Kinh nghiệm phát hành tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc

Công nghệ & ngân hàng số
Tháng 8/2019, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) công bố tại Diễn đàn Tài chính 40 (China Finance 40 Forum) của Trung Quốc là chuẩn bị phát hành đồng tiền kỹ thuật số riêng (Central Bank Digital ...
aa

Tháng 8/2019, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) công bố tại Diễn đàn Tài chính 40 (China Finance 40 Forum) của Trung Quốc là chuẩn bị phát hành đồng tiền kỹ thuật số riêng (Central Bank Digital Curency -CBDC), tiến tới việc trở thành quốc gia phát hành đồng tiền kỹ thuật số riêng đầu tiên trên thế giới.

Bằng việc phát hành đồng tiền kỹ thuật số của riêng mình, PBoC có thể sử dụng đồng tiền để toàn cầu hóa đồng Nhân dân tệ, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tiếp tục diễn ra hiện nay. Ngoài ra, việc phát hành CBDC còn hướng đến mục tiêu tăng cường hiệu quả cho Chính sách tiền tệ trong khi vẽ lên bức tranh toàn cảnh về kinh tế số trên lãnh thổ Trung Quốc.

Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam có thể nghiên cứu về việc phát hành đồng tiền kỹ thuật số riêng quốc gia Trung quốc, từ đó rút ra giải pháp riêng cho mỗi quốc gia.

Tìm hiểu về CBDC

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), tiền kỹ thuật số bao gồm nhiều loại được thể hiện trong một biểu đồ gọi là “money flower”. Biểu đồ bao gồm 4 phân vùng có thể giao nhau, định nghĩa bản chất của đồng tiền (như tiền gửi, token kỹ thuật số và tiền mặt) dựa trên 4 trục. Việc phân chia biểu đồ được dựa trên 4 thuộc tính là nhà phát hành (Ngân hàng Trung ương hoặc các tổ chức khác); hình thái (kỹ thuật số hay vật lý); khả năng tiếp cận (rộng rãi hay hạn chế) và công nghệ (token hay account-based). Tiền mặt và nhiều đồng tiền kỹ thuật số thuộc về loại token-based [1] và số dư tài trong các tài khoản tại các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Trung ương là loại dựa trên tài khoản (account-based [2]).

Dựa trên định nghĩa của BIS, 3 phân vùng màu xám có thể được coi như tiền nằm trong định nghĩa của CBDC:

(i) Central Bank Accounts (General Purpose): Một hình thái phổ biến rộng rãi (wide accessible) của CBDC, trong đó mỗi tài khoản Ví của người dùng cuối được mở tại Ngân hàng Trung ương.

(ii) Central Bank Digital Tokens (General Purpose): Một hình thái phổ biến rộng rãi khác của CBDC, tuy nhiên loại hình này được phát hành dựa trên mô hình token-based hay còn gọi là tiền kỹ thuật số. Loại hình CBDC này có cách thức phân phối và thực thi giao dịch khác biệt so với mạng lưới ngân hàng truyền thống.

(iii) Central Bank Digital Tokes (Wholesale Only): Loại hình thứ ba này là loại tiền tệ kỹ thuật số được phát hành trong một phạm vi giới hạn với mục đích để thanh toán theo lô (ví dụ như dùng trong hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống quyết toán chứng khoán,…).

Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiền kỹ thuật số của PBoC - Di Gang đã tuyên bố, loại tiền kỹ thuật số đang được phát triển sẽ rơi vào loại 1 và 2 thuộc sơ đồ (Hình 1). Qua đó có thể nhận thấy, đồng CBDC của PBoC sẽ mang 2 tính chất quan trọng là được phát hành bởi Ngân hàng Trung ương và phát hành rộng rãi.

Cấu trúc vận hành

Để đảm bảo quyền lực phát hành tiền tệ và khả năng thi hành hiệu quả chính sách tiền tệ, CBDC sẽ chỉ được phát hành bởi Ngân hàng Trung ương, qua đó cho phép tính pháp lý của CBDC như một đồng tiền pháp định. Khác với Libra hay phần lớn các đồng tiền kỹ thuật số khác (được quản lý và vận hành bởi các cộng đồng phân tán), Ngân hàng Trung ương Trung Quốc có sự kiểm soát tuyệt đối đối với đồng tiền kỹ thuật số của mình. (Hình 2)

PBoC sẽ phê duyệt các yêu cầu về CBDC của các ngân hàng thương mại dựa trên khoản dự trữ bắt buộc. Mô hình phát hành CBDC tương đồng với mô hình cấp hạn mức trên các hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng, chỉ khác ở điểm thay vì là đồng tiền pháp định (legal tender), mô hình này cấp vốn dưới dạng tiền kỹ thuật số.

Đồng CBDC của Trung Quốc được dự đoán sẽ hoạt động với cấu trúc 2 cấp, bao gồm 2 lớp như sau:

- Lớp thứ nhất: Thể hiện sự tương tác trực tiếp giữa các ngân hàng thương mại và PBoC. PBoC sẽ chỉ phát hành CBDC thông qua các tổ chức này. Trước mắt, các tổ chức này bao gồm: China Construction Bank, The Industrial and Commercial Bank of China, The Bank of China, The Agricultural Bank of China và 3 công ty là Union Pay, Alibaba và Tencent.

- Lớp thứ hai: Thể hiện sự tương tác giữa các tổ chức trung gian và người dùng cuối (người dân và doanh nghiệp). Các tổ chức trung gian có trách nhiệm phân phối và đảm bảo lưu hành CBDC trong xã hội. Quy trình nộp và rút CBDC cũng sẽ tương tự như quy trình nộp, rút tiền của các ngân hàng thương mại. (Hình 3)


Bằng việc thực hiện cấu trúc 2 cấp như trên, PBoC sẽ đạt được mục tiêu thay thế tiền giấy mà không làm ảnh hưởng đến nghiệp vụ phát hành tiền tệ và hệ thống lưu hành tiền tệ hiện tại (cũng dựa trên cấu trúc 2 cấp - ngân hàng thương mại nhận vốn từ NHTW).

Các tính chất tài chính

1. Đồng CBDC với mục tiêu thay thế tiền mặt

Hiện nay có thể dự đoán PBoC đang đặt mục tiêu thay thế số cung tiền M0 (tổng lượng tiền mặt) bằng đồng CBDC với 3 ứng dụng (i) thanh toán bán lẻ; (ii) bù trừ liên ngân hàng và (iii) thanh toán xuyên biên giới (đồng CBDC có thể tăng cường tốc độ và giảm chi phí đáng kể cho các giao dịch thanh toán xuyên biên giới.

Ngoài ra, hệ thống CBDC có (i) chi phí vận hành thấp hơn nhiều so với hệ thống dựa trên tiền mặt (bao gồm các chi phí in, đúc tiền, vận hành, duy trì,..) và (ii) khả năng phòng chống rửa tiền và giảm thiểu hành vi vi phạm pháp luật tốt hơn do việc xác minh toàn bộ người dùng cuối và khả năng truy soát tất cả mọi giao dịch. Phó Vụ trưởng Vụ Thanh và Quyết toán của PBoC cũng đã nêu: “rủi ro của tiền mặt trong rửa tiền và các hoạt động phi pháp khác là cao”.

Tóm lại, PBoC coi thiết kế của đồng CBDC của Trung Quốc là một phiên bản nâng cấp của số cung tiền M0 với nhiều chức năng hơn và khả năng phòng chống rửa tiền, giao dịch bất hợp pháp tốt hơn.

2. Hệ thống dự trữ toàn bộ (full-reserve system)

Khác với mô hình “dự trữ một phần” trong hệ thống ngân hàng truyền thống, đồng CBDC của Trung Quốc sẽ yêu cầu các tổ chức tín dụng duy trì tỷ lệ dữ trự 100% (thông qua cơ chế chuyển đổi từ tiền pháp định sang CBDC như đã nêu ở mục trên). Do đó, đồng CBDC sẽ không có số nhân tiền mà chỉ đóng vai trò là trung gian giữa (i) PBoC và các ngân hàng thương mại; (ii) giữa các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, người dùng cuối.

Do đồng CBDC có mục tiêu là thay thế M0, đồng tiền này sẽ không bị phát hành quá mức (over-issued) mà chỉ được phát hành đúng theo quy trình phát hành tiền giấy với hệ thống ngân hàng thương mại phải duy trì giấy tờ có giá tại NHTW.

Do đó, các công cụ chính sách tiền tệ sẽ không bị tác động và đồng tiền kỹ thuật số này sẽ không có tác động xấu đến chính sách tiền tệ của PBoC. Thêm nữa, đồng CBDC còn làm tăng thêm sức ảnh hưởng của PBoC trên thị trường tài chính.

3. Tính chất mang lãi suất (interest-bearing)

Đồng CBDC sẽ không phát sinh bất kỳ khoản lãi nào của NHTW khi không nằm trong các tổ chức tín dụng. Bằng cách này, đồng CBDC không cạnh tranh với tiền gửi ngân hàng và sẽ không có tác động đến mặt này của nền kinh tế. Lý do cho việc này là tài sản có thanh khoản tốt nhất và rủi ro thấp nhất ngoài tiền mặt là tiền gửi ngân hàng, trường hợp NHTW chi trả lãi suất cho người nắm giữ CBDC thì sẽ gây nên các biến động phát sinh đối với thị trường tài chính (ví dụ như người dân không gửi tiền vào ngân hàng thương mại mà giữ trong Ví riêng) do CBDC có thanh khoản tốt hơn tiền gửi ngân hàng.

Mô hình kỹ thuật

Nội dung này thu thập từ các đề xuất thiết kế ban đầu cùng tài liệu nghiên cứu của PBoC và một số viện nghiên cứu độc lập khác.

a. Cơ chế ẩn danh có kiểm soát (Manageable anonymity mechanism)

Đồng CBDC của Trung Quốc sẽ được thiết kế cho phép chuyển tiền trực tiếp giữa hai đối tác mà không cần tài khoản ngân hàng (khác so với các hệ thống thanh toán và chuyển khoản truyền thống tài các quốc gia khác).

Mục tiêu cuối cùng của CBDC là thay thế giao dịch của tiền mặt trong khi vẫn giữ tính chất “ẩn danh có kiểm soát”. Cụ thể là tại lớp thứ 1 của mạng lưới CBDC, các tổ chức tín dụng cần phải đăng ký quản lý trong khi các giao dịch tại lớp thứ 2 sẽ có thể ẩn danh dưới góc nhìn của người sử dụng. Quan chức của PBoC tin rằng việc này sẽ có lợi cho việc lưu hành và giao dịch quốc tế của đồng Nhân dân tệ.

b. Ứng dụng thuật toán mã hóa

Trong báo cáo nghiên cứu Viện nghiên cứu tiền tệ kỹ thuật số của PBoC năm 2018, đồng CBDC của Trung Quốc sẽ được lưu trữ trong các ví kỹ thuật số dưới dạng sổ cái phân tán và được phê duyệt bởi các thuật toán mã hóa và đồng thuận (consensus).

Mô hình được đề xuất của đồng CBDC được thể hiện theo:

EXPCBDC=Sign(Crypto(ATTR))

ATTR ∈ {id,value,owner,issuer, ExtSet}.

EXPCBDC là biểu thức mã hóa của CBDC.

ATTR thể hiện bộ thuộc tính trong biểu thức, bao gồm id của người sử dụng, value = giá trị số tiền, owner = thông tin chủ sở hữu, issuer = thông tin của nhà phát hành, ExtSet = thuộc tính phụ (có khả năng mở rộng).

Crypto là hàm mã hóa của bộ thuộc tính.

Sign là hàm ký.

Quy trình cơ bản là mã hóa thông tin metadata, sau đó thực hiện ký điện tử và xuất ra chuỗi mã hóa đầu ra của đồng CBDC.

Liên quan đến Ví kỹ thuật số của đồng CBDC, hiện tại chưa có thông tin nào liên quan đến vận hành của Ví. Tuy nhiên có thể dự đoán được là Ví của đồng CBDC có thể sẽ được sử dụng trên các thiết bị di động, máy tính hay thẻ vật lý.

c. Chưa có lộ trình kỹ thuật cụ thể, blockchain sẽ là một trong những phương án

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán và Quyết toán của PBoC, lớp thứ nhất của mạng lưới sẽ được vận hành trên mạng lưới với công nghệ sổ cái phân tán. Tuy nhiên, chưa rõ lớp thứ hai sẽ được xây dựng trên nền tảng blockchain hay không. Do nhiệm vụ vận hành lớp thứ hai được giao cho các tổ chức tín dụng, có khả năng đồng CBDC của Trung Quốc có thể được chạy trên nhiều mạng lưới cùng một lúc.

Mục tiêu của mạng lưới 2 lớp hỗ trợ cho nền tảng CBDC là đạt được tốc độ xử lý ít nhất 300.000 giao dịch mỗi giây. Hiện tại, chưa có hệ thống blockchain đã hoạt động thực tế nào đạt được yêu cầu xử lý như trên. Tuy nhiên, tốc độ xử lý này có thể đạt được với cơ chế “chuyển tiếp ngoài chuỗi, hạch toán trên chuỗi” (cơ chế luân chuyển tin điện giữa các node bằng một hệ thống khác song song với blockchain, sau đó các node đẩy hạch toán lên chain).

d. Khả năng tích hợp Hợp đồng thông minh

PBoC tiết lộ rằng đồng CBDC của mình có thể được vận hành với hợp đồng thông minh, nhưng sẽ không áp dụng các hợp đồng mà cung cấp các chức năng vượt quá “các yêu cầu cơ bản về tiền tệ” (basic monetary requirements). Điều này có thể do các lo ngại rằng, các chức năng vượt quá sẽ thêm các giá trị bổ sung cho đồng CBDC và làm biển đổi tính chất đồng CBDC thành một loại chứng khoán hay giấy tờ có giá, từ đó làm giảm tính ổn định và thanh khoản của nó.


Tuy nhiên, định nghĩa về “các yêu cầu cơ bản về tiền tệ” chưa được ban hành. Trong nghiên cứu năm 2017 của Yao Qian (cựu giám đốc của Viện nghiên cứu tiền kỹ thuật số của PBoC) đã nêu: “tiền kỹ thuật số của NHTW phải có khả năng lập trình và mở rộng”. Thêm nữa, nếu đồng tiền kỹ thuật số được tích hợp thêm hợp đồng thông minh giúp cho việc thanh toán tự động và tin cậy hơn, thì điều này sẽ định hướng rõ ràng cho việc phát triển một đồng tiền kỹ thuật số pháp định.

e. Cách tiếp cận “một đồng tiền, hai trung tâm lưu ký và ba trung tâm”

Trong nghiên cứu năm 2018 của mình, Yao Qian mô tả rằng tiền kỹ thuật số của NHTW sẽ được xây dựng theo cách tiếp cận “một đồng tiền, hai trung tâm lưu ký và ba trung tâm”, cơ chế tiếp cận này có thể được giải thích như sau:

(i) “Một đồng tiền”: Là đồng CBDC của Trung Quốc.

(ii) “Hai trung tâm lưu ký”: Là cơ sở dữ liệu phát hành của Ngân hàng Trung ương và cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thương mại, bao gồm cả các Ví kỹ thuật số được sử dụng bởi các cá nhân và doanh nghiệp.

(iii) “Ba trung tâm”: Là ba trung tâm phê duyệt, đăng ký và phân tích dữ liệu lớn:

- Trung tâm phê duyệt: PBoC sẽ xây dựng một trung tâm quản lý thông tin tổ chức tín dụng và người dùng cuối [3]. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu của hệ thống, PBoC có thể sẽ chỉ phê duyệt và vận hành thông tin của các tổ chức tín dụng. Trong tương lại, việc phê duyệt người dùng cuối có thể được xây dựng dựa trên các công nghệ như IBC (identification-based cryptography).

- Trung tâm đăng ký: Ghi nhận thông tin định danh của mỗi đơn vị đồng CBDC và người sở hữu tương ứng; hoàn thiện đăng ký CBDC đối với các nghiệp vụ: phát hành, chuyển khoản và mua lại.

- Trung tâm phân tích dữ liệu lớn: hoạt động với mục tiêu phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, phân tích hành vi thanh toán, theo dõi thời gian thực các chỉ số quản lý,… (Hình 4)

f. Bảo mật và riêng tư

Ba trung tâm được thiết kế để đảm bảo các giao dịch CBDC của Trung Quốc được ẩn danh đối với góc nhìn của người sử dụng, trong khi vẫn phòng chống được rửa tiền, tài trợ khủng bố và trốn thuế. Các tổ chức tín dụng tài lớp thứ 2 sẽ có khả năng đóng băng ngay lập tức bất kỳ đồng CBDC hay tài khoản nào nếu liên quan đến các giao dịch đáng ngờ trên mạng lưới.

Theo phiên bản năm 2018 của Yao Qian, trong biểu thức của đồng CBDC chứa User Id và thông tin về chủ sở hữu, theo mô tả này thì mỗi khi phát sinh một giao dịch CBDC, hệ thống sẽ sinh ra một chuỗi CBDC mới chứa thông tin định danh của chủ sở hữu mới.

Kể cả khi giao dịch được ẩn danh ở mức người dùng cuối, nhà quản trị vẫn có thể truy xuất ra toàn bộ lịch sử giao dịch của mỗi đồng CBDC đơn lẻ.

Lợi ích đồng tiền kỹ thuật số riêng của một quốc gia đem lại

Theo nghiên cứu về đồng CBDC của Trung Quốc, đồng tiền pháp định kỹ thuật số được phát hành bởi một quốc gia đảm bảo 1:1 bởi dữ trữ của các ngân hàng thương mại, nó hướng đến mục tiêu thay thế cung tiền M0 thông qua việc số hóa tiền mặt. Một số tính năng chủ yếu của đồng tiền phát hành riêng của quốc gia này này là khả năng ẩn danh, mã hóa và khả năng chuyển tiền không cần thông qua tài khoản ngân hàng (nhưng vẫn cần KYC).

Theo góc nhìn của PBoC, đồng tiền kỹ thuật số này sẽ đem lại các lợi ích như:

(i) Khả năng tính toán chính xác hơn các chỉ tiêu như tỷ lệ lạm phát và các tiêu chí kinh tế vĩ mô khác.

(iii) Tăng khả năng thu thập dữ liệu thời gian thực như việc phát hành, ghi sổ và lưu hành của tiền, góp phần làm tăng sức mạnh cho các công cụ chính sách tiền tệ và hỗ trợ nhà hoạch định chính sách.

(iii) Nâng cao khả năng phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và trốn thuế thông qua hoạt động của Trung tâm dữ liệu lớn.

(iv) Giảm bớt việc cung cấp thông tin, báo cáo giữa các tổ chức tín dụng và nhà quản lý (do các thông tin đã được minh bạch và các hệ thống được tích hợp).

Về tổng thể, đồng tiền riêng của mỗi quốc gia sẽ có khả năng thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả hơn và nắm quyền kiểm soát tốt hơn trên toàn bộ nền kinh tế số. Tuy nhiên, báo cáo này mới chỉ nằm ở mức độ khái quát, còn rất nhiều vấn đề cần tìm hiểu sâu hơn như việc quản lý và vận hành các giao dịch xuyên biên giới.

[1]. Mô hình tiền tệ hay các hệ thống thanh toán token-based dựa vào các bên tham gia để xác thực tính hợp lệ của giao dịch thanh toán hay chuyển tiền. Mô hình này thường được xây dựng kèm với công nghệ Sổ cái phân tán (DLT) hoặc/ và Chuỗi khối (Blockchain).

[2].Trong các mô hình dựa trên tài khoản, danh tính của mỗi người chủ sở hữu tài khoản được xác minh bởi các tổ chức tín dụng.

[3]. Các ngân hàng thương mại sẽ là đơn vị ghi nhận thông tin của người dùng cuối. Tuy nhiên theo Fan Yifei (Phó Thống đốc PBoC) tuyên bố rằng cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Trung Ương cũng sẽ lưu trữ toàn bộ thông tin của người sử dụng. Để giảm thiểu áp lực cho các hệ thống của Ngân hàng thương mại, việc đồng bộ dữ liệu có thể được thực hiện theo cơ chế bất đồng bộ (asynchronous).

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Central bank digital currencies, BIS, Tháng 3/2018.

- https://www.chainnews.com/articles/176343895374.htm.

- https://www.chainnews.com/articles/761536251153.htm.

- https://www.chainnews.com/articles/761536251153.htm.

ThS. Trần Linh

Nguồn: Chuyên đề THNH số 7/2019

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Khung pháp lý về quản trị dữ liệu cá nhân trong ngân hàng: Giải pháp quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi khách hàng

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn quản trị dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở tham chiếu đến Quy định chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng đối với quá trình xử lý dữ liệu cá nhân nói chung trong lĩnh vực ngân hàng.
Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý tài sản mã hóa của Thái Lan, qua đó gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt và quản lý thuế thương mại điện tử tại Việt Nam: Khung phân tích và hàm ý chính sách

Bài viết xây dựng khung phân tích tích hợp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, từ đó đề xuất các trụ cột chính sách về dữ liệu số và cải cách thể chế nhằm hiện đại hóa hệ thống thuế trong kỷ nguyên kinh tế nền tảng.
Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Ứng dụng học tập liên kết trong chấm điểm tín dụng và an ninh tài chính tại Việt Nam

Bài viết phân tích giải pháp Học tập liên kết như một hạ tầng công nghệ thiết yếu giúp ngành Ngân hàng tối ưu hóa việc chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận, đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

Những xu hướng tái định hình ngành công nghiệp an ninh mạng toàn cầu

An ninh mạng toàn cầu đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách và mang tính chiến lược hàng đầu đối với mọi quốc gia, tổ chức và cá nhân. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối Internet đã mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các mối đe dọa tinh vi và khó lường trong không gian mạng. Các cuộc tấn công mạng không còn chỉ nhằm vào dữ liệu cá nhân mà đã mở rộng sang hạ tầng trọng yếu, hệ thống tài chính và cả an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao nhận thức và đầu tư vào các giải pháp bảo mật hiện đại trở thành yếu tố then chốt để đảm bảo một môi trường số an toàn, bền vững.
Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Nhận tài sản số để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và rủi ro đặc thù khi nhận tài sản số làm tài sản bảo đảm, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị giúp tổ chức tín dụng an toàn trong việc cấp tín dụng và thu hồi nợ.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo tác nhân khi ra quyết định tài chính trong ngân hàng hiện đại

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo tác nhân (Agentic AI) như một thế hệ trí tuệ nhân tạo tự chủ trong nâng cao chất lượng ra quyết định tài chính, với ba ứng dụng trọng tâm gồm lập hồ sơ rủi ro khách hàng, phê duyệt khoản vay dự đoán và quản lý kho quỹ tự động, qua đó mở ra tiềm năng chuyển đổi sâu sắc hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành