Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Hoạt động ngân hàng
Những năm qua, tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực - đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số, vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.
aa

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những giải pháp quan trọng trong xây dựng kinh tế số, xã hội số, góp phần thực hiện mục tiêu Chuyển đổi số quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng, đây cũng là một trong những nhiệm vụ, giải pháp hướng đến mục tiêu Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong thời gian qua, hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy hình thức thanh toán này. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh ở khu vực thành thị, trong khi tại nông thôn, đặc biệt là vùng biên giới, dù đã có những chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc. Riêng tại tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực, những năm qua, đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số. Vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.

Những kết quả tích cực trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn được chú trọng. Xác định tuyên truyền là bước đầu tiên, quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh nói chung và đặc biệt là khu vực nông thôn nói riêng. Tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, chuyển biến trong suy nghĩ và dẫn đến thay đổi thói quen và cách thức ứng xử của người dân, hướng đến mục đích tuyên truyền, vận động. Trên cơ sở nhiệm vụ Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp giao tại Kế hoạch phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đã thành lập Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số; thành lập nhóm zalo từng huyện, thành phố trong tỉnh để kết nối, chia sẻ thông tin và có những chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời về thanh toán không dùng tiền mặt. Kết quả từ năm 2022 đến đầu năm 2025, Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương, UBND các xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức 34 cuộc triển khai, tuyên truyền về thanh toán không dùng tiền mặt với gần 2.000 người dân, cán bộ tại cơ sở tham dự. Nội dung tuyên truyền tập trung vào những tiện ích khi thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân, xã hội; cách thức thanh toán không dùng tiền mặt, cảnh báo, lưu ý trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bảo đảm an toàn, bảo mật… Qua triển khai, chính quyền các cấp, người dân địa phương dần thay đổi nhận thức, thói quen trong các giao dịch thanh toán hằng ngày.

Ngoài ra, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp thường xuyên phối hợp Đài Truyền hình Đồng Tháp thực hiện phóng sự truyền thông về hiệu quả của thanh toán không dùng tiền mặt, nhất là đối với khu vực nông thôn; cộng tác với các cơ quan truyền thông (Báo Đồng Tháp, Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp…) và trực tiếp đăng tin trên Trang thông tin điện tử NHNN Chi nhánh Đồng Tháp. Qua đó, người dân được tiếp cận đầy đủ về tiện ích, giá trị, phương thức sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm tính an toàn, bảo mật, cũng như kết quả triển khai trên địa bàn.

Có thể thấy, nhờ việc tuyên truyền qua nhiều kênh và hình thức đa dạng, nhận thức của người dân về thanh toán không dùng tiền mặt đã có những chuyển biến tích cực. Nếu như cuối năm 2022, khái niệm này còn khá mới mẻ và xa lạ thì đến đầu năm 2025, người dân đã từng bước quen thuộc và bắt đầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong các giao dịch hằng ngày.

Nhiều mô hình thanh toán không dùng tiền mặt đã được triển khai rộng rãi trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, nhận được sự hưởng ứng tích cực từ người dân như: Tuyến đường không dùng tiền mặt (24 tuyến), căn-tin không dùng tiền mặt, thu học phí không dùng tiền mặt (61 điểm), chợ không dùng tiền mặt (21 điểm) và thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa không dùng tiền mặt…

Hai là, cơ sở hạ tầng góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn từng bước hoàn thiện. Mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông và Internet. Hiện tại, toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông với 100% khóm, ấp được phủ sóng di động 3G, 4G nhờ hơn 4.350 trạm phát sóng, bảo đảm không còn vùng lõm sóng và có đường truyền Internet cáp quang ổn định.

Về mạng lưới tổ chức tín dụng, đến đầu năm 2025, Đồng Tháp có 31 chi nhánh ngân hàng cấp tỉnh, 11 chi nhánh ngân hàng cấp huyện, 96 phòng giao dịch trực thuộc, 17 quỹ tín dụng nhân dân và 2 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô. Đến ngày 31/12/2024, mạng lưới máy giao dịch tự động toàn tỉnh gồm 214 máy, bao gồm 193 ATM, 3 STM, 8 CDM, 2 Onebank, 7 CRM và 1 SMB, đã được đăng ký hoạt động. Bên cạnh đó, 825 POS của 18 chi nhánh ngân hàng thương mại đã được kết nối, bảo đảm hoạt động an toàn, thông suốt và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán của người dân.

Với mạng lưới tổ chức tín dụng trải rộng khắp các huyện, thành phố cùng hệ thống ATM và POS ngày càng được mở rộng, người dân không chỉ được đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, mà còn được hỗ trợ tận tình trong việc hướng dẫn, cung ứng dịch vụ và giải đáp các thắc mắc trong quá trình sử dụng.

Ba là, việc tiếp cận, sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực. Qua cuộc khảo sát thực tế trên 1.000 mẫu đối với 30% cơ sở sản xuất, kinh doanh và 70% người dân tại địa bàn các xã, phường, thị trấn tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến cuối tháng 7/2024 (thời điểm ghi nhận kết quả khảo sát), tình hình mở tài khoản tương đối khả quan, đạt 72,86% tổng số cá nhân được khảo sát. Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra đối với toàn tỉnh đến năm 2025 tại Kế hoạch số 166/KH-UBND ngày 10/5/2022 của UBND tỉnh Đồng Tháp về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025 là: “Từ 80% người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác”. Do đó, tỉ lệ này dù tương đối khả quan, song dư địa để các tổ chức tín dụng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu triển khai các giải pháp đẩy mạnh mở tài khoản cho người dân trên địa bàn nông thôn, hướng dẫn người dân sử dụng vẫn còn, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn mạnh mẽ và toàn diện hơn.

Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)
Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)

Một số khó khăn trong việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt đang được phát triển và cải thiện nhưng vẫn còn một số yếu tố cần được nâng cao. So với khu vực thành thị, khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế thấp hơn, mức sống của người dân còn gặp khó khăn, dẫn đến việc trang bị và sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chưa phổ biến. Mặc dù mạng lưới tổ chức tín dụng đã được mở rộng, nhưng các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cửa hàng tại khu vực nông thôn vẫn chưa trang bị đầy đủ thiết bị chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt, gây trở ngại trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ này.

Thứ hai, tâm lý e ngại và thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn phổ biến ở người dân khu vực nông thôn. Qua thực tế triển khai và khảo sát về thanh toán không dùng tiền mặt tại các địa phương trong tỉnh, nhóm đối tượng sử dụng thường xuyên các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu là công chức, viên chức và người trẻ tuổi. Tuy nhiên, phần lớn người dân, đặc biệt là những người làm nghề buôn bán nhỏ, kinh doanh tự do, lao động nông thôn... vẫn duy trì thói quen sử dụng tiền mặt.

Đối với người lớn tuổi, khả năng ứng dụng và thao tác trên các chương trình, ứng dụng di động còn hạn chế, làm giảm nhu cầu tham gia thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này cũng khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc triển khai, tuyên truyền và vận động.

Thứ ba, công tác theo dõi, chỉ đạo triển khai công tác thanh toán không dùng tiền mặt một số địa phương còn hạn chế. Mặc dù Kế hoạch thanh toán không dùng tiền mặt được UBND tỉnh Đồng Tháp đã quy định cụ thể trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại địa bàn mình quản lý, tuy nhiên, công tác phối hợp triển khai thanh toán không dùng tiền mặt của một số địa phương vẫn còn chậm.

Thứ tư, tình trạng tội phạm công nghệ cao, đặc biệt là các vụ chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngày càng xảy ra nhiều hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tội phạm công nghệ cao cũng không ngừng biến tướng, xuất hiện dưới nhiều hình thức tinh vi hơn. Các chiêu trò lừa đảo phổ biến bao gồm giả danh cơ quan chức năng như cảnh sát điều tra, bưu điện, cơ quan thuế hoặc nhân viên ngân hàng để yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, số tài khoản, mã PIN, mã OTP. Một số đối tượng thậm chí sử dụng công nghệ AI để giả mạo giọng nói hoặc hình ảnh của người thân, bạn bè nhằm lừa đảo chuyển tiền.

Mặc dù các cơ quan chức năng và tổ chức tín dụng đã thường xuyên truyền thông, cảnh báo người dân nâng cao cảnh giác, nhưng không ít người vẫn cảm thấy lo ngại. Tâm lý e dè, thiếu niềm tin, và nỗi sợ mất tiền đã khiến một bộ phận người dân hạn chế, thậm chí né tránh sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, làm cản trở quá trình phổ biến và áp dụng phương thức thanh toán này trong xã hội.

Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

Một là, triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách hiện hành liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trên cơ sở rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng cho các tổ chức, cá nhân trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và các bên liên quan khi tham gia thanh toán không dùng tiền mặt, là cơ sở thiết yếu để duy trì và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt bền vững trong tương lai.

Hai là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về thanh toán không dùng tiền mặt đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn. Đây là giải pháp để tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp chính quyền, từ lãnh đạo, công chức đến cán bộ cơ sở và quan trọng nhất là người dân cư trú trên địa bàn nông thôn. Thực tế ghi nhận, nơi nào chính quyền địa phương quan tâm, xem công tác thanh toán không dùng tiền mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thì địa phương đó người dân tiếp cận thông tin nhanh và sử dụng thành thạo các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Người dân nông thôn với đặc điểm chung là thói quen sử dụng những gì thuộc về truyền thống, việc thay đổi suy nghĩ, tiến tới hành động theo một phương thức mới là thách thức đặt ra trong quá trình triển khai. Do đó, công tác tuyên truyền, vận động phải thường xuyên, liên tục, có sự đồng hành của chính quyền địa phương với ngành Ngân hàng để tuyên truyền sâu rộng mục đích, vai trò cũng như cách thức tiếp cận, sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt và những giải pháp để sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt một cách an toàn, hiệu quả nhất.

Bên cạnh đó, tuyên truyền, vận động tạo ra sự quyết tâm cao của các cấp, các ngành và của mỗi cơ sở, mỗi người dân, trong đó, lãnh đạo chính quyền là đối tượng tiên phong, gương mẫu, nòng cốt trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt, hướng đến mục tiêu mỗi cán bộ, mỗi người dân là một tuyên truyền viên hiệu quả nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt.

Ba là, duy trì, phát triển và nâng cấp thường xuyên cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Địa bàn nông thôn Đồng Tháp đã từng bước phát triển, mạng lưới tổ chức tín dụng ngày càng mở rộng, dịch vụ tài chính ngân hàng, mạng lưới các máy giao dịch tự động từng bước được trang bị, thiết lập; mạng phát sóng wifi, 3G, 4G và phương tiện, thiết bị thông minh được các cấp chính quyền phối hợp với nhà cung cấp quan tâm trang bị cho người dân. Vấn đề đặt ra là bảo đảm sự đồng bộ, bao phủ và duy trì, nâng cấp thường xuyên các cơ sở hạ tầng này, đảm bảo cho quá trình cài đặt, sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được an toàn, thông suốt, không gây phiền hà cho người dân, để người dân nhận thấy được sự nhanh chóng, tiện ích và ưu việt hơn so với phương thức thanh toán truyền thống.

Bốn là, rà soát, điều chỉnh phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với các đối tượng khách hàng. Người dân trên địa bàn nông thôn, đặc biệt là một số đối tượng như người có công, người hưởng các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn nông thôn có nguồn thu nhập hạn chế, nên việc cân nhắc chi phí là một trong những vấn đề quan tâm khi người dân lựa chọn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói riêng và các dịch vụ cho đời sống khác nói chung. Chính vì thế, việc nghiên cứu, điều chỉnh mức phí phù hợp cho đối tượng tại khu vực này là cần thiết, vừa thể hiện sự chia sẻ của hệ thống ngân hàng với người dân trong việc thực hiện chủ trương chung của cả nước, vừa là cách để các tổ chức tín dụng phát triển khách hàng tại đơn vị.

Năm là, chính quyền thường xuyên quan tâm, theo dõi, giám sát, đôn đốc việc triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Chính quyền địa phương, từ tỉnh đến huyện, thành phố đến cấp cơ sở phải luôn quan tâm, chỉ đạo, phân công lãnh đạo phụ trách mảng nhiệm vụ này để theo dõi, giám sát và đôn đốc trong quá trình thực hiện để đảm bảo các giải pháp đã xây dựng được triển khai đồng bộ, hướng đến mục tiêu từng huyện, thành phố và cơ sở đã đặt ra trong thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chung của tỉnh.

Sáu là, cần có sự phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thanh toán không dùng tiền mặt. Thực tiễn chứng minh, triển khai thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ có những thuận lợi và trong quá trình đó, có những khó khăn, hạn chế nhất định như đã phân tích. Từng khó khăn, vướng mắc đòi hỏi sự phối hợp, trao đổi và thống nhất giải quyết của các cấp, các ngành và địa phương có liên quan một cách cụ thể để công tác triển khai đảm bảo xuyên suốt, không gián đoạn.

Có thể nói, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội trong nước và thế giới, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong giai đoạn hiện nay đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Điều này được minh chứng qua sự phát triển đáng kể của cơ sở hạ tầng, cơ sở pháp lý và nhận thức, thói quen của người dân trong việc sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại. Xu thế chuyển đổi số đã thúc đẩy chính quyền địa phương cùng các bộ, ngành nỗ lực tạo ra những tiện ích tốt nhất cho người dân và xã hội.

Tuy nhiên, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Để đạt được mục tiêu đồng bộ trong thanh toán không dùng tiền mặt ở địa phương, cả nước và xa hơn là tiến tới tài chính toàn diện quốc gia, việc chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại nông thôn chính là bài toán cần được giải quyết triệt để. Điều này đòi hỏi sự triển khai đồng bộ các giải pháp theo từng nhóm, dựa trên trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và từng cá nhân. Hướng tới xây dựng hình ảnh một vùng nông thôn văn minh, hiện đại - nơi không chỉ hấp dẫn bởi điều kiện tự nhiên và môi trường sống, mà còn là nơi người dân có thể trải nghiệm, sử dụng đầy đủ các dịch vụ tài chính và sản phẩm, dịch vụ khác một cách bình đẳng, hiệu quả và an toàn thông qua thanh toán không dùng tiền mặt. Đây sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội hiện đại, bền vững và đáng sống.

Vương Trí Phong
Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp

Tin bài khác

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam