Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hưng Yên: Phát huy vai trò trụ cột giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương

Hoạt động ngân hàng
Xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên hôm nay đã là địa danh nổi tiếng với nhiều loại cây ăn quả, nơi cung cấp cây giống, cây cảnh ra toàn quốc và xuất khẩu sang nhiều nước láng giềng.
aa

Điểm tựa cho người dân vươn lên

Xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên hôm nay đã là địa danh nổi tiếng với nhiều loại cây ăn quả, nơi cung cấp cây giống, cây cảnh ra toàn quốc và xuất khẩu sang nhiều nước láng giềng. Song ít ai biết rằng, mảnh đất này những năm trước đổi mới, hằng năm có khoảng 70% gia đình thiếu ăn bởi toàn xã Tân Châu chỉ có 200 mẫu lúa mùa, còn lại là đất bãi ở cốt cao nên thường thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho vụ đông xuân và vụ hè thu, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất toàn huyện, chưa đến 300m2/người.

Hơn chục năm trước, với việc trồng màu và trồng ngô, câu chuyện mưu sinh của người dân nơi đây vô cùng nhọc nhằn và gian khó. Nhiều người dân đã phải li nông, li hương mưu sinh. Song hiện nay, nhiều gia đình đã có thể an tâm ở lại quê nhà phát triển với hai trợ lực, đó là chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội hỗ trợ người dân về kĩ thuật, công nghệ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi sang các cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao; ngân hàng thì tận dụng mọi nguồn vốn hỗ trợ người dân chuyển đổi sinh kế thành công.

Nhờ vốn tín dụng chính sách, chị Đỗ Thị Hòa, thôn Mãn Hòa, xã Tân Châu,

huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã chuyển đổi trồng cây giống tạo thu nhập ổn định

Như hộ chị Đỗ Thị Hòa, thôn Mãn Hòa, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu chỉ có 04 sào đất, trong đó 03 sào là đất thuê, song mỗi năm, chị Hòa cũng để ra được cả trăm triệu đồng từ nghề trồng cây giống. Chị Hòa kể, những năm trước, nhà chị có một sào trồng ngô, lo ăn cũng chẳng đủ chưa nói đến chuyện cho con ăn học. Chính vì vậy, sau khi tìm hiểu và thấy nhu cầu thị trường cây giống ngày càng gia tăng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và trên toàn quốc, thậm chí cả xuất khẩu, gia đình chị quyết tâm chuyển đổi cây trồng. Kinh nghiệm để sản xuất không phải là câu chuyện lớn khi các chị em trong thôn, trong xã sẵn sàng chia sẻ, giúp nhau sản xuất. Bài toán vốn tưởng khó, song, khi biết chị có nhu cầu chuyển đổi sản xuất, Hội Phụ nữ xã Tân Châu cùng NHCSXH đã tạo điều kiện cho gia đình chị vay từ nguồn vốn giải quyết việc làm để mua thêm đất, cải tạo đất trồng, mua cây giống. Với khoản vay lần đầu 20 triệu đồng rồi thêm các vòng vốn 30 triệu đồng, 40 triệu đồng và nay là 50 triệu đồng từ NHCSXH huyện Khoái Châu, đến nay, chị Hòa đã có vườn với 03 vạn cây giống đa dạng từ cây ăn quả như hồng xiêm, ổi, nhãn, bưởi, đến cây cảnh như đào, cau… mỗi tháng xuất khoảng 4.000 cây. Chị Hòa cho biết, một vài năm gần đây giá xuống thấp nên lãi trung bình là 2.000 đồng/cây; những năm về trước, có thời điểm lãi lên tới 8.000 đồng/cây. Nhờ vào nguồn thu từ mảnh đất nho nhỏ này, lại cộng thêm được NHCSXH cho vay vốn học sinh, sinh viên, đến nay, hai con của chị Hòa đều đã tốt nghiệp đại học Y Hà Nội, trong đó, người con đầu đã mở phòng khám bệnh tư nhân và con thứ hai làm bác sĩ một bệnh viện ở Hà Nội.

Không chỉ hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo sinh kế, NHCSXH còn góp phần giải quyết bài toán đầu ra, gia tăng giá trị sản xuất hàng hóa cho người dân thông qua việc hỗ trợ các cơ sở sản xuất sản vật địa phương, đồng thời, mở rộng việc làm cho người dân địa phương.

Như ở xã thuần nông ven sông Hồng - Chí Tân, đất đai phần lớn là pha cát không phù hợp với nghề trồng lúa, những năm qua, NHCSXH đã hỗ trợ người nghèo và đối tượng chính sách chuyển sang trồng nghệ, đồng thời đầu tư vốn cho các hộ sản xuất nghệ của địa phương. Như hộ anh Nguyễn Văn Thiêm, xã Chí Tân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên là một điển hình. Anh Thiêm kể, đầu tư sản xuất tinh bột nghệ, đòi hỏi đầu tư nhà xưởng, máy móc lớn, chưa kể nguồn vốn mua nguyên vật liệu. Chính bởi vậy, việc tiếp cận được 100 triệu đồng vốn cho vay giải quyết việc làm của NHCSXH và 100 triệu đồng vay từ Quỹ hội Nông dân là rất quý, giúp anh thu mua tinh bột nghệ chỉ có thời vụ từ tháng 10 âm lịch đến đầu tháng 12 âm lịch hằng năm, tích lũy nguồn nguyên liệu cho sản xuất, tạo việc làm không chỉ cho chính anh mà còn tạo việc làm mùa vụ từ 6 - 7 tháng cho từ 08 đến 10 lao động và 03 lao động làm việc cả năm. Đặc biệt, những lao động này phần lớn là người có tuổi, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Làn gió mới trong thực thi tín dụng chính sách

Việc triển khai tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Khoái Châu đã có thêm luồng gió mới kể từ khi triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ góp phần cho vay đúng và đủ các đối tượng là hộ nghèo và gia đình chính sách, nâng cao năng lực triển khai tín dụng chính sách cho NHCSXH tỉnh Hưng Yên thông qua việc hỗ trợ cơ sở hạ tầng, phương tiện làm việc. Mà hơn thế, việc gia tăng nguồn vốn ủy thác địa phương qua NHCSXH đã làm tăng độ phủ và chiều sâu của tín dụng chính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh tế địa phương. Mà đỉnh cao của việc thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW được kết tinh trong Đề án bổ sung nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 - 2026 được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên phê duyệt tại Quyết định số 900/QĐ-UBND ngày 19/4/2023, với tổng nguồn vốn ủy thác qua NHCSXH từ ngân sách tỉnh là 220 tỉ đồng, từ ngân sách huyện là 110 tỉ đồng. Đặc biệt, Đề án còn giao kế hoạch ủy thác vốn từ ngân sách xã là 15 tỉ đồng cho cả giai đoạn.

Hiệu ứng của đề án này đã đưa nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương của tỉnh Hưng Yên đến cuối năm 2023 đạt 210.785 triệu đồng (trong đó, ngân sách cấp tỉnh là 151.215 triệu đồng; ngân sách cấp huyện, cấp xã là 59.570 triệu đồng), tăng 69.529 triệu đồng, tỉ lệ tăng 49,2% so với ngày 31/12/2022, chiếm 5,1% tổng nguồn vốn, thực hiện 126,8% kế hoạch năm 2024. Đặc biệt, hai tháng đầu năm 2024, nguồn vốn ủy thác địa phương đã tăng mạnh với ủy thác từ ngân sách tỉnh tăng từ 50 tỉ đồng lên 201 tỉ đồng, ủy thác từ ngân sách huyện tăng từ 29 tỉ đồng lên 88 tỉ đồng. 127/161 xã, phường cũng đã ủy thác được 600 triệu đồng qua NHCSXH để cho vay người nghèo và đối tượng chính sách khác. Những nỗ lực từ cấp ủy, chính quyền địa phương đã đưa tổng nguồn vốn ngân sách địa phương qua NHCSXH đạt 290 tỉ đồng.

Cùng với nguồn vốn tín dụng từ Trung ương, tín dụng chính sách xã hội năm 2023 đã có bước tăng trưởng mạnh, doanh số cho vay của NHCSXH tỉnh Hưng Yên đạt 1.078.421 triệu đồng, trong đó riêng chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm chiếm hơn 50% với 520.862 triệu đồng. Bên cạnh đó là cho vay hộ mới thoát nghèo 89.464 triệu đồng; cho vay hộ nghèo 46.198 triệu đồng; cho vay hộ cận nghèo 44.478 triệu đồng. Tính đến cuối năm 2023, tổng dư nợ của NHCSXH tỉnh Hưng Yên đạt 4.111.791 triệu đồng, tăng 594.693 triệu đồng, tỉ lệ tăng 16,9% so với ngày 31/12/2022.

Cùng với việc nâng cao chất lượng tín dụng chính sách xã hội, thông qua việc phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giải ngân nhanh chóng, đúng đối tượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác; đồng thời củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng Tổ tiết kiệm và vay vốn, điểm giao dịch xã, công khai và tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi tín dụng chính sách xã hội, nợ quá hạn của NHCSXH tỉnh Hưng Yên đến cuối năm 2023 chỉ chiếm 0,016%/tổng dư nợ. Dòng vốn tín dụng phủ rộng và sâu trong đời sống đã giúp 21.640 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn; giúp 5.292 hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo; hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho 7.579 lao động; 47 người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm, hòa nhập với cộng đồng dân cư.

Trong 2 tháng đầu năm 2024, doanh số cho vay của NHCSXH tỉnh Hưng Yên đạt 231 tỉ đồng với 4.249 hộ tiếp cận vốn vay; tổng dư nợ đến ngày 29/02/2024 đạt 4.216 tỉ đồng.

Phó Giám đốc phụ trách NHCSXH tỉnh Hưng Yên Chu Thị Bích Lan cho biết, hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, tập trung phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần đẩy lùi hoạt động cho vay nặng lãi, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Đến cuối năm 2023, tỉ lệ người nghèo đa chiều ở tỉnh Hưng Yên giảm mạnh chỉ còn 0,86%. Toàn tỉnh Hưng Yên có thêm 19 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao là 102/139 xã, 36 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 153 khu dân cư được công nhận khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu.

Năm 2024, tỉnh Hưng Yên phấn đấu 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, phấn đấu có từ một đến hai huyện được công nhận huyện nông thôn mới nâng cao. Hưng Yên cũng đặt mục tiêu đến năm 2025, toàn tỉnh có 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, 195 khu dân cư kiểu mẫu, có ít nhất ba đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,5%.



Anh Nguyễn Văn Thiêm, xã Chí Tân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

đầu tư sản xuất tinh bột nghệ, tạo việc làm cho gia đình và người dân địa phương

Để tiếp tục phát huy vai trò của dòng vốn tín dụng chính sách xã hội trong công cuộc giảm nghèo, góp phần giải quyết bài toán tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân địa phương, xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế bền vững của tỉnh, Phó Giám đốc phụ trách NHCSXH tỉnh Hưng Yên Chu Thị Bích Lan cho biết, trong năm 2024 và những năm tiếp theo, NHCSXH tỉnh Hưng Yên sẽ tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; Chỉ thị số 40-CT/TW và Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW… đặc biệt là Quyết định số 900/QĐ-UBND ngày 19/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, trong đó, trọng tâm là tham mưu chuyển ngân sách năm 2024 bổ sung nguồn vốn ủy thác qua NHCSXH để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đồng thời, NHCSXH tỉnh Hưng Yên tiếp tục quan tâm đến việc củng cố nguồn nhân lực, xây dựng hình ảnh người cán bộ NHCSXH luôn gần dân, tận tụy phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác; nỗ lực thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch tín dụng được giao, phấn đấu hoàn thành 100% chỉ tiêu tăng trưởng năm 2024; tăng cường công tác thông tin, truyền thông, chú trọng tuyên truyền đi vào chiều sâu để hộ vay hiểu và thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ khi vay vốn NHCSXH.


Trong bối cảnh nguồn vốn tín dụng chính sách Trung ương hữu hạn tập trung giảm nghèo bền vững, nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm hạn chế, NHCSXH tỉnh Hưng Yên mong muốn Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội, trong đó cân đối, ưu tiên bố trí kinh phí trong dự toán hằng năm từ nguồn đầu tư phát triển chuyển sang NHCSXH bổ sung nguồn vốn ủy thác cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn; chỉ đạo thực hiện tốt công tác khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, tiêu thụ sản phẩm; định hướng sản xuất cây trồng, vật nuôi; thường xuyên điều tra, rà soát, thống kê xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác để tạo điều kiện cho các đối tượng này được tiếp cận vốn tín dụng chính sách kịp thời, nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách xã hội trong đời sống, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia cũng như đẩy nhanh tiến trình phát triển bền vững của tỉnh Hưng Yên.

Nhất Thanh (NHNN)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành