Một số kinh nghiệm về số hóa nền kinh tế Liên bang Nga

Công nghệ & ngân hàng số
Bài viết đề cập các nội dung chủ yếu của việc số hóa nền kinh tế Nga, những vấn đề tồn đọng và triển vọng cho việc thực hiện số hóa tại Liên bang Nga, đồng thời nhấn mạnh quan điểm số hóa nhằm nâng c...
aa

Bài viết đề cập các nội dung chủ yếu của việc số hóa nền kinh tế Nga, những vấn đề tồn đọng và triển vọng cho việc thực hiện số hóa tại Liên bang Nga, đồng thời nhấn mạnh quan điểm số hóa nhằm nâng cao chất lượng quản lý hành chính công.

Hiện nay, sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào được xác định bởi mức độ số hóa nền kinh tế của quốc gia đó. Trong quá trình hình thành nền kinh tế số sẽ diễn ra sự chuyển đổi các hình thức quan hệ kinh tế truyền thống sang các hình thức quan hệ kinh tế số. Tuy nhiên, các nhà kinh tế lý thuyết vẫn chưa đưa ra một quan điểm thống nhất về ảnh hưởng của mức độ số hóa đối với giá trị GDP do các hiệu ứng số nhân và liên ngành có thể có.

Với quá trình phát triển và khả năng ứng dụng công nghệ số, tiềm năng của nền kinh tế số để cải thiện phúc lợi của quốc gia là hiển nhiên. Cách tiếp cận này giúp định hình các ưu tiên chính sách công và bao gồm các giải pháp cụ thể và cẩn trọng hơn, có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao chất lượng quản lí nhà nước, một trong những mục tiêu chiến lược ưu tiên của Liên bang Nga.

Theo các chuyên gia có uy tín, nền kinh tế số là một môi trường thể chế kinh tế, nơi công nghệ số hướng đến việc đáp ứng nhu cầu của nhà nước, tăng hiệu quả kinh doanh và phúc lợi công cộng [10].

Trong bảng xếp hạng quốc tế “Chỉ số phát triển kinh tế số của các quốc gia” tính đến năm 2017, Nga đứng thứ 39 (Bảng 1)[11].

Kinh nghiệm quốc tế về số hóa cho thấy rằng nhà nước đang tích cực tham gia các quá trình chuyển đổi, nhờ đó, đạt đượhiệu quả kinh tế và xã hội. Hiện tại, ở Mỹ, thị phần của nền kinh tế số chiếm 10,9%; ở Trung Quốc là 10%; ở EU là 8,3%[2;9].

Kinh nghiệm nước ngoài về việc hình thành một nền kinh tế số, ví dụ, ở Đức, tác giả của Đề án “Công nghiệp 4.0”, cho thấy rằng nhà nước không đóng vai trò trung tâm trong cơ cấu tài trợ các dự án kỹ thuật số, mà là xây dựng các nguyên tắc vận hành, phát triển giáo dục cơ bản, khuyến khích nghiên cứu...[8;9].

Ở Hàn Quốc và Nhật Bản, số hóa được thực hiện trên cơ sở các tổ chức như LG, Samsung, Sony, SoftBank, Toshiba, Toyota, ở đó, có thể chỉ ra các dự án thương mại điện tử, tạo ra các hệ sinh thái (Rakuten) và các ứng dụng liên lạc miễn phí trên Internet (Line, Kakao). Ở Mỹ, quy mô nền kinh tế số khá cao và tỉ lệ đóng góp vào tăng trưởng GDP từ đầu tư vào số hóa, trong đó có đầu tư của cả nhà nước ngày càng lớn. Trung Quốc, mặc dù là một nước đang phát triển, nhưng đứng ở vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ, cũng xác định và thực hiện các giải pháp số đầy hứa hẹn, phát triển các dự án riêng như Alibaba và Huawei. Bán lẻ trực tuyến là mô hình kinh doanh phổ biến của người dân Trung Quốc, trong đó, các khả năng của các hệ sinh thái trực tuyến và dịch vụ ngân hàng số đang được sử dụng tích cực[9].

Ở Nga[8], sự đóng góp của nền kinh tế số vào tăng trưởng GDP hiện đang trở lại xu hướng tăng trưởng sau khi giảm nhẹ vào năm 2015 (Hình 1). Đồng thời, theo các dự báo, hiệu quả kinh tế từ số hóa nền kinh tế Nga có thể tăng GDP vào năm 2025 khoảng 4,1 đến 8,9 nghìn tỷ Rúp, chiếm từ 19 đến 34% tăng trưởng GDP[9].

Theo các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế số tại Liên bang Nga vẫn bị tụt lại phía sau các nước hàng đầu. Đặc biệt, theo nhóm chuyên gia Digital McKinsey[9], số hóa là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế dài hạn thông qua: tối ưu hóa hoạt động sản xuất và logistics; nâng cao hiệu quả của thị trường lao động; tăng hiệu suất thiết bị; nâng cao hiệu quả R & D và phát triển sản phẩm mới; giảm tiêu thụ tài nguyên và thiệt hại sản xuất.

Số hóa có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nhờ tạo cơ hội việc làm mới, tăng sức mua của người tiêu dùng, tăng sự tham gia của công dân vào việc quản lý các quá trình xã hội quan trọng, tăng sự tiện nghi khi sống trong các thành phố, mở rộng tiếp cận các lợi ích xã hội, sự tiện lợi của các dịch vụ kỹ thuật số và dịch vụ công kĩ thuật số, đảm bảo an toàn xã hội và an ninh kinh tế của quốc gia[8].

Sứ mệnh phát triển nền kinh tế số Nga là cải thiện chất lượng cuộc sống, đảm bảo năng lực cạnh tranh quốc gia và an ninh quốc gia. Mục tiêu số hóa trong viễn cảnh 15 - 20 năm là tham gia vào nhóm các nền kinh tế hàng đầu thế giới thông qua chuyển đổi số các ngành công nghiệp truyền thống và phát triển một ngành công nghiệp số tự lực và cạnh tranh[6].


Ở Nga, theo Chương trình "Kinh tế số của Liên bang Nga", trước mắt, tạo các điều kiện cần thiết cho sự phát triển nền kinh tế số với quy mô lớn. Chương trình thiết lập các mục tiêu sau:

- Hoàn thiện thể chế và nâng cấp cơ sở hạ tầng để phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao.

- Thiết lập hệ sinh thái của nền kinh tế số dựa trên định dạng dữ liệu số được sử dụng trong các hoạt động kinh tế - xã hội.

Trong hệ sinh thái của nền kinh tế số, sẽ hình thành các cấp độ sau:

+ Cấp độ tương tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp;

+ Cấp độ hình thành năng lực để phát triển các ngành kinh tế;

+ Cấp độ điều kiện về môi trường hoạt động: khung pháp lý điều chỉnh, cơ sở hạ tầng và an ninh thông tin, nhân sự[7].

Để hình thành nền kinh tế số tại Liên bang Nga, sẽ sử dụng công nghệ số dữ liệu lớn, công nghệ thần kinh (neurotechnology), trí tuệ nhân tạo, công nghệ sản xuất mới, hệ thống sổ cái phân tán...[7;9].

Theo kết quả nghiên cứu của Rostelecom[4], các xu hướng toàn cầu chủ yếu trong lĩnh vực số hóa là Internet di động, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, trong đó, các xu hướng bền vững và đột phá được gọi là blockchain và nhận dạng cá nhân qua hình ảnh. Đồng thời, phấn đấu đưa Liên bang Nga lên mức thứ 11 trong bảng xếp hạng phát triển xu hướng số hóa toàn cầu[10].

Theo kết quả khảo sát trong khuôn khổ nghiên cứu[2] về những kết quả thu được từ việc ứng dụng công nghệ số tại các tổ chức kinh doanh, trong số các tác động đáng kể của số hóa, nổi bật nhất là các hiệu ứng: tăng doanh thu, tăng tốc độ sản xuất sản phẩm và dịch vụ, tăng tính minh bạch trong hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giảm chi phí sản xuất, cũng như thu được các hiệu ứng gián tiếp trong các lĩnh vực hoạt động liên quan của công ty. Theo những người được hỏi, tác động lớn nhất bao gồm Internet kết nối vạn vật (IoT), tự động hóa sản xuất, công nghệ di động và truyền thông đa kênh, công nghệ ảo hóa, truy cập từ xa, thiết kế và mô hình hóa kỹ thuật số.

Các nghiên cứu[2;8;9] đã nêu ra những vấn đề cộm lên trong ứng dụng số hóa thời gian qua, đó là: thiết lập mục tiêu và nhiệm vụ của đề án số hóa chưa sát với thực tế, thông tin cơ bản về đối tượng ứng dụng các giải pháp số hóa không chính xác, sai sót trong lập kế hoạch thực hiện các loại hình và trình tự công việc, thiếu kỹ năng về công nghệ của người dùng, sự không chắc chắn về kinh tế trong nước, biến động của đồng Rúp, các hạn chế về hành lang pháp lý, thiếu các chuẩn mực về ứng dụng công nghệ số, thiếu các biện pháp hỗ trợ đặc biệt của nhà nước để sử dụng công nghệ số, sự chênh lệch về trình độ số hóa giữa các khu vực[2].

Theo các chuyên gia[9], nền kinh tế sẽ cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư nhờ tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả của các dịch vụ công đối với các thủ tục đăng ký, chứng nhận và công chứng, phát triển hệ sinh thái dịch vụ kinh doanh, tăng tính minh bạch về các điều kiện kinh doanh, hình thành các nền tảng công nghệ chung cho tất cả những thành viên tham gia nền kinh tế số.


Để phát triển thành công nền kinh tế số, theo các nhà nghiên cứu, điều cần thiết là:

- Tạo sự cạnh tranh bình đẳng, bởi vì động lực chính để tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế số chính là khu vực doanh nghiệp; trong trường hợp này, Nhà nước chỉ nên đóng vai trò người khởi xướng và tổ chức việc tạo lập một cơ sở hạ tầng kỹ thuật số.

- Hình thành các nền tảng công nghệ chung, đảm bảo sự chuyển đổi đồng bộ của các tổ chức quan tâm sang các quan hệ kỹ thuật số.

- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong nền kinh tế số, bởi vì định dạng kỹ thuật số liên quan đến các chủ thể và đối tượng mới của quan hệ pháp lý, quyền, nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể.

- Đào tạo và đào tạo lại các chuyên gia CNTT, cán bộ, công nhân viên của các doanh nghiệp và tổ chức thương mại, các cơ quan nhà nước, cũng như dân cư cả nước.

- Truyền thông đến người tiêu dùng và quảng bá các sản phẩm kỹ thuật số và các ứng dụng của chúng.

- Đảm bảo niềm tin của các chủ thể kinh tế và người sử dụng về tính an toàn của sản phẩm.

- Phát triển các giải pháp công nghệ mới với sự tham gia tích cực của Nhà nước.

Những kết quả dự kiến đạt được từ việc ứng dụng nền kinh tế số dưới góc độ tiện ích tích hợp cho xã hội bao gồm: các dịch vụ tiện ích và phương thức truyền thông giữa công dân và Nhà nước; tạo điều kiện phát triển xã hội tri thức ở Liên bang Nga; cải thiện phúc lợi và chất lượng cuộc sống của công dân, cũng như sự tiếp cận và chất lượng hàng hóa và dịch vụ; tăng nhận thức và kiến thức về số hóa; nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ công cho công dân và đảm bảo an ninh cả trong và ngoài nước về tổng thể[4].

Số hóa là cơ sở để nâng cao chất lượng quản lý hành chính công. Theo các chuyên gia[5], việc số hóa hành chính công bao gồm: chuyển giao toàn bộ các quy trình nội bộ và tương tác liên ngành theo định dạng kỹ thuật số, xây dựng các hệ thống phản hồi với các cơ quan nhà nước và tổ chức dịch vụ xã hội, thu thập và phân tích một lượng lớn dữ liệu để đưa ra những quyết định hiệu quả, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý hành chính công.

Xuất phát từ những lập luận trên, có thể kết luận rằng số hóa có tiềm năng nâng cao chất lượng quản lý hành chính công thông qua việc tăng sự hài lòng của các bên liên quan[1;3;5], điều này quyết định sự cần thiết phải phát triển một hệ thống quan điểm, định hướng số hóa hành chính công dựa trên mô hình nâng cao chất lượng hành chính công.

Vì vậy, số hóa nền kinh tế Liên bang Nga nhằm mục đích đạt được những kết quả về công nghệ, kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao trình độ phát triển và vị thế cạnh tranh cao hơn trên thị trường toàn cầu.

Kinh tế số và cơ hội của Việt Nam

Hiện nay, theo bảng xếp hạng quốc tế "Chỉ số phát triển kinh tế số của các quốc gia", tính đến năm 2017, Việt Nam đứng thứ 48/60 quốc gia có chỉ số phát triển kinh tế số nhanh trên thế giới (Bảng 1); đồng thời đứng vị trí thứ 22 về tốc độ phát triển số hóa[11]. Những con số này đã chứng tỏ sự thay đổi lớn trong mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, là bước ngoặc giúp kinh tế Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Rõ ràng, kinh tế số đang diễn ra nhanh chóng và có tác động to lớn, sâu rộng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia; thúc đẩy quá trình chuyển đổi toàn diện trên tất cả các mặt của cuộc sống xã hội, từ tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, phương thức kinh doanh, đến cách thức tiêu dùng, cách thức giao tiếp.

Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam năm 2019, Thứ trướng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Thế Thắng dẫn nghiên cứu của Geogle và Temasek (Singapore) cho biết kinh tế số Việt Nam đạt 3 tỉ USD vào năm 2015, tăng lên 9 tỉ USD vào năm 2018 và dự báo đạt 30 tỉ USD vào năm 2025.

Trong sự chuyển biến này, doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế số. Chuyển đổi số mang lại giá trị to lớn cho các doanh nghiệp; đồng thời cũng tạo ra một số thách thức. Các doanh nghiệp cần chủ động tìm ra giải pháp ứng dụng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng chiến lược, lộ trình chuyển đổi số rõ ràng, có cơ sở khoa học và tham gia xây dựng các yếu tố nền tảng của nền kinh tế số.

Về phía Chính phủ, chủ động nghiên cứu và xây dựng các chính sách để Việt Nam có thể nhanh chóng khai thác các lợi ích tiềm năng này. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chiến lược quốc gia về cách mạng công nghiệp 4.0 đến năm 2030, trong đó có các chính sách phát triển kinh tế số.

Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế số tại Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông đang xây dựng Đề án quốc gia về Chuyển đổi số, trong đó đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để chuyển đổi số nền kinh tế, xã hội, chuyển đổi số cơ quan nhà nước và một số ngành trọng điểm.

Các chính sách này sẽ hướng tới xây dựng các yếu tố nền tảng cần thiết, để doanh nghiệp có thể thực hiện chuyển đổi số thành công, nâng cao năng suất, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng nhanh hơn và bền vững hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Горбашко Е. А. Повышение качества управления на основе менеджмента качества // Стандарты и качество. 2009. № 3. С. 88-89.

2. Доклад «Цифровая экономика: глобальные тренды и практика российского бизнеса»/под ред. Д. С. Медов¬никова. [Электронный ресурс]. Нац. исслед. ун-т Высшая школа экономики». Москва. 2017. 121 с. - URL: https://imi.hse.ru/pr2017_1 (дата обращения: 19.10.2018).

3. Леонова Т. И. Оценка качества деятельности государственных органов / В. Г. Куганов, Т. И. Леонова, А. В. Лях. // Проблемы современной экономики. 2013. № 4 (48). С.217–228.

4. Мониторинг глобальных трендов цифровизации: отчет об исследовании // ПАО «Ростелеком», 2018. 30 с. - URL: https://www.company.rt.ru/projects/digital_trends/2018.pdf (дата обращения: 10.10.18).

5. Окрепилов В. В. Повышение качества государственных услуг посредством внедрения систем менеджмента качества / В. В. Окрепилов // Теория и философия хозяйства. 2012. № 6. С. 9-12.

6. Петров М., Буров В., Шклярук М., Шаров А. Государство как платформа. (Кибер) Государство для цифровой экономики. Цифровая трансформация. [Электронный ресурс]. - Москва. Центр стратегических разрабо¬ток. - Апрель, 2018. -52 с. - URL: https://www.csr.ru/wp-content/uploads/2018/05/GOSUDARSTVO-KAK-PLATFORMA_internet.pdf. (дата обращения: 10.10.2018)

7. Программа «Цифровая экономика Российской Федерации»: распоряжение Правительства Российской Фе¬дерации от 28 июля 2017 года № 1632-р. - URL: http://static.government.ru/media/files/9gFM4FHj4PsB79I5v7 yLVuPgu4bvR7M0.pdf (дата обращения: 09.10.18).

8. Россия онлайн: четыре приоритета для прорыва в цифровой экономике/ Степаненко А., Банке Б., Бутенко В. [и др.]. [Электронный ресурс]. -The Boston Consulting Group. -Октябрь, 2017. - 28 с. -URL: http://image-src.bcg.com/Images/Russia-Online_tcm27–178074.pdf. (дата обращения: 08.10.2018).

9. Цифровая Россия: новая реальность / Клинцов В., Аптекман А. [и др.]. [Электронный ре¬сурс]. -McKinsey&Company. -Июль, 2017. - 133 с. -URL: https://www.mckinsey.com/ru/our-insights (дата об¬ращения: 09.10.18).

10. Цифровая экономика: краткий статистический сборник / Г. И. Абдрахманова, Л. М. Гохберг, А. В. Демьянова и др.; Нац. исслед. ун-т Высшая школа экономики». - М.: НИУ ВШЭ, 2018. -96 с. -URL: https://issek.hse.ru/ data/2018/07/27/1152150310/ice2018kr.PDF (дата обращения 18.10.18).

11. Chakravorti B., Chaturved R. Sh. Digital Planet 2017. How Competitiveness and Trust in Digital Economies Vary Across the World. - The Fletcher School, Tufts University. -July, 2017. - 70 p.-URL: https://sites.tufts.edu/ digitalplanet/files/2017/05/Digital_Planet_2017_FINAL.pdf (дата обращения: 08.10.2018).



PGS., TS. Nguyễn Hồng Nga

(TCNH chuyên đề THNH số 7/2019)
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước về Fintech tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước về Fintech tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Chiều 20/8/2025, tại Hà Nội, Trường Đại học Đại Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Quản lý nhà nước đối với sự phát triển Fintech: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam”. Hội thảo đã tạo diễn đàn trao đổi học thuật cũng như thực tiễn giữa các nhà khoa học, chuyên gia trong nước, quốc tế, cùng chia sẻ kinh nghiệm quản lý, định hình khung khổ pháp lý, cũng như đề xuất giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững của Fintech tại Việt Nam.
Ứng dụng AI hỗ trợ nâng cao giá trị hoạt động truyền thông ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Ứng dụng AI hỗ trợ nâng cao giá trị hoạt động truyền thông ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh chuyển đổi số và từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách hướng tới nền tài chính toàn diện; trong đó, trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ hỗ trợ truyền thông chính sách hiệu quả, chính xác hơn mà còn giúp tự động hóa quy trình, tối ưu chi phí, nâng cao trải nghiệm khách hàng - từ cá nhân hóa thông điệp, phân tích dữ liệu lớn để nắm bắt nhu cầu, đến phát hiện và xử lý thông tin sai lệch trên môi trường số. Bên cạnh cơ hội, AI cũng đặt ra không ít thách thức. Chính vì vậy, Thời báo Ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Tọa đàm với chủ đề: “Ứng dụng AI trong truyền thông chính sách và sản phẩm, dịch vụ ngân hàng” diễn ra ngày 20/8/2025 tại Hà Nội.
Toàn bộ hồ sơ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng đã được đối chiếu dữ liệu và xác minh thông tin

Toàn bộ hồ sơ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng đã được đối chiếu dữ liệu và xác minh thông tin

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến nay 100% tổng lượng tài khoản cá nhân và tổ chức phát sinh giao dịch trên kênh số đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học. Đến hiện tại, ngành Ngân hàng đã hoàn thành làm sạch toàn bộ hồ sơ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán có phát sinh giao dịch trên kênh số.
Quản lý phát hành và giao dịch tài sản số: Kinh nghiệm của Nhật Bản và một số khuyến nghị đối với Việt Nam

Quản lý phát hành và giao dịch tài sản số: Kinh nghiệm của Nhật Bản và một số khuyến nghị đối với Việt Nam

Việc hoàn thiện hành lang pháp lý là cần thiết, cần coi tài sản số là loại tài sản theo thông lệ quốc tế và nội luật hóa bằng các quy định đặc thù. Pháp luật cần được xây dựng theo hướng quy định về loại tài sản số, cơ sở phát hành, chủ thể kinh doanh cung cấp dịch vụ phát hành, hoán đổi tài sản số, các quy định về phòng ngừa tội phạm, các quy định về trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ và các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của người nắm giữ và giao dịch tài sản số.
Chiến lược ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng trước bối cảnh già hóa lực lượng lao động

Chiến lược ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng trước bối cảnh già hóa lực lượng lao động

Lực lượng lao động già hóa đặt ra những thách thức nội bộ đáng kể cho ngành Ngân hàng, từ nguy cơ mất kiến thức, khoảng cách kỹ năng, đến chi phí gia tăng và sự cần thiết phải thích ứng với công nghệ mới. Đồng thời, sự trỗi dậy của AI mang đến cả những thách thức mới lẫn những cơ hội to lớn để giải quyết các vấn đề này.
Kinh nghiệm số hóa hoạt động kho quỹ các ngân hàng trên thế giới và bài học cho ngân hàng Việt Nam

Kinh nghiệm số hóa hoạt động kho quỹ các ngân hàng trên thế giới và bài học cho ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, các ngân hàng hàng đầu thế giới đã và đang tiên phong trong ứng dụng công nghệ, đưa hoạt động nghiệp vụ kho quỹ lên môi trường số, đặc biệt là trong số hóa hoạt động nghiệp vụ kho quỹ, đáp ứng tiêu chuẩn, yêu cầu quản trị rủi ro kho quỹ hiện đại của ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý trong bối cảnh thị trường tài chính, ngân hàng thế giới ngày càng nhiều biến động, rủi ro.
Phát triển hệ sinh thái Fintech và ngân hàng mở ở Việt Nam hiện nay

Phát triển hệ sinh thái Fintech và ngân hàng mở ở Việt Nam hiện nay

Ngân hàng mở là một thuật ngữ chỉ việc ngân hàng có thể chia sẻ, trao đổi dữ liệu với bên cung cấp dịch vụ thứ ba (Third Party service Provider - TPP) thông qua các công nghệ giao diện lập trình ứng dụng (Application Programing Interface - API) một cách có kiểm soát trên cơ sở cho phép của khách hàng và theo quy định của pháp luật, từ đó giúp các đơn vị cung cấp dịch vụ hoặc Fintech có thể dễ dàng phát triển các ứng dụng và cung ứng dịch vụ cho khách hàng một cách thông suốt, tiện lợi.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Việt Nam: Cơ hội và thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Việt Nam: Cơ hội và thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích vai trò, cơ hội và rủi ro của trí tuệ nhân tạo trong đánh giá rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Thông qua tiếp cận định tính và tổng hợp lý luận từ các học thuyết ra quyết định, bài viết khẳng định rằng trí tuệ nhân tạo mang lại hiệu quả vượt trội trong nâng cao độ chính xác phân loại tín dụng, tối ưu hóa quy trình và mở rộng tài chính bao trùm. Tuy nhiên, đi kèm là những thách thức đáng kể về vấn đề pháp lý, rủi ro đạo đức và khả năng triển khai thực tế trong môi trường ngân hàng còn phân hóa về năng lực số.
Xem thêm
Chính thức bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng

Chính thức bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng

Ngày 26/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, trong đó có một số quy định đáng chú ý như: Bãi bỏ quy định nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp hạn mức hàng năm và Giấy phép từng lần cho doanh nghiệp, ngân hàng thương mại để xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng; việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…
Quản lý tín dụng bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Quản lý tín dụng bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, tín dụng bất động sản không chỉ đóng vai trò hỗ trợ hoạt động đầu tư, xây dựng, mà còn là công cụ tài chính quan trọng giúp triển khai các mục tiêu phát triển nhà ở, cải thiện chất lượng sống và cấu trúc đô thị.
Huy động vốn cho vay đối tượng yếu thế: Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở hoàn thiện pháp luật cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam

Huy động vốn cho vay đối tượng yếu thế: Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở hoàn thiện pháp luật cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam

Huy động vốn để thực hiện hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) là một nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm của tổ chức này. Đây là nguồn lực cơ bản, quyết định đến quy mô, hiệu quả và tính bền vững trong việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ, nhằm hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách và hộ gia đình khó khăn có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
Khai thác giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam trong kỷ nguyên số

Khai thác giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam trong kỷ nguyên số

Trước những cơ hội rộng mở nhưng cũng đầy thách thức trong kỷ nguyên số, việc khai thác tối đa giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam đòi hỏi những định hướng chiến lược và giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này không chỉ nhằm tháo gỡ những rào cản về pháp lý, hạ tầng, công nghệ và nhân lực, mà còn hướng tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm âm nhạc.
Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Thủ tướng: Có chính sách ưu tiên, nguồn lực ưu tiên, tín dụng ưu tiên với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Nhấn mạnh yêu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước, đặc biệt là tạo được phong trào, xu thế của người dân tự lực, tự cường thoát nghèo, làm giàu, Thủ tướng Phạm Minh Chính định hướng bố trí khoảng 160.000 tỉ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới.
Hệ thống tiền tệ quốc tế trong thế giới đang thay đổi

Hệ thống tiền tệ quốc tế trong thế giới đang thay đổi

Ngày 22/7/2025, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố Báo cáo về giám sát hệ thống tiền tệ quốc tế (IMS), đây là báo cáo định kỳ đầu tiên nhằm đánh giá xu hướng thay đổi liên quan đến hệ thống này. Theo đó, trong những thập niên gần đây, IMS vẫn ổn định về cơ bản và tập trung vào USD, mặc dù các động lượng đang thay đổi trên toàn cầu.
Rủi ro thanh khoản, hàm lượng vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại khu vực Đông Nam Á

Rủi ro thanh khoản, hàm lượng vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại khu vực Đông Nam Á

Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào nhóm 4 nước là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Campuchia. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy ngưỡng và dữ liệu bảng để tìm ra một ngưỡng tổng tài sản của các ngân hàng tại 4 quốc gia này, đánh giá việc các ngân hàng có mức tổng tài sản trên và dưới ngưỡng này tạo ra khả năng sinh lời dương hay âm. Nghiên cứu dựa trên 2 yếu tố chính để đánh giá đó chính là tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và tỉ lệ các khoản vay so với các khoản tiền gửi.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trước ngã rẽ quyết định về lãi suất

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trước ngã rẽ quyết định về lãi suất

Áp lực chính trị trong năm 2025 gia tăng đáng kể khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được kêu gọi hạ lãi suất nhanh và mạnh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh GDP có dấu hiệu chậm lại và thị trường lao động xuất hiện tín hiệu suy yếu.
Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Tháng 4/2025 chứng kiến cuộc khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng đối với đồng USD, bất chấp lợi suất trái phiếu Mỹ tăng. Bài viết phân tích những bất thường trên thị trường tài chính toàn cầu sau các biện pháp thuế quan gây tranh cãi của Mỹ, đồng thời chỉ ra nguyên nhân từ sự thay đổi cấu trúc tài chính, phi toàn cầu hóa và biến động địa chính trị. Nếu xu hướng này tiếp diễn, USD có nguy cơ mất dần vị thế, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính thế giới.
Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III  trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Hiệp ước vốn Basel III là khuôn khổ nâng cao với sự sửa đổi và củng cố cả ba trụ cột của Basel II, đây là công cụ hỗ trợ đắc lực để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Bài viết phân tích tình hình áp dụng các Hiệp ước vốn Basel của hệ thống ngân hàng trên thế giới, cùng với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam trong việc áp dụng Hiệp ước vốn Basel III, tác giả đưa ra một số đề xuất giải pháp chính sách cho hệ thống ngân hàng...

Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 10/2025/TT-NHNN quy định về tổ chức lại, thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 07/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2024/TT-NHNN ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 08/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2015/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về tổ chức và hoạt động của phòng giao dịch bưu điện trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt, Thông tư số 29/2024/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về quỹ tín dụng nhân dân và Thông tư số 32/2024/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ

Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng

Nghị định số 26/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 59/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 của 2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trong nước

Thông tư số 60/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về dịch vụ ngân quỹ cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 61/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về bảo lãnh ngân hàng

Thông tư số 62/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục chấp thuận việc tổ chức lại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng