Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Hoạt động ngân hàng
Những năm qua, tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực - đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số, vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.
aa

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những giải pháp quan trọng trong xây dựng kinh tế số, xã hội số, góp phần thực hiện mục tiêu Chuyển đổi số quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng, đây cũng là một trong những nhiệm vụ, giải pháp hướng đến mục tiêu Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong thời gian qua, hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy hình thức thanh toán này. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh ở khu vực thành thị, trong khi tại nông thôn, đặc biệt là vùng biên giới, dù đã có những chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc. Riêng tại tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực, những năm qua, đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số. Vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.

Những kết quả tích cực trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn được chú trọng. Xác định tuyên truyền là bước đầu tiên, quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh nói chung và đặc biệt là khu vực nông thôn nói riêng. Tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, chuyển biến trong suy nghĩ và dẫn đến thay đổi thói quen và cách thức ứng xử của người dân, hướng đến mục đích tuyên truyền, vận động. Trên cơ sở nhiệm vụ Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp giao tại Kế hoạch phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đã thành lập Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số; thành lập nhóm zalo từng huyện, thành phố trong tỉnh để kết nối, chia sẻ thông tin và có những chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời về thanh toán không dùng tiền mặt. Kết quả từ năm 2022 đến đầu năm 2025, Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương, UBND các xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức 34 cuộc triển khai, tuyên truyền về thanh toán không dùng tiền mặt với gần 2.000 người dân, cán bộ tại cơ sở tham dự. Nội dung tuyên truyền tập trung vào những tiện ích khi thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân, xã hội; cách thức thanh toán không dùng tiền mặt, cảnh báo, lưu ý trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bảo đảm an toàn, bảo mật… Qua triển khai, chính quyền các cấp, người dân địa phương dần thay đổi nhận thức, thói quen trong các giao dịch thanh toán hằng ngày.

Ngoài ra, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp thường xuyên phối hợp Đài Truyền hình Đồng Tháp thực hiện phóng sự truyền thông về hiệu quả của thanh toán không dùng tiền mặt, nhất là đối với khu vực nông thôn; cộng tác với các cơ quan truyền thông (Báo Đồng Tháp, Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp…) và trực tiếp đăng tin trên Trang thông tin điện tử NHNN Chi nhánh Đồng Tháp. Qua đó, người dân được tiếp cận đầy đủ về tiện ích, giá trị, phương thức sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm tính an toàn, bảo mật, cũng như kết quả triển khai trên địa bàn.

Có thể thấy, nhờ việc tuyên truyền qua nhiều kênh và hình thức đa dạng, nhận thức của người dân về thanh toán không dùng tiền mặt đã có những chuyển biến tích cực. Nếu như cuối năm 2022, khái niệm này còn khá mới mẻ và xa lạ thì đến đầu năm 2025, người dân đã từng bước quen thuộc và bắt đầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong các giao dịch hằng ngày.

Nhiều mô hình thanh toán không dùng tiền mặt đã được triển khai rộng rãi trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, nhận được sự hưởng ứng tích cực từ người dân như: Tuyến đường không dùng tiền mặt (24 tuyến), căn-tin không dùng tiền mặt, thu học phí không dùng tiền mặt (61 điểm), chợ không dùng tiền mặt (21 điểm) và thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa không dùng tiền mặt…

Hai là, cơ sở hạ tầng góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn từng bước hoàn thiện. Mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông và Internet. Hiện tại, toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông với 100% khóm, ấp được phủ sóng di động 3G, 4G nhờ hơn 4.350 trạm phát sóng, bảo đảm không còn vùng lõm sóng và có đường truyền Internet cáp quang ổn định.

Về mạng lưới tổ chức tín dụng, đến đầu năm 2025, Đồng Tháp có 31 chi nhánh ngân hàng cấp tỉnh, 11 chi nhánh ngân hàng cấp huyện, 96 phòng giao dịch trực thuộc, 17 quỹ tín dụng nhân dân và 2 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô. Đến ngày 31/12/2024, mạng lưới máy giao dịch tự động toàn tỉnh gồm 214 máy, bao gồm 193 ATM, 3 STM, 8 CDM, 2 Onebank, 7 CRM và 1 SMB, đã được đăng ký hoạt động. Bên cạnh đó, 825 POS của 18 chi nhánh ngân hàng thương mại đã được kết nối, bảo đảm hoạt động an toàn, thông suốt và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán của người dân.

Với mạng lưới tổ chức tín dụng trải rộng khắp các huyện, thành phố cùng hệ thống ATM và POS ngày càng được mở rộng, người dân không chỉ được đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, mà còn được hỗ trợ tận tình trong việc hướng dẫn, cung ứng dịch vụ và giải đáp các thắc mắc trong quá trình sử dụng.

Ba là, việc tiếp cận, sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực. Qua cuộc khảo sát thực tế trên 1.000 mẫu đối với 30% cơ sở sản xuất, kinh doanh và 70% người dân tại địa bàn các xã, phường, thị trấn tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến cuối tháng 7/2024 (thời điểm ghi nhận kết quả khảo sát), tình hình mở tài khoản tương đối khả quan, đạt 72,86% tổng số cá nhân được khảo sát. Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra đối với toàn tỉnh đến năm 2025 tại Kế hoạch số 166/KH-UBND ngày 10/5/2022 của UBND tỉnh Đồng Tháp về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025 là: “Từ 80% người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác”. Do đó, tỉ lệ này dù tương đối khả quan, song dư địa để các tổ chức tín dụng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu triển khai các giải pháp đẩy mạnh mở tài khoản cho người dân trên địa bàn nông thôn, hướng dẫn người dân sử dụng vẫn còn, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn mạnh mẽ và toàn diện hơn.

Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)
Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)

Một số khó khăn trong việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt đang được phát triển và cải thiện nhưng vẫn còn một số yếu tố cần được nâng cao. So với khu vực thành thị, khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế thấp hơn, mức sống của người dân còn gặp khó khăn, dẫn đến việc trang bị và sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chưa phổ biến. Mặc dù mạng lưới tổ chức tín dụng đã được mở rộng, nhưng các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cửa hàng tại khu vực nông thôn vẫn chưa trang bị đầy đủ thiết bị chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt, gây trở ngại trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ này.

Thứ hai, tâm lý e ngại và thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn phổ biến ở người dân khu vực nông thôn. Qua thực tế triển khai và khảo sát về thanh toán không dùng tiền mặt tại các địa phương trong tỉnh, nhóm đối tượng sử dụng thường xuyên các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu là công chức, viên chức và người trẻ tuổi. Tuy nhiên, phần lớn người dân, đặc biệt là những người làm nghề buôn bán nhỏ, kinh doanh tự do, lao động nông thôn... vẫn duy trì thói quen sử dụng tiền mặt.

Đối với người lớn tuổi, khả năng ứng dụng và thao tác trên các chương trình, ứng dụng di động còn hạn chế, làm giảm nhu cầu tham gia thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này cũng khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc triển khai, tuyên truyền và vận động.

Thứ ba, công tác theo dõi, chỉ đạo triển khai công tác thanh toán không dùng tiền mặt một số địa phương còn hạn chế. Mặc dù Kế hoạch thanh toán không dùng tiền mặt được UBND tỉnh Đồng Tháp đã quy định cụ thể trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại địa bàn mình quản lý, tuy nhiên, công tác phối hợp triển khai thanh toán không dùng tiền mặt của một số địa phương vẫn còn chậm.

Thứ tư, tình trạng tội phạm công nghệ cao, đặc biệt là các vụ chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngày càng xảy ra nhiều hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tội phạm công nghệ cao cũng không ngừng biến tướng, xuất hiện dưới nhiều hình thức tinh vi hơn. Các chiêu trò lừa đảo phổ biến bao gồm giả danh cơ quan chức năng như cảnh sát điều tra, bưu điện, cơ quan thuế hoặc nhân viên ngân hàng để yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, số tài khoản, mã PIN, mã OTP. Một số đối tượng thậm chí sử dụng công nghệ AI để giả mạo giọng nói hoặc hình ảnh của người thân, bạn bè nhằm lừa đảo chuyển tiền.

Mặc dù các cơ quan chức năng và tổ chức tín dụng đã thường xuyên truyền thông, cảnh báo người dân nâng cao cảnh giác, nhưng không ít người vẫn cảm thấy lo ngại. Tâm lý e dè, thiếu niềm tin, và nỗi sợ mất tiền đã khiến một bộ phận người dân hạn chế, thậm chí né tránh sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, làm cản trở quá trình phổ biến và áp dụng phương thức thanh toán này trong xã hội.

Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

Một là, triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách hiện hành liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trên cơ sở rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng cho các tổ chức, cá nhân trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và các bên liên quan khi tham gia thanh toán không dùng tiền mặt, là cơ sở thiết yếu để duy trì và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt bền vững trong tương lai.

Hai là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về thanh toán không dùng tiền mặt đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn. Đây là giải pháp để tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp chính quyền, từ lãnh đạo, công chức đến cán bộ cơ sở và quan trọng nhất là người dân cư trú trên địa bàn nông thôn. Thực tế ghi nhận, nơi nào chính quyền địa phương quan tâm, xem công tác thanh toán không dùng tiền mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thì địa phương đó người dân tiếp cận thông tin nhanh và sử dụng thành thạo các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Người dân nông thôn với đặc điểm chung là thói quen sử dụng những gì thuộc về truyền thống, việc thay đổi suy nghĩ, tiến tới hành động theo một phương thức mới là thách thức đặt ra trong quá trình triển khai. Do đó, công tác tuyên truyền, vận động phải thường xuyên, liên tục, có sự đồng hành của chính quyền địa phương với ngành Ngân hàng để tuyên truyền sâu rộng mục đích, vai trò cũng như cách thức tiếp cận, sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt và những giải pháp để sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt một cách an toàn, hiệu quả nhất.

Bên cạnh đó, tuyên truyền, vận động tạo ra sự quyết tâm cao của các cấp, các ngành và của mỗi cơ sở, mỗi người dân, trong đó, lãnh đạo chính quyền là đối tượng tiên phong, gương mẫu, nòng cốt trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt, hướng đến mục tiêu mỗi cán bộ, mỗi người dân là một tuyên truyền viên hiệu quả nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt.

Ba là, duy trì, phát triển và nâng cấp thường xuyên cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Địa bàn nông thôn Đồng Tháp đã từng bước phát triển, mạng lưới tổ chức tín dụng ngày càng mở rộng, dịch vụ tài chính ngân hàng, mạng lưới các máy giao dịch tự động từng bước được trang bị, thiết lập; mạng phát sóng wifi, 3G, 4G và phương tiện, thiết bị thông minh được các cấp chính quyền phối hợp với nhà cung cấp quan tâm trang bị cho người dân. Vấn đề đặt ra là bảo đảm sự đồng bộ, bao phủ và duy trì, nâng cấp thường xuyên các cơ sở hạ tầng này, đảm bảo cho quá trình cài đặt, sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được an toàn, thông suốt, không gây phiền hà cho người dân, để người dân nhận thấy được sự nhanh chóng, tiện ích và ưu việt hơn so với phương thức thanh toán truyền thống.

Bốn là, rà soát, điều chỉnh phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với các đối tượng khách hàng. Người dân trên địa bàn nông thôn, đặc biệt là một số đối tượng như người có công, người hưởng các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn nông thôn có nguồn thu nhập hạn chế, nên việc cân nhắc chi phí là một trong những vấn đề quan tâm khi người dân lựa chọn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói riêng và các dịch vụ cho đời sống khác nói chung. Chính vì thế, việc nghiên cứu, điều chỉnh mức phí phù hợp cho đối tượng tại khu vực này là cần thiết, vừa thể hiện sự chia sẻ của hệ thống ngân hàng với người dân trong việc thực hiện chủ trương chung của cả nước, vừa là cách để các tổ chức tín dụng phát triển khách hàng tại đơn vị.

Năm là, chính quyền thường xuyên quan tâm, theo dõi, giám sát, đôn đốc việc triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Chính quyền địa phương, từ tỉnh đến huyện, thành phố đến cấp cơ sở phải luôn quan tâm, chỉ đạo, phân công lãnh đạo phụ trách mảng nhiệm vụ này để theo dõi, giám sát và đôn đốc trong quá trình thực hiện để đảm bảo các giải pháp đã xây dựng được triển khai đồng bộ, hướng đến mục tiêu từng huyện, thành phố và cơ sở đã đặt ra trong thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chung của tỉnh.

Sáu là, cần có sự phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thanh toán không dùng tiền mặt. Thực tiễn chứng minh, triển khai thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ có những thuận lợi và trong quá trình đó, có những khó khăn, hạn chế nhất định như đã phân tích. Từng khó khăn, vướng mắc đòi hỏi sự phối hợp, trao đổi và thống nhất giải quyết của các cấp, các ngành và địa phương có liên quan một cách cụ thể để công tác triển khai đảm bảo xuyên suốt, không gián đoạn.

Có thể nói, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội trong nước và thế giới, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong giai đoạn hiện nay đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Điều này được minh chứng qua sự phát triển đáng kể của cơ sở hạ tầng, cơ sở pháp lý và nhận thức, thói quen của người dân trong việc sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại. Xu thế chuyển đổi số đã thúc đẩy chính quyền địa phương cùng các bộ, ngành nỗ lực tạo ra những tiện ích tốt nhất cho người dân và xã hội.

Tuy nhiên, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Để đạt được mục tiêu đồng bộ trong thanh toán không dùng tiền mặt ở địa phương, cả nước và xa hơn là tiến tới tài chính toàn diện quốc gia, việc chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại nông thôn chính là bài toán cần được giải quyết triệt để. Điều này đòi hỏi sự triển khai đồng bộ các giải pháp theo từng nhóm, dựa trên trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và từng cá nhân. Hướng tới xây dựng hình ảnh một vùng nông thôn văn minh, hiện đại - nơi không chỉ hấp dẫn bởi điều kiện tự nhiên và môi trường sống, mà còn là nơi người dân có thể trải nghiệm, sử dụng đầy đủ các dịch vụ tài chính và sản phẩm, dịch vụ khác một cách bình đẳng, hiệu quả và an toàn thông qua thanh toán không dùng tiền mặt. Đây sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội hiện đại, bền vững và đáng sống.

Vương Trí Phong
Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy