Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Hoạt động ngân hàng
Những năm qua, tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực - đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số, vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.
aa

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những giải pháp quan trọng trong xây dựng kinh tế số, xã hội số, góp phần thực hiện mục tiêu Chuyển đổi số quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng, đây cũng là một trong những nhiệm vụ, giải pháp hướng đến mục tiêu Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong thời gian qua, hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy hình thức thanh toán này. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh ở khu vực thành thị, trong khi tại nông thôn, đặc biệt là vùng biên giới, dù đã có những chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc. Riêng tại tỉnh Đồng Tháp - địa phương với kinh tế nông nghiệp là chủ lực, những năm qua, đã tích cực triển khai công cuộc chuyển đổi số. Vì vậy, việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn không chỉ khắc phục những hạn chế hiện tại, mà còn là yếu tố quan trọng để tỉnh thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi số, góp phần xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.

Những kết quả tích cực trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn được chú trọng. Xác định tuyên truyền là bước đầu tiên, quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh nói chung và đặc biệt là khu vực nông thôn nói riêng. Tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, chuyển biến trong suy nghĩ và dẫn đến thay đổi thói quen và cách thức ứng xử của người dân, hướng đến mục đích tuyên truyền, vận động. Trên cơ sở nhiệm vụ Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp giao tại Kế hoạch phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đã thành lập Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số; thành lập nhóm zalo từng huyện, thành phố trong tỉnh để kết nối, chia sẻ thông tin và có những chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời về thanh toán không dùng tiền mặt. Kết quả từ năm 2022 đến đầu năm 2025, Tổ Thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương, UBND các xã, phường, thị trấn trong tỉnh tổ chức 34 cuộc triển khai, tuyên truyền về thanh toán không dùng tiền mặt với gần 2.000 người dân, cán bộ tại cơ sở tham dự. Nội dung tuyên truyền tập trung vào những tiện ích khi thanh toán không dùng tiền mặt đối với người dân, xã hội; cách thức thanh toán không dùng tiền mặt, cảnh báo, lưu ý trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bảo đảm an toàn, bảo mật… Qua triển khai, chính quyền các cấp, người dân địa phương dần thay đổi nhận thức, thói quen trong các giao dịch thanh toán hằng ngày.

Ngoài ra, NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp thường xuyên phối hợp Đài Truyền hình Đồng Tháp thực hiện phóng sự truyền thông về hiệu quả của thanh toán không dùng tiền mặt, nhất là đối với khu vực nông thôn; cộng tác với các cơ quan truyền thông (Báo Đồng Tháp, Cổng thông tin điện tử Đồng Tháp…) và trực tiếp đăng tin trên Trang thông tin điện tử NHNN Chi nhánh Đồng Tháp. Qua đó, người dân được tiếp cận đầy đủ về tiện ích, giá trị, phương thức sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm tính an toàn, bảo mật, cũng như kết quả triển khai trên địa bàn.

Có thể thấy, nhờ việc tuyên truyền qua nhiều kênh và hình thức đa dạng, nhận thức của người dân về thanh toán không dùng tiền mặt đã có những chuyển biến tích cực. Nếu như cuối năm 2022, khái niệm này còn khá mới mẻ và xa lạ thì đến đầu năm 2025, người dân đã từng bước quen thuộc và bắt đầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong các giao dịch hằng ngày.

Nhiều mô hình thanh toán không dùng tiền mặt đã được triển khai rộng rãi trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, nhận được sự hưởng ứng tích cực từ người dân như: Tuyến đường không dùng tiền mặt (24 tuyến), căn-tin không dùng tiền mặt, thu học phí không dùng tiền mặt (61 điểm), chợ không dùng tiền mặt (21 điểm) và thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa không dùng tiền mặt…

Hai là, cơ sở hạ tầng góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn từng bước hoàn thiện. Mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông và Internet. Hiện tại, toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông với 100% khóm, ấp được phủ sóng di động 3G, 4G nhờ hơn 4.350 trạm phát sóng, bảo đảm không còn vùng lõm sóng và có đường truyền Internet cáp quang ổn định.

Về mạng lưới tổ chức tín dụng, đến đầu năm 2025, Đồng Tháp có 31 chi nhánh ngân hàng cấp tỉnh, 11 chi nhánh ngân hàng cấp huyện, 96 phòng giao dịch trực thuộc, 17 quỹ tín dụng nhân dân và 2 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô. Đến ngày 31/12/2024, mạng lưới máy giao dịch tự động toàn tỉnh gồm 214 máy, bao gồm 193 ATM, 3 STM, 8 CDM, 2 Onebank, 7 CRM và 1 SMB, đã được đăng ký hoạt động. Bên cạnh đó, 825 POS của 18 chi nhánh ngân hàng thương mại đã được kết nối, bảo đảm hoạt động an toàn, thông suốt và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán của người dân.

Với mạng lưới tổ chức tín dụng trải rộng khắp các huyện, thành phố cùng hệ thống ATM và POS ngày càng được mở rộng, người dân không chỉ được đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, mà còn được hỗ trợ tận tình trong việc hướng dẫn, cung ứng dịch vụ và giải đáp các thắc mắc trong quá trình sử dụng.

Ba là, việc tiếp cận, sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực. Qua cuộc khảo sát thực tế trên 1.000 mẫu đối với 30% cơ sở sản xuất, kinh doanh và 70% người dân tại địa bàn các xã, phường, thị trấn tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến cuối tháng 7/2024 (thời điểm ghi nhận kết quả khảo sát), tình hình mở tài khoản tương đối khả quan, đạt 72,86% tổng số cá nhân được khảo sát. Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra đối với toàn tỉnh đến năm 2025 tại Kế hoạch số 166/KH-UBND ngày 10/5/2022 của UBND tỉnh Đồng Tháp về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2022 - 2025 là: “Từ 80% người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác”. Do đó, tỉ lệ này dù tương đối khả quan, song dư địa để các tổ chức tín dụng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu triển khai các giải pháp đẩy mạnh mở tài khoản cho người dân trên địa bàn nông thôn, hướng dẫn người dân sử dụng vẫn còn, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn mạnh mẽ và toàn diện hơn.

Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)
Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở nông thôn Đồng Tháp là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của tỉnh. (Nguồn ảnh: Internet)

Một số khó khăn trong việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt đang được phát triển và cải thiện nhưng vẫn còn một số yếu tố cần được nâng cao. So với khu vực thành thị, khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế thấp hơn, mức sống của người dân còn gặp khó khăn, dẫn đến việc trang bị và sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chưa phổ biến. Mặc dù mạng lưới tổ chức tín dụng đã được mở rộng, nhưng các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cửa hàng tại khu vực nông thôn vẫn chưa trang bị đầy đủ thiết bị chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt, gây trở ngại trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ này.

Thứ hai, tâm lý e ngại và thói quen sử dụng tiền mặt vẫn còn phổ biến ở người dân khu vực nông thôn. Qua thực tế triển khai và khảo sát về thanh toán không dùng tiền mặt tại các địa phương trong tỉnh, nhóm đối tượng sử dụng thường xuyên các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu là công chức, viên chức và người trẻ tuổi. Tuy nhiên, phần lớn người dân, đặc biệt là những người làm nghề buôn bán nhỏ, kinh doanh tự do, lao động nông thôn... vẫn duy trì thói quen sử dụng tiền mặt.

Đối với người lớn tuổi, khả năng ứng dụng và thao tác trên các chương trình, ứng dụng di động còn hạn chế, làm giảm nhu cầu tham gia thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này cũng khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc triển khai, tuyên truyền và vận động.

Thứ ba, công tác theo dõi, chỉ đạo triển khai công tác thanh toán không dùng tiền mặt một số địa phương còn hạn chế. Mặc dù Kế hoạch thanh toán không dùng tiền mặt được UBND tỉnh Đồng Tháp đã quy định cụ thể trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại địa bàn mình quản lý, tuy nhiên, công tác phối hợp triển khai thanh toán không dùng tiền mặt của một số địa phương vẫn còn chậm.

Thứ tư, tình trạng tội phạm công nghệ cao, đặc biệt là các vụ chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngày càng xảy ra nhiều hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tội phạm công nghệ cao cũng không ngừng biến tướng, xuất hiện dưới nhiều hình thức tinh vi hơn. Các chiêu trò lừa đảo phổ biến bao gồm giả danh cơ quan chức năng như cảnh sát điều tra, bưu điện, cơ quan thuế hoặc nhân viên ngân hàng để yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, số tài khoản, mã PIN, mã OTP. Một số đối tượng thậm chí sử dụng công nghệ AI để giả mạo giọng nói hoặc hình ảnh của người thân, bạn bè nhằm lừa đảo chuyển tiền.

Mặc dù các cơ quan chức năng và tổ chức tín dụng đã thường xuyên truyền thông, cảnh báo người dân nâng cao cảnh giác, nhưng không ít người vẫn cảm thấy lo ngại. Tâm lý e dè, thiếu niềm tin, và nỗi sợ mất tiền đã khiến một bộ phận người dân hạn chế, thậm chí né tránh sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, làm cản trở quá trình phổ biến và áp dụng phương thức thanh toán này trong xã hội.

Giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới

Một là, triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách hiện hành liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trên cơ sở rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng cho các tổ chức, cá nhân trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và các bên liên quan khi tham gia thanh toán không dùng tiền mặt, là cơ sở thiết yếu để duy trì và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt bền vững trong tương lai.

Hai là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về thanh toán không dùng tiền mặt đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn. Đây là giải pháp để tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp chính quyền, từ lãnh đạo, công chức đến cán bộ cơ sở và quan trọng nhất là người dân cư trú trên địa bàn nông thôn. Thực tế ghi nhận, nơi nào chính quyền địa phương quan tâm, xem công tác thanh toán không dùng tiền mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thì địa phương đó người dân tiếp cận thông tin nhanh và sử dụng thành thạo các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Người dân nông thôn với đặc điểm chung là thói quen sử dụng những gì thuộc về truyền thống, việc thay đổi suy nghĩ, tiến tới hành động theo một phương thức mới là thách thức đặt ra trong quá trình triển khai. Do đó, công tác tuyên truyền, vận động phải thường xuyên, liên tục, có sự đồng hành của chính quyền địa phương với ngành Ngân hàng để tuyên truyền sâu rộng mục đích, vai trò cũng như cách thức tiếp cận, sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt và những giải pháp để sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt một cách an toàn, hiệu quả nhất.

Bên cạnh đó, tuyên truyền, vận động tạo ra sự quyết tâm cao của các cấp, các ngành và của mỗi cơ sở, mỗi người dân, trong đó, lãnh đạo chính quyền là đối tượng tiên phong, gương mẫu, nòng cốt trong triển khai thanh toán không dùng tiền mặt, hướng đến mục tiêu mỗi cán bộ, mỗi người dân là một tuyên truyền viên hiệu quả nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt.

Ba là, duy trì, phát triển và nâng cấp thường xuyên cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Địa bàn nông thôn Đồng Tháp đã từng bước phát triển, mạng lưới tổ chức tín dụng ngày càng mở rộng, dịch vụ tài chính ngân hàng, mạng lưới các máy giao dịch tự động từng bước được trang bị, thiết lập; mạng phát sóng wifi, 3G, 4G và phương tiện, thiết bị thông minh được các cấp chính quyền phối hợp với nhà cung cấp quan tâm trang bị cho người dân. Vấn đề đặt ra là bảo đảm sự đồng bộ, bao phủ và duy trì, nâng cấp thường xuyên các cơ sở hạ tầng này, đảm bảo cho quá trình cài đặt, sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được an toàn, thông suốt, không gây phiền hà cho người dân, để người dân nhận thấy được sự nhanh chóng, tiện ích và ưu việt hơn so với phương thức thanh toán truyền thống.

Bốn là, rà soát, điều chỉnh phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với các đối tượng khách hàng. Người dân trên địa bàn nông thôn, đặc biệt là một số đối tượng như người có công, người hưởng các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn nông thôn có nguồn thu nhập hạn chế, nên việc cân nhắc chi phí là một trong những vấn đề quan tâm khi người dân lựa chọn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói riêng và các dịch vụ cho đời sống khác nói chung. Chính vì thế, việc nghiên cứu, điều chỉnh mức phí phù hợp cho đối tượng tại khu vực này là cần thiết, vừa thể hiện sự chia sẻ của hệ thống ngân hàng với người dân trong việc thực hiện chủ trương chung của cả nước, vừa là cách để các tổ chức tín dụng phát triển khách hàng tại đơn vị.

Năm là, chính quyền thường xuyên quan tâm, theo dõi, giám sát, đôn đốc việc triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn nông thôn. Chính quyền địa phương, từ tỉnh đến huyện, thành phố đến cấp cơ sở phải luôn quan tâm, chỉ đạo, phân công lãnh đạo phụ trách mảng nhiệm vụ này để theo dõi, giám sát và đôn đốc trong quá trình thực hiện để đảm bảo các giải pháp đã xây dựng được triển khai đồng bộ, hướng đến mục tiêu từng huyện, thành phố và cơ sở đã đặt ra trong thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chung của tỉnh.

Sáu là, cần có sự phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thanh toán không dùng tiền mặt. Thực tiễn chứng minh, triển khai thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ có những thuận lợi và trong quá trình đó, có những khó khăn, hạn chế nhất định như đã phân tích. Từng khó khăn, vướng mắc đòi hỏi sự phối hợp, trao đổi và thống nhất giải quyết của các cấp, các ngành và địa phương có liên quan một cách cụ thể để công tác triển khai đảm bảo xuyên suốt, không gián đoạn.

Có thể nói, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội trong nước và thế giới, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong giai đoạn hiện nay đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây. Điều này được minh chứng qua sự phát triển đáng kể của cơ sở hạ tầng, cơ sở pháp lý và nhận thức, thói quen của người dân trong việc sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại. Xu thế chuyển đổi số đã thúc đẩy chính quyền địa phương cùng các bộ, ngành nỗ lực tạo ra những tiện ích tốt nhất cho người dân và xã hội.

Tuy nhiên, việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Để đạt được mục tiêu đồng bộ trong thanh toán không dùng tiền mặt ở địa phương, cả nước và xa hơn là tiến tới tài chính toàn diện quốc gia, việc chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại nông thôn chính là bài toán cần được giải quyết triệt để. Điều này đòi hỏi sự triển khai đồng bộ các giải pháp theo từng nhóm, dựa trên trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và từng cá nhân. Hướng tới xây dựng hình ảnh một vùng nông thôn văn minh, hiện đại - nơi không chỉ hấp dẫn bởi điều kiện tự nhiên và môi trường sống, mà còn là nơi người dân có thể trải nghiệm, sử dụng đầy đủ các dịch vụ tài chính và sản phẩm, dịch vụ khác một cách bình đẳng, hiệu quả và an toàn thông qua thanh toán không dùng tiền mặt. Đây sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội hiện đại, bền vững và đáng sống.

Vương Trí Phong
Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp

Tin bài khác

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Tác động của cấu trúc nguồn vốn huy động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của vốn chủ sở hữu

Nghiên cứu này làm rõ tác động của tiền gửi khách hàng và nguồn vốn phi tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời chỉ ra vai trò điều tiết quan trọng của vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ này. Kết quả thực nghiệm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa cấu trúc nguồn vốn và định hướng chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Tác động của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tại các quốc gia ASEAN

Bài viết phân tích vai trò của tín dụng xanh trong bối cảnh các quốc gia ASEAN đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó làm rõ tác động tích cực của tín dụng xanh đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong mối quan hệ này.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam

Việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng - tài chính có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và định vị của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất khung sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam dựa trên bốn yếu tố tích hợp về thể chế, hạ tầng, nhân lực và hợp tác quốc tế.
Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Áp lực công việc và sự hài lòng, trung thành với tổ chức của nhân viên ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bài viết nhằm làm rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của nhân viên, qua đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp ngân hàng tăng cường sự gắn bó, ổn định nguồn lực nhân sự và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chính sách tín dụng xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực tiễn triển khai tín dụng xanh tại Việt Nam cho thấy hiệu ứng tích cực về mặt xã hội và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và sản xuất sạch hơn.
Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh

Chương trình tín dụng vi mô là một bộ phận quan trọng của thị trường tín dụng chính thức ở khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Việc tham gia các chương trình này mang lại cho phụ nữ nhiều cơ hội việc làm, tăng sự tự tin, nâng cao kỹ năng giao tiếp, khả năng quản lý tài chính cá nhân, tiếp cận tri thức và mở rộng cơ hội lựa chọn trong đời sống. Nhờ đó, họ có điều kiện khẳng định vai trò và quyền ra quyết định của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Xem thêm
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng