMIC DEVELOPMENT
AFTER ONE YEAR OF IMPLEMENTING THE CAPITAL LAW

Abstract:

In recent years, the Capital Law 2024 has introduced a number of specific mechanisms related to finance, investment, decentralization of governance, and the development of financial centers, thereby creating more favorable conditions for mobilizing and allocating resources to support the socio-economic development of Hanoi Capital. However, these changes also place higher demands on the conduct of monetary policy and banking operations in the area. As the representative of the State Bank of Vietnam, the State Bank of Vietnam's Regional Branch 1 has implemented coordinated measures to conduct monetary policy flexibly; direct credit toward priority sectors; promote cashless payments, and strengthen supervision of credit institutions operating in the area . This article analyzes key outcomes after one year of implementing the Capital Law 2024, highlighting the role of monetary policy in supporting economic growth, maintaining macroeconomic stability, and providing a solid financial foundation for sustainable development goals.

Keywords: Capital Law, the State Bank of Vietnam, monetary policy, Capital's economic development.

1. Đặt vấn đề

Việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế đặc thù luôn được xác định là điều kiện tiên quyết để Hà Nội phát huy vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và tài chính của cả nước. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập ngày càng sâu rộng, Quốc hội đã thông qua Luật Thủ đô ngày 28/6/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phân cấp quản lý và thiết lập cơ chế phát triển vượt trội cho Thủ đô Hà Nội. So với Luật Thủ đô năm 2012, Luật Thủ đô năm 2024 mở rộng đáng kể phạm vi và mức độ trao quyền cho chính quyền Thành phố, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính - ngân sách, huy động nguồn lực đầu tư, quy hoạch và phát triển hạ tầng chiến lược. Đồng thời, Luật bổ sung nhiều cơ chế mới nhằm thúc đẩy hình thành trung tâm tài chính, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân và thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, tài chính bền vững. Những nội dung này cũng đặt ra yêu cầu đối với hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động tài chính và cung ứng các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển mới của Thủ đô.

Thực tiễn triển khai trong năm đầu tiên cho thấy các cơ chế mới đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thủ đô theo hướng tích cực và toàn diện. Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt khoảng 1.562 nghìn tỉ đồng (tương đương 63,5 tỉ USD), tăng 8,16% so với năm trước và chiếm khoảng 12,6% GDP cả nước (Cục Thống kê, 2025). Thu ngân sách nhà nước đạt 711 nghìn tỉ đồng, bằng 138,4% dự toán, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm tài chính của Hà Nội. Hoạt động đầu tư và thương mại duy trì đà tăng trưởng với vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 594,7 nghìn tỉ đồng; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 4,1 tỉ USD; có khoảng 32.400 doanh nghiệp thành lập mới. Những kết quả này cho thấy Luật Thủ đô năm 2024 bước đầu phát huy hiệu quả trong việc tạo lập môi trường thể chế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, các cơ chế đặc thù về huy động, phân bổ nguồn lực, phát triển trung tâm tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ, định hướng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng trên địa bàn.

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của NHNN, nổi bật là việc sắp xếp hệ thống chi nhánh từ mô hình quản lý theo tỉnh, thành phố sang quản lý theo khu vực, với 15 chi nhánh NHNN khu vực được hình thành. Đây là bước đột phá trong đổi mới mô hình tổ chức, phù hợp với Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước. Mô hình mới góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, tăng cường khả năng điều hành linh hoạt, sát thực tiễn tại các địa bàn trọng điểm. Trong đó, NHNN Khu vực 1 - cơ quan đại diện của NHNN trên địa bàn Thủ đô - giữ vai trò then chốt trong tổ chức triển khai chính sách tiền tệ; định hướng tín dụng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; hỗ trợ chuyển đổi số và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. NHNN Khu vực 1 cũng là đầu mối phối hợp giữa NHNN với chính quyền Thành phố và các cơ quan liên quan trong triển khai các chương trình, chính sách phát triển kinh tế trên địa bàn. Chính vì vậy, việc thực hiện hiệu quả Luật Thủ đô gắn liền với vai trò chủ động, linh hoạt của Chi nhánh trong điều hành và giám sát hoạt động ngân hàng, qua đó góp phần tạo nền tảng tài chính ổn định cho mục tiêu phát triển bền vững.

2. NHNN Khu vực 1 phát huy vai trò điều hành chính sách tiền tệ, dẫn dắt hệ thống ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Thủ đô

Một là, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, tạo môi trường tiền tệ ổn định cho phát triển

Bám sát định hướng điều hành của NHNN và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, NHNN Khu vực 1 đã chủ động theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, qua đó tổ chức triển khai chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, thận trọng và hiệu quả. Công tác điều hành lãi suất, quản lý thanh khoản và bảo đảm cung ứng tiền mặt được thực hiện thông suốt, góp phần giữ ổn định thị trường tiền tệ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn gia tăng cùng quá trình phục hồi và mở rộng sản xuất trên địa bàn, NHNN Khu vực 1 đã tăng cường theo dõi sát tình hình hoạt động của các TCTD; kịp thời báo cáo và tham mưu các giải pháp điều hành phù hợp. Qua đó, góp phần hạn chế rủi ro phát sinh; củng cố niềm tin của thị trường đối với hệ thống ngân hàng. Việc duy trì môi trường tiền tệ ổn định có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng tài chính cho việc triển khai các cơ chế phát triển mới theo Luật Thủ đô.

Hai là, tăng trưởng tín dụng mở rộng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, định hướng tín dụng tập trung ở các ngành, lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô

Cùng với việc duy trì ổn định hoạt động tiền tệ, NHNN Khu vực 1 đã chỉ đạo hệ thống các TCTD định hướng tăng trưởng tín dụng phù hợp với cơ cấu kinh tế và mục tiêu phát triển của Thủ đô. Đến ngày 31/12/2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 5,633 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 25% so với năm trước, cho thấy khả năng đáp ứng kịp thời và hiệu quả nhu cầu vốn của nền kinh tế. Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn tiếp tục được cải thiện theo hướng bền vững. Dư nợ trung và dài hạn đạt 3,265 triệu tỉ đồng, chiếm 58% tổng dư nợ (tăng 26%), tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển; trong khi dư nợ ngắn hạn đạt 2,368 triệu tỉ đồng, chiếm 42% (tăng 23%), đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Về cơ cấu tiền tệ, dư nợ bằng VND đạt 5,439 triệu tỉ đồng, chiếm 96% tổng dư nợ, góp phần hạn chế rủi ro tỉ giá và củng cố ổn định tiền tệ. Dư nợ bằng USD đạt 193.680 tỉ đồng, chiếm 3,4%, phù hợp với nhu cầu vốn ngoại tệ phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu.

Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế cơ bản phù hợp với định hướng phát triển của Thủ đô theo mô hình kinh tế dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao. Tín dụng đối với lĩnh vực thương mại và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất, đạt 72% tổng dư nợ (tăng 28%), phản ánh rõ vai trò trung tâm thương mại, tài chính và dịch vụ của Hà Nội. Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 26% tổng dư nợ (tăng 18%), góp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng và sản xuất công nghiệp. Trong khi đó, tín dụng đối với nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 1,15% (tăng 6%), chủ yếu tập trung vào các mô hình nông nghiệp công nghệ cao và phát triển khu vực ven đô.

Đặc biệt, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, thể hiện rõ định hướng điều hành của NHNN Khu vực 1 trong việc hỗ trợ các khu vực động lực của nền kinh tế. Dư nợ cho vay đối với nông nghiệp, nông thôn đạt 564.491 tỉ đồng (chiếm 10%, tăng 24%); doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 1.128.982 tỉ đồng (chiếm 20%, tăng 25%); xuất khẩu đạt 281.858 tỉ đồng (chiếm 5%, tăng 25%); công nghiệp hỗ trợ đạt 134.669 tỉ đồng (tăng 33%) và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 21.660 tỉ đồng (tăng 39%). Sự gia tăng mạnh mẽ của tín dụng vào các lĩnh vực này đã góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Thủ đô.

Thực hiện chỉ đạo của NHNN Khu vực 1, các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn đã chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm giảm mặt bằng lãi suất cho vay và nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Nhiều chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất từ 3,9 - 5%/năm được triển khai, tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao và chuỗi cung ứng. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp có điều kiện mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển sản xuất theo hướng bền vững.

Bên cạnh đó, công tác kiểm soát rủi ro tín dụng được tăng cường; tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ. Qua đó, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn không chỉ duy trì ở mức hợp lý mà còn bảo đảm chất lượng và tính bền vững, góp phần củng cố an toàn hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tài chính ổn định cho phát triển kinh tế của Thủ đô.

Song song với việc mở rộng tín dụng, NHNN Khu vực 1 đã chỉ đạo các TCTD triển khai hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận nguồn vốn thuận lợi, kịp thời hơn. Đồng thời, tín dụng xanh, tín dụng phục vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước được mở rộng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế số theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Luật Thủ đô.

Ba là, tăng trưởng huy động vốn ổn định, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế Thủ đô

Cùng với định hướng tăng trưởng tín dụng hợp lý, việc duy trì khả năng huy động vốn ổn định có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô. Trên cơ sở chỉ đạo của NHNN, các TCTD trên địa bàn đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp đa dạng hóa sản phẩm huy động, nâng cao chất lượng dịch vụ và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Nhờ đó, niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng tiếp tục được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho việc mở rộng cung ứng vốn phục vụ phát triển kinh tế trên địa bàn.

Đến ngày 31/12/2025, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đạt khoảng 6,845 triệu tỉ đồng, tăng gần 13% so với cuối năm 2024. Quy mô nguồn vốn tiếp tục được mở rộng theo hướng ổn định, bền vững, vừa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, vừa bảo đảm tuân thủ các tỉ lệ an toàn theo quy định.

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức hợp lý, các TCTD đã chủ động cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng tăng tỉ trọng tiền gửi trung và dài hạn, qua đó nâng cao tính ổn định của nguồn vốn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng đối với các dự án đầu tư dài hạn, đặc biệt là các dự án hạ tầng, sản xuất và đổi mới công nghệ, phù hợp với định hướng phát triển đô thị hiện đại và bền vững của Thủ đô.

Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần xây dựng “Thủ đô số”

Trong định hướng phát triển Hà Nội trở thành đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và tài chính hiện đại theo Luật Thủ đô, chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành hạ tầng tài chính số đồng bộ, an toàn và hiệu quả. Nhận thức rõ yêu cầu đó, NHNN Khu vực 1 đã chủ động chỉ đạo các TCTD trên địa bàn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng; mở rộng các phương thức thanh toán điện tử; đồng thời nâng cao chất lượng và tiện ích của các dịch vụ ngân hàng số, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tiếp tục được mở rộng cả về quy mô và phạm vi, với nhiều dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu và hoạt động thương mại được tích hợp hình thức thanh toán điện tử. Tỉ lệ giao dịch số gia tăng không chỉ góp phần giảm chi phí xã hội liên quan đến lưu thông tiền mặt, mà còn nâng cao tính minh bạch, khả năng truy vết và hiệu quả quản lý tài chính - ngân sách trên địa bàn.

Các sản phẩm ngân hàng số, ví điện tử, thanh toán qua mã QR và các nền tảng số được triển khai ngày càng rộng rãi, đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế số.

Bên cạnh đó, NHNN Khu vực 1 đã định hướng các TCTD mở rộng cung ứng dịch vụ tài chính số tới khu vực ngoại thành và cấp cơ sở, qua đó thúc đẩy tài chính toàn diện và thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ ngân hàng giữa các khu vực. Việc phát triển đồng bộ hạ tầng thanh toán và các nền tảng số không chỉ tạo thuận lợi cho thương mại điện tử, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các mô hình kinh doanh mới, mà còn hỗ trợ chính quyền Thành phố trong xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Thông qua thúc đẩy chuyển đổi số và thanh toán không dùng tiền mặt, hệ thống ngân hàng trên địa bàn đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng “Thủ đô số”, nơi các giao dịch tài chính được thực hiện nhanh chóng, an toàn và minh bạch. Đây cũng là nền tảng quan trọng để từng bước phát triển hệ sinh thái tài chính hiện đại, đáp ứng yêu cầu hình thành Trung tâm tài chính quốc gia trong giai đoạn tới.

Năm là, tăng cường thanh tra, giám sát, củng cố an toàn và ổn định hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thủ đô

Với đặc thù Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, nơi tập trung số lượng lớn các TCTD có quy mô hoạt động lớn và mức độ liên kết cao, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Hiện nay, quy mô huy động vốn và dư nợ tín dụng trên địa bàn lần lượt chiếm khoảng 34,3% tổng huy động vốn và 31,1% tổng dư nợ toàn hệ thống các TCTD, khẳng định vai trò trung tâm tài chính hàng đầu của Thủ đô.

Trước yêu cầu đó, NHNN Khu vực 1 xác định thanh tra, giám sát là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng trên địa bàn. Năm 2025, công tác thanh tra được triển khai cơ bản đúng kế hoạch đã được phê duyệt; công tác giám sát thực hiện nghiêm theo Thông tư số 08/2022/TT-NHNN ngày 30/6/2022 của Thống đốc NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng và các chỉ đạo khác của NHNN. Thông qua hoạt động thanh tra, giám sát thường xuyên và chuyên đề, NHNN Khu vực 1 đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các tồn tại, hạn chế; đồng thời chủ động nhận diện, cảnh báo sớm rủi ro tiềm ẩn, góp phần nâng cao kỷ cương, kỷ luật và hiệu quả hoạt động của các chi nhánh TCTD. Nhìn chung, hệ thống các TCTD trên địa bàn Hà Nội duy trì hoạt động an toàn, ổn định, tuân thủ quy định của pháp luật và định hướng điều hành của NHNN.

Đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), NHNN Khu vực 1 đã chủ động xây dựng và triển khai các giải pháp cơ cấu lại toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm an toàn hệ thống. Hai đề án trọng tâm được triển khai gồm: (i) Đề án xử lý QTDND yếu kém trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 - 2030, với mục tiêu xử lý dứt điểm các QTDND đã được nhận diện là yếu kém và hạn chế tối đa phát sinh mới; (ii) Đề án sắp xếp lại hệ thống QTDND sau điều chỉnh đơn vị hành chính cấp xã, nhằm khắc phục tình trạng chồng lấn địa bàn hoạt động và từng bước tổ chức lại theo định hướng mỗi xã một QTDND vào năm 2030, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc triển khai đồng bộ các đề án này góp phần củng cố vai trò của QTDND trong cung ứng dịch vụ tài chính tại khu vực cơ sở, đồng thời bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục tiêu và quy định của pháp luật.

3. Tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Thủ đô

Sau một năm thực hiện Luật Thủ đô, NHNN Khu vực 1 đã khẳng định vai trò trụ cột trong điều tiết nguồn lực tài chính, góp phần thúc đẩy kinh tế Thủ đô phát triển theo hướng ổn định và bền vững. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, mục tiêu phát triển ở mức cao hơn và sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật liên quan, việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện Luật Thủ đô năm 2024 đang đặt ra như một yêu cầu khách quan và tất yếu. Mục tiêu của việc sửa đổi là xây dựng một khuôn khổ thể chế đặc thù thực sự vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, tương xứng với vị trí, vai trò và tính chất đặc thù của Thủ đô, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời là động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước.

Các định hướng sửa đổi Luật tập trung vào việc tăng cường phân cấp, trao quyền chủ động lớn hơn cho thành phố trong huy động và phân bổ nguồn lực; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh tế mới. Song song với đó, Bộ Chính trị đang xây dựng nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, định hướng phát triển Hà Nội trở thành Trung tâm tài chính quốc gia và khu vực, giữ vai trò hạt nhân tăng trưởng của cả nước.

Gắn với việc triển khai các thể chế, chính sách mới, để tiếp tục phát huy vai trò trong phát triển kinh tế Thủ đô, NHNN Khu vực 1 tập trung vào một số định hướng trọng tâm sau:

Thứ nhất, điều hành chính sách tiền tệ gắn với đặc thù và tầm nhìn phát triển kinh tế của Thủ đô

NHNN Khu vực 1 sẽ chủ động hướng dẫn, giám sát các TCTD tập trung nguồn vốn vào các ngành kinh tế mũi nhọn, lĩnh vực ưu tiên và các dự án trọng điểm theo định hướng phát triển của Thành phố; qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo, từng bước hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô đến năm 2045.

Đặc biệt, chú trọng hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo hệ thống TCTD trên địa bàn triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng trọng điểm như: Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững; chương trình tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; chương trình cho vay khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã và các chương trình mục tiêu quốc gia. Việc thực hiện đồng bộ các chương trình này nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng hiện đại, bền vững.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số và tài chính toàn diện trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn Thủ đô

NHNN Khu vực 1 sẽ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030" (Đề án 06); tập trung phát triển hạ tầng thanh toán hiện đại, mở rộng hệ sinh thái ngân hàng số, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế số và hạn chế tín dụng phi chính thức. Đồng thời, tiếp tục thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia và Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030, nhằm nâng cao mức độ bao trùm tài chính, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững và phát triển Thủ đô theo hướng hiện đại.

Thứ ba, tăng cường an toàn hệ thống và củng cố tài chính cơ sở

NHNN Khu vực 1 sẽ nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát trên cơ sở ứng dụng công nghệ, nhằm kịp thời phát hiện và cảnh báo rủi ro đối với các TCTD hoạt động trên địa bàn. Đồng thời, tập trung triển khai quyết liệt Đề án xử lý QTDND yếu kém giai đoạn 2025 - 2030; củng cố và sắp xếp lại hệ thống QTDND theo hướng từng bước giảm dần số lượng sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, bảo đảm hoạt động an toàn, đúng bản chất hợp tác xã. Cùng với đó, chủ động xử lý các tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc của hệ thống QTDND trên địa bàn; tăng cường quản lý, giám sát, đặc biệt đối với các QTDND yếu kém, quy mô lớn hoặc có dấu hiệu rủi ro, hoạt động thiếu lành mạnh, nhằm bảo đảm ổn định và an toàn hệ thống tài chính cơ sở.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tăng cường phối hợp liên ngành

NHNN Khu vực 1 tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối, vàng và kho quỹ; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân Thành phố và các sở, ngành trong việc tháo gỡ khó khăn về vốn thông qua chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, qua đó góp phần xây dựng môi trường tài chính trên địa bàn Thủ đô lành mạnh, ổn định và phát triển bền vững.

4. Kết luận

Những chuyển biến về thể chế và định hướng phát triển mới theo Luật Thủ đô đang tạo nền tảng quan trọng để hệ thống ngân hàng phát huy vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, NHNN Khu vực 1 đã chủ động triển khai chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn theo hướng linh hoạt, an toàn, hiệu quả, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Việc định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và tăng cường công tác thanh tra, giám sát đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống TCTD trên địa bàn.

Thời gian tới, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện và thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) và ban hành nghị quyết mới của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới (thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TW), NHNN Khu vực 1 sẽ tiếp tục phát huy vai trò điều hành, kết nối và dẫn dắt dòng vốn, góp phần xây dựng Hà Nội trở thành Trung tâm tài chính quan trọng của quốc gia và khu vực.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Thủ đô năm 2024.

2. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

5. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

6. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

TS. Nguyễn Thị Hòa
Giám đốc NHNN Khu vực 1

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành