Hoàn thiện pháp lý và chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật: Tạo nền tảng thúc đẩy số hóa ngân hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Với những giải pháp và nỗ lực của cả hệ thống, chuyển đổi số ngân hàng đã gặt hái nhiều “trái ngọt”. Tuy nhiên, còn nhiều thách thức cản trở quá trình số hóa ngân hàng.
aa

Với những giải pháp và nỗ lực của cả hệ thống, chuyển đổi số ngân hàng đã gặt hái nhiều “trái ngọt”. Tuy nhiên, còn nhiều thách thức cản trở quá trình số hóa ngân hàng. Thời gian tới, để đạt các mục tiêu của chuyển đổi số, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục phối hợp các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm sự đồng bộ, phù hợp của các quy định pháp lý hiện hành cũng như bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, ở tầm vĩ mô, Việt Nam cần tiến tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật chuẩn hóa tạo thuận lợi cho kết nối liên thông, tích hợp liền mạch giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác để hình thành hệ sinh thái số.



Ảnh minh họa, nguồn Internet


Tại Việt Nam, chuyển đổi số được xem là một trong những trụ cột chính trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 của Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trong đó, chuyển đổi số ngành tài chính, ngân hàng và chuyển đổi số ngành nông nghiệp được xác định là hai trong tám lĩnh vực cần ưu tiên theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, NHNN đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021). Sau 3 năm triển khai Quyết định số 810/QĐ-NHNN, hoạt động chuyển số ngành Ngân hàng đã đạt được những thành quả đáng khích lệ, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

Chuyển đổi số ngân hàng góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia

Thời gian qua, về khuôn khổ pháp lý, NHNN đã nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung trình ban hành và ban hành các quy định nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số ngân hàng như: Xây dựng, tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an... trong xây dựng Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước...; trình Chính phủ ban hành Nghị định về Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng và tham gia ý kiến xây dựng Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định về định danh và xác thực điện tử... Đồng thời, NHNN đã ban hành các thông tư hướng dẫn: Hướng dẫn mở và sử dụng tài khoản (Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán), về hoạt động thẻ ngân hàng (Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024), hoạt động đại lý ngân hàng, quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia, cung ứng dịch vụ TTKDTM, hoạt động trung gian thanh toán (TGTT), giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT. NHNN cũng ban hành quy định các giải pháp bảo đảm an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng (Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023); ban hành Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán Việt Nam đến năm 2030 góp phần định hướng phát triển thanh toán số tại Việt Nam.

Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Theo NHNN, hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn, bình quân xử lý giao dịch thanh toán nội tệ hơn 830 nghìn tỉ đồng/ngày. Hệ thống chuyển mạch tài chính, bù trừ điện tử có khả năng xử lý giao dịch thanh toán tức thời, vận hành liên tục 24 giờ x 7 ngày trong suốt năm, bình quân xử lý từ 20 - 25 triệu giao dịch/ngày. Đến hết quý III/2024, toàn thị trường có hơn 21.000 ATM và 671.000 POS; mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Việt Nam đã hoàn tất kết nối hệ thống thanh toán xuyên biên giới qua QR Code với Thái Lan, Campuchia, Lào (đang tiếp tục triển khai với Hàn Quốc, Nhật Bản), cho phép khách hàng thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại nước ngoài thông qua QR Code ngay trên ứng dụng di động (Mobile App) của ngân hàng Việt Nam và ngược lại.

Bên cạnh đó, NHNN quyết liệt trong triển khai thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Ngày 24/4/2023, NHNN đã phối hợp Bộ Công an ký kết Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN (Kế hoạch 01) về triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06. Từ đó đến nay, ngành Ngân hàng đã rất tích cực và nỗ lực để triển khai các nhiệm vụ đặt ra tại Kế hoạch 01, đặc biệt là đối với những nhiệm vụ liên quan đến việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) làm sạch dữ liệu khách hàng và các hoạt động nghiệp vụ của ngành Ngân hàng; ứng dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp và ứng dụng tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID) để xác minh khách hàng khi cung ứng dịch vụ, qua đó góp phần tăng cường an ninh, an toàn trong quá trình phổ cập thanh toán số.

NHNN đã liên tục chỉ đạo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, TGTT nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu về dân cư, CCCD gắn chíp, tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID) để làm sạch dữ liệu, nhận biết, xác minh chính xác khách hàng nhằm phòng chống, ngăn ngừa việc tội phạm mạo danh, sử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích bất hợp pháp; đồng thời nghiên cứu ứng dụng dữ liệu dân cư trong triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thuận tiện, an toàn nhất đến với người dân, khách hàng. Đến nay, đã có: (i) 54 TCTD đã phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp phép để triển khai thực tế ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 47 TCTD và 31 TGTT đã phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp phép để triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua ứng dụng Mobile App; (ii) 29 TCTD và 13 TGTT đang triển khai ứng dụng VNeID cho 3 luồng quy trình nghiệp vụ chính, gồm: Mở tài khoản thanh toán; xác thực giao dịch thanh toán; đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng. Bên cạnh đó, các TCTD cũng đang tích cực nghiên cứu, tích hợp kỹ thuật để triển khai các nội dung nhiệm vụ khác như chấm điểm tín dụng, kết nối luồng liên kết tài khoản an sinh xã hội với tài khoản ngân hàng phục vụ cho chi trả an sinh xã hội, trong đó nhiều đơn vị đã triển khai thực tế đem đến nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp, hỗ trợ công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng.

Công tác bảo đảm an ninh, an toàn luôn được chú trọng. NHNN thường xuyên chỉ đạo toàn Ngành về việc bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán, ban hành các văn bản chỉ đạo về bảo đảm an ninh an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng, đồng thời ban hành các văn bản thông báo, cảnh báo, phòng ngừa, phát hiện các hành vi, thủ đoạn gian lận trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng. NHNN cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan triển khai các biện pháp trong bảo đảm an ninh an toàn hoạt động ngân hàng, tăng cường truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người dân trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính - ngân hàng trên nền tảng số.

Với những giải pháp và nỗ lực của cả hệ thống, chuyển đổi số ngân hàng đã gặt hái nhiều “trái ngọt”. Trong bảng xếp hạng Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số (DTI) do Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, NHNN liên tiếp được xếp thứ hạng cao, nằm trong tốp đầu về chỉ số DTI, chỉ số thể chế số, chỉ số an toàn thông tin mạng. Nhiều ngân hàng Việt Nam chuyển đổi số ở tốp đầu hiện đã đạt 90% giao dịch khách hàng thực hiện trên kênh số. Đến nay, hơn 87% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản thanh toán tại TCTD, tốc độ tăng trưởng thanh toán qua di động hằng năm đạt trên 90% trong 6 năm gần đây.

Các TCTD, TGTT đã chủ động đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu, sẵn sàng triển khai các hoạt động chuyển đổi số trong toàn đơn vị. Các TCTD tập trung chuyển đổi số các hoạt động kinh doanh truyền thống cùng với việc có thêm nhiều kênh tương tác đã đem lại các sản phẩm, dịch vụ mới, tiện ích và hoàn toàn khác biệt so với trước đây như: Phát triển tính năng nộp/rút tiền trên máy giao dịch tự động; nộp/rút tiền mặt bằng CCCD gắn chíp; giải ngân trực tuyến dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; thanh toán quốc tế trực tuyến ngay tại đầu khách hàng; mở thẻ tín dụng qua tương tác giao dịch với rô-bốt, thanh toán chạm bằng điện thoại thông minh (Tap to pay), thanh toán phi tiếp xúc, thanh toán bằng giọng nói, khuôn mặt... Nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thân thiện, giàu tiện ích, đem lại giá trị thiết thực đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100% (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, mở thẻ ngân hàng, ví điện tử, chuyển tiền, cho vay...). Nhiều TCTD tại Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số.

Số liệu hoạt động thanh toán trong 8 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm 2023 cho thấy: Giao dịch TTKDTM tăng 59,05% về số lượng và 33,64% về giá trị, qua kênh Internet tăng 50,85% về số lượng và 33,15% về giá trị, qua kênh điện thoại di động tăng 58,95% về số lượng và 36,60% về giá trị, qua QR Code tăng 109,03% về số lượng và 111,37% về giá trị. Giao dịch qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 6,46% về số lượng và tăng 30,51% về giá trị; qua Hệ thống bù trừ, chuyển mạch giao dịch tài chính tăng 34,03% về số lượng và 18,49% về giá trị.

Hóa giải những thách thức để chuyển đổi số ngân hàng bứt tốc

Mặc dù đạt nhiều thành tựu, đưa lại nhiều tiện ích và gia tăng trải nghiệm cho khách hàng, đồng thời đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy kinh tế số, xã hội số nhưng ngành Ngân hàng cũng đối mặt nhiều khó khăn, thách thức.

Trước hết, về mặt pháp lý, đến nay, Việt Nam vẫn chưa bảo đảm sự đồng bộ và phù hợp của các quy định pháp lý hiện hành liên quan về giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, định danh và xác thực điện tử, cơ chế kết nối chia sẻ dữ liệu gắn bảo vệ dữ liệu cá nhân... với thực tiễn ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng. Nhiều quy định pháp luật còn chưa rõ, chưa đồng bộ gây khó khăn, bất cập cho quá trình chuyển đổi số.

Bên cạnh đó là thách thức về sự đồng bộ và chuẩn hóa các cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo thuận lợi cho kết nối liên thông, tích hợp liền mạch giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác để hình thành hệ sinh thái số, cung ứng dịch vụ đa tiện ích cho khách hàng. Chưa kể, công nghệ ứng dụng trong ngân hàng số thường có tốc độ phát triển nhanh và dễ dàng thay thế bằng các công nghệ mới. Chi phí đầu tư công nghệ lớn đến từ việc các ngân hàng thường xuyên cải tiến, bảo trì và nâng cấp hệ thống để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngoài ra là những hạn chế về cơ sở dữ liệu, chia sẻ thông tin. Cụ thể, để tạo ra một hệ sinh thái thì việc chia sẻ dữ liệu sẽ cần ở mức sâu, rộng hơn và số hóa. Với hoạt động ngân hàng mở (Open Banking) là giải pháp cho vấn đề này và là nền tảng để tạo ra các hệ sinh thái. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có quy định pháp luật đầy đủ về Open Banking như tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật, các loại dữ liệu được chia sẻ, các bên được quyền tiếp cận, quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… Điều này khiến các ngân hàng Việt Nam chưa thể hình thành được một hệ sinh thái đúng nghĩa. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng là yêu cầu bắt buộc để tạo ra một hệ sinh thái. Tuy vậy, điều này vẫn là một hạn chế lớn đối với các ngân hàng tại Việt Nam, kể cả các ngân hàng lớn, khi mà dữ liệu còn rời rạc, chưa được cập nhật, chuẩn hóa và số hóa.

Đặc biệt, công nghệ càng phát triển thì tội phạm công nghệ cao lại gia tăng cùng với đó là việc bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật dữ liệu khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số một cách thuận tiện, an toàn. Bởi lẽ, rủi ro về bảo mật gia tăng làm ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng và được xem là một trong những nhân tố chính cản trở sự phát triển các phương tiện giao dịch điện tử tại Việt Nam.

Thêm nữa là hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phân tích dữ liệu còn thiếu và yếu; nhiều nhân sự am hiểu về tài chính, ngân hàng thì chưa thực sự am hiểu về công nghệ và ngược lại.

Để quá trình số hóa ngân hàng đạt những mục tiêu đề ra, trong thời gian tới, NHNN cần tiếp tục triển khai một số nội dung:

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện thể chế, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi, ban hành các văn bản pháp luật thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng, trong đó bao gồm nội dung hoàn thiện, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các giải pháp công nghệ, dữ liệu trong hoạt động ngân hàng.

Thứ hai, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an triển khai có hiệu quả Đề án 06 của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ ba, đẩy mạnh nâng cấp, phát triển hạ tầng công nghệ, bảo đảm an ninh an toàn, bảo mật thông tin trong quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Đồng thời nâng cao năng lực thanh tra giám sát, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ tài chính, đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin bảo đảm an toàn, bảo mật. Cùng với đó đưa vào áp dụng khung đánh giá rủi ro công nghệ thông tin theo thông lệ quốc tế để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tuân thủ các quy định về an toàn bảo mật tại các TCTD, tổ chức TGTT.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực cho chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ đổi mới sáng tạo cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ tiện ích, chi phí hợp lý cho người dân và doanh nghiệp.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục tài chính cho người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ ngân hàng trên kênh số một cách an toàn, hiệu quả.

Đối với các TCTD, cần tiếp tục tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng; triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; sắp xếp, bố trí nguồn lực hợp lý cho hoạt động chuyển đổi số và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu để cung ứng sản phẩm, dịch vụ tiện ích tới người dân, doanh nghiệp; đa dạng hóa các hình thức truyền thông nhằm nâng cao kỹ năng cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng.

Theo đó, cần nghiên cứu, khảo sát hành vi, thói quen tiêu dùng, từ đó xây dựng các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với đại đa số người dân; nâng cấp hạ tầng thanh toán khu vực nông thôn, bảo đảm thanh toán hiện đại và sẵn sàng kết nối liên thông với các hệ thống thanh toán khác; tăng cường truyền thông về tính ưu việt, tiện lợi khi sử dụng ứng dụng ngân hàng, tài chính số để người dân vùng nông thôn yên tâm sử dụng. Bên cạnh đó, tập trung triển khai các giải pháp để phát triển các đại lý thanh toán tại vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ cho người dân không chỉ trong việc giao dịch điện tử hoàn toàn qua hệ thống công nghệ hiện đại mà vẫn có các điểm tiếp xúc trực tiếp để có thể thực hiện rút tiền hoặc cung ứng các dịch vụ khác.

Về phía các bộ, ngành: Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sớm cho triển khai áp dụng hệ thống tài khoản quốc tế, kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế… Đây cũng là nền tảng pháp lý quan trọng cho triển khai, áp dụng công nghệ ngân hàng số rộng rãi, hiệu quả, hội nhập quốc tế, nhất là tham gia thương mại quốc tế và thực hiện các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã ký với các quốc gia và tổ chức quốc tế.

Các bộ, ngành liên quan (Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, NHNN) phối hợp nghiên cứu sớm ban hành khung pháp lý quản lý tiền kỹ thuật số, tiền ảo, bởi đây là xu thế tất yếu trong kỷ nguyên số.

Bộ Công an tiếp tục phối hợp NHNN để phát hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai các nhiệm vụ của Kế hoạch 01 và Đề án 06. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng Công an và ngành Ngân hàng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trọng tâm là phối hợp bảo đảm an ninh an toàn hệ thống thông tin ngân hàng và các TCTD, bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về triển khai giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.
3. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).


Hà Anh

NHNN
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Áp dụng mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình tài chính nhúng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, làm rõ các động lực công nghệ, thể chế, đánh giá kết quả bước đầu, chỉ ra rủi ro tiềm ẩn và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm phát triển tài chính nhúng theo hướng đổi mới sáng tạo có kiểm soát, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Xem thêm
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng