Mobile-Money: Đạt mục tiêu tiếp cận khách hàng khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo

Công nghệ & ngân hàng số
Tính đến cuối tháng 9/2023, tổng số tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money) được đăng kí và sử dụng là hơn 5,6 triệu tài khoản, trong đó số lượng khách hàng đăng kí và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo chiếm khoảng 70%.
aa

Tính đến cuối tháng 9/2023, tổng số tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money) được đăng kí và sử dụng là hơn 5,6 triệu tài khoản, trong đó số lượng khách hàng đăng kí và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo chiếm khoảng 70%. Qua kết quả thực tế triển khai của 03 doanh nghiệp thực hiện thí điểm cho thấy, mục tiêu tiếp cận khách hàng tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam đã đạt được mục tiêu đặt ra.

Sử dụng dịch vụ Mobile-Money, người dân sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại,
nhất là đối tượng khách hàng ở vùng sâu, vùng xa (Nguồn ảnh: Internet)

Gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile-Money đến hết năm 2024

Ngày 18/11/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 192/NQ-CP về việc gia hạn thời gian thực hiện thí điểm Mobile-Money. Theo đó, ngày 18/11/2023, Thống đốc NHNN đã quyết định gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile-Money cho 03 doanh nghiệp: Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng Công ty Truyền thông (Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT-Media), Tổng Công ty Viễn thông (MobiFone) thực hiện thí điểm đến hết ngày 31/12/2024.

Ngày 09/3/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg về việc phê duyệt triển khai thí điểm Mobile-Money (Quyết định số 316/QĐ-TTg). Theo Quyết định này, thời gian thực hiện thí điểm Mobile-Money là 02 năm kể từ thời điểm doanh nghiệp đầu tiên thực hiện thí điểm được chấp thuận triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money. Kết quả thí điểm triển khai dịch vụ Mobile-Money sẽ là cơ sở thực tiễn để cơ quan quản lí có thẩm quyền xem xét, xây dựng và ban hành các quy định pháp lí chính thức cho hoạt động cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến ngày 01/9/2023, tổng số thuê bao điện thoại di động có phát sinh lưu lượng là trên 125,54 triệu, theo đó, khi triển khai dịch vụ Mobile-Money được kì vọng sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ về thanh toán các dịch vụ thiết yếu như điện, nước, y tế, giáo dục, dịch vụ công, đặc biệt tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đồng thời, triển khai dịch vụ Mobile-Money còn tận dụng được hạ tầng, dữ liệu, mạng lưới viễn thông, giảm các chi phí xã hội để phát triển, mở rộng kênh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) trên thiết bị di động, mang lại tiện ích cho người sử dụng. Qua đó, thúc đẩy TTKDTM và tài chính toàn diện tại Việt Nam.

Với Mobile-Money, chỉ cần có số điện thoại di động đã được xác thực thông tin người dùng, chủ thuê bao có thể thanh toán hầu hết các dịch vụ (tiền điện, tiền nước, viện phí, học phí...) có liên kết với nhà mạng mà không cần có tài khoản ngân hàng, không cần kết nối internet. Với dịch vụ này, người dân sẽ tiết kiệm được cả thời gian và chi phí đi lại, nhất là đối tượng khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, khi thực hiện thanh toán tiền điện, nước hoặc có thể chuyển tiền có giá trị nhỏ ở mọi lúc, mọi nơi.

Khi đăng kí sử dụng dịch vụ Mobile-Money, khách hàng cung cấp CMND/Căn cước công dân/Hộ chiếu trùng với thông tin đăng kí số thuê bao di động của khách hàng. Khách hàng cần có sim thuê bao di động được định danh, xác thực theo quy định của pháp luật về đăng kí thuê bao di động và số thuê bao di động của khách hàng phải có thời gian kích hoạt và sử dụng liên tục trong ít nhất 3 tháng liền kề tính đến thời điểm đăng kí mở và sử dụng dịch vụ Mobile-Money.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý mỗi khách hàng chỉ được mở 01 tài khoản Mobile-Money tại mỗi doanh nghiệp viễn thông. Quy định này nhằm hạn chế rủi ro trong giai đoạn thí điểm và phù hợp với giao dịch giá trị nhỏ, hạn mức giao dịch của Mobile-Money là 10 triệu đồng/tháng.

Theo Quyết định số 316/QĐ-TTg, khách hàng có thể sử dụng Mobile-Money để thực hiện nhiều giao dịch khác nhau như: Nạp, rút tiền, thanh toán việc mua hàng hóa, dịch vụ, chuyển tiền. Khách hàng có thể nạp, rút bằng tiền mặt tại các điểm kinh doanh, nạp/rút từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng hoặc từ Ví điện tử của khách hàng tại chính doanh nghiệp viễn thông thực hiện thí điểm. Sau khi mở tài khoản Mobile-Money, khách hàng có thể nhận tiền và chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng, ví điện tử hoặc tài khoản Mobile-Money khác. Khách hàng không được cho thuê, mượn, trao đổi, tặng, cho hoặc mua, bán tài khoản Mobile-Money để đảm bảo an toàn, bảo mật khi sử dụng dịch vụ.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến cuối tháng 9/2023, kết quả triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money do 03 doanh nghiệp thực hiện thí điểm cung ứng ra thị trường đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần vào phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), thúc đẩy chuyển đổi số, cụ thể: Tổng số tài khoản Mobile-Money được đăng kí và sử dụng là hơn 5,6 triệu tài khoản, trong đó số lượng khách hàng đăng kí và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là hơn 3,9 triệu khách hàng (chiếm khoảng 70% tổng số khách hàng đăng kí và sử dụng dịch vụ); gần 11,7 nghìn điểm kinh doanh được thiết lập, với hơn 195,8 nghìn đơn vị chấp nhận thanh toán; tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile-Money đạt hơn 47 triệu giao dịch, với tổng giá trị giao dịch gần 2,4 nghìn tỉ đồng. Nhìn chung, qua kết quả thực tế triển khai của 03 doanh nghiệp thực hiện thí điểm cho thấy, mục tiêu tiếp cận khách hàng tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam đã đạt được mục tiêu đặt ra.

Bên cạnh những thành quả đạt được, các doanh nghiệp viễn thông triển khai dịch vụ cũng gặp phải một số khó khăn do dịch vụ Mobile-Money là dịch vụ mới, lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam trên nền tảng công nghệ, có phạm vi áp dụng trên toàn quốc, có yêu cầu cao về an ninh, an toàn, bảo mật, nên các doanh nghiệp thực hiện thí điểm cần có thời gian để triển khai và mở rộng phát triển dịch vụ.

Ngoài ra, trong quá trình triển khai dịch vụ, các doanh nghiệp thực hiện thí điểm còn gặp một số khó khăn trong việc tiếp cận, phát triển khách hàng (chịu sự cạnh tranh từ các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới từ ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán), thời gian thí điểm ngắn, hạn mức giao dịch còn thấp, cần nhiều chi phí cho việc tuyên truyền, quảng bá lợi ích của dịch vụ nhằm thu hút và tạo thói quen cho khách hàng, đặc biệt là để tiếp cận đối tượng khách hàng tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Việc mở rộng thị trường, điểm kinh doanh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng gặp một số khó khăn, cần nhiều nguồn lực trong việc tiếp cận do khoảng cách địa lí. Số lượng doanh nghiệp tại các khu vực này còn hạn chế, tỉ lệ các doanh nghiệp phù hợp và đáp ứng các tiêu chí để trở thành điểm kinh doanh Mobile-Money còn thấp.

Về hoàn thiện khuôn khổ pháp lí, tại Nghị quyết số 192/NQ-CP, Chính phủ giao NHNN chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về dịch vụ Mobile-Money. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với dịch vụ Mobile-Money theo yêu cầu cũng có những khó khăn, thách thức do dịch vụ Mobile-Money là dịch vụ mới được triển khai thí điểm tại Việt Nam.

Đảm bảo an toàn, bảo mật và quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng trong sử dụng dịch vụ Mobile-Money

Trong thời gian vừa qua, xu hướng tội phạm công nghệ, tội phạm trên không gian mạng tấn công vào hoạt động thanh toán ngày càng gia tăng với nhiều cách thức, thủ đoạn tinh vi. Theo đó, các đối tượng chủ động lừa đảo, lấy cắp thông tin tài khoản của khách hàng (tên đăng nhập, mã xác thực…); hoặc mua, bán, thuê, mượn tài khoản thanh toán để thực hiện giao dịch cho mục đích bất hợp pháp. Để góp phần hạn chế tình trạng các đối tượng tội phạm lừa đảo khách hàng, lợi dụng dịch vụ thanh toán để sử dụng cho mục đích bất hợp pháp, cần thiết lập hạn mức giao dịch tối thiểu phải áp dụng giải pháp xác thực sinh trắc học để đảm bảo định danh chính chủ người sử dụng tài khoản thanh toán. Giải pháp xác thực sinh trắc học là công nghệ cho phép nhận diện và xác minh cá nhân thông qua các đặc điểm sinh trắc học như vân tay, mống mắt, giọng nói, hình ảnh khuôn mặt... Đây được xem là giải pháp có mức độ định danh chính chủ cao nhất và có tính bảo mật cao; hạn chế tối đa nguy cơ giả mạo, lừa đảo, gian lận khi sử dụng tài khoản thanh toán.

Hiện nay, NHNN đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch áp dụng giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng để cho phép các TCTD áp dụng xác thực sinh trắc học với giao dịch vượt hạn mức nhất định. NHNN đang nghiên cứu để đưa ra hạn mức áp dụng phù hợp, đảm bảo cân bằng giữa trải nghiệm khách hàng và phòng, chống gian lận.

Ngoài ra, trên cơ sở nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 192/NQ-CP, NHNN phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục theo dõi tình hình triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money của 03 tổ chức triển khai; đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về dịch vụ Mobile-Money.

Đối với vấn đề hạn mức giao dịch, theo quy định hiện hành, hạn mức giao dịch không quá 10 triệu đồng/tháng/tài khoản Mobile-Money cho tổng các giao dịch rút tiền, chuyển tiền và thanh toán. Trong thời gian tiếp tục thí điểm, các nhà mạng mong muốn Chính phủ và các bộ, ngành hữu quan nâng hạn mức này lên 100 triệu đồng/tháng - ngang bằng với hạn mức thanh toán của một tài khoản ví điện tử. Đồng thời, các nhà mạng mong cơ quan quản lí sớm cho phép các thuê bao Mobile-Money không bị giới hạn thời gian kích hoạt ít nhất 03 tháng.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, mục tiêu của Chính phủ là phát triển dịch vụ Mobile-Money nhằm tận dụng hạ tầng, dữ liệu, mạng lưới viễn thông để phát triển, mở rộng kênh TTKDTM tại vùng sâu, vùng xa, mang lại tiện ích cho người sử dụng. Theo đó, đối với các khoản thanh toán lớn hơn 10 triệu đồng/tháng, người dùng có thể sử dụng các kênh thanh toán khác như tài khoản ngân hàng với điều kiện chặt chẽ hơn.

Theo NHNN, Mobile-Money cũng là dịch vụ mới, triển khai trên nền tảng công nghệ, có phạm vi áp dụng trên toàn quốc, sẽ có số lượng người dùng lớn, yêu cầu cao về an ninh, an toàn bảo mật dịch vụ và dữ liệu người dùng. Hơn nữa, đây là hình thức TTKDTM, sử dụng công nghệ (điện thoại di động) rất thuận tiện cho người dân, nhưng cũng đòi hỏi phải hết sức an toàn, tránh bị lợi dụng. Khi triển khai thí điểm Mobile-Money, nguyên tắc quan trọng là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, nhất là vấn đề bảo mật, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính trong định danh điện tử, phòng chống rửa tiền… Mobile-Money hoạt động như dịch vụ tài chính thì các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định tại Quyết định số 316/QĐ-TTg.

Thời gian tới, các doanh nghiệp thực hiện thí điểm cũng cần tiếp tục tuân thủ đầy đủ các nội dung liên quan quy định về mục tiêu, phạm vi thực hiện thí điểm, nội dung thí điểm, tổ chức thực hiện, các hành vi bị cấm theo quy định tại Quyết định số 316/QĐ-TTg; phối hợp với các đơn vị liên quan, triển khai, thúc đẩy thanh toán dịch vụ công, các khoản trợ cấp Chính phủ qua dịch vụ Mobile-Money. Đồng thời, các doanh nghiệp viễn thông cần chú trọng xây dựng ứng dụng an toàn, thuận tiện, dễ sử dụng; xây dựng hệ thống các điểm kinh doanh trên toàn quốc, trong đó ưu tiên triển khai thí điểm tại các địa bàn thuộc khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Các đơn vị cung ứng hàng hóa/dịch vụ cần chấp nhận rộng rãi phương thức thanh toán này với các chi phí hợp lí.

Do đối tượng nhắm tới của Mobile-Money là người dân vùng sâu, vùng xa, nơi hiểu biết về công nghệ còn hạn chế, nên nguy cơ bị tội phạm công nghệ tấn công là rất lớn. Vì vậy, để Mobile-Money trở thành kênh toán toán phổ cập, giúp phủ sóng tài chính toàn diện khu vực nông thôn, các nhà mạng cũng cần tăng cường tuyên truyền cho người dân về an toàn, bảo mật.

Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông cần xem xét báo cáo Chính phủ để tiến tới cho phép các doanh nghiệp viễn thông được sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Bộ Công an.

Việc kết nối trực tiếp giúp cho doanh nghiệp xác thực và định danh khách hàng, theo đó, những thuê bao đã được doanh nghiệp viễn thông thực hiện đối chiếu và xác thực thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ được phép đăng kí tài khoản Mobile-Money; từ đó, sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục cung cấp dịch vụ Mobile-Money cho khách hàng, góp phần triển khai nhanh Mobile-Money, thúc đẩy TTKDTM.

Hiện nay, Bộ Công an đã nghiên cứu, triển khai các giải pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp, người dân nói chung và các nhà mạng, tổ chức cung cấp dịch vụ Mobile-Money nói riêng. Bộ Công an đã chủ trì làm việc cùng với các nhà mạng xây dựng quy trình, quy chế phối hợp để triển khai thực hiện kết nối để làm sạch thuê bao di động, giải quyết tình trạng sim rác trên nền tảng dữ liệu dân cư; cấp tài khoản Mobile-Money, cấp sim chính chủ gắn với việc cấp tài khoản định danh điện tử cho công dân.


Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ.
2. Nghị quyết số 192/NQ-CP ngày 18/11/2023 của Chính phủ về việc gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ.


Thanh Lan

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng