Dòng chảy tín dụng - động lực phát triển ngành hàng lúa gạo vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Hoạt động ngân hàng
Ngành hàng lúa gạo là điểm sáng trong xuất khẩu nông sản năm 2023, trong đó có sự đóng góp lớn của dòng chảy tín dụng ngân hàng tạo động lực mới cho ngành hàng lúa gạo chất lượng cao.
aa

Ngành hàng lúa gạo là điểm sáng trong xuất khẩu nông sản năm 2023, trong đó có sự đóng góp lớn của dòng chảy tín dụng ngân hàng tạo động lực mới cho ngành hàng lúa gạo chất lượng cao.


Lúa gạo Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế
(Ảnh minh họa; nguồn: Internet)

Lợi thế của ngành lúa gạo

Bức tranh tổng quan về ngành lúa gạo nước ta, xuất khẩu gạo đang là mảng sáng nhất trong bức tranh xuất khẩu cả nước. Theo số liệu thống kê 11 tháng năm 2023, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt 7,75 triệu tấn về sản lượng và 4,41 tỉ USD về giá trị, tăng tương ứng 16,2% và 36,3% so với cùng kì năm 2022. Giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng năm 2023 đạt 568 USD/tấn, tăng 17,3% so với cùng kì năm 2022.

Lúa gạo Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Về mặt sinh thái, môi trường, kinh nghiệm truyền thống và kĩ thuật canh tác, sản xuất lớn, ứng dụng công nghệ và quản lí phù hợp, kết hợp chế biến sâu, thương hiệu hóa sản phẩm, tạo ra giá trị gia tăng gấp nhiều lần.

Đáng chú ý, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là “vựa lúa” lớn, đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước và đóng góp 90% vào xuất khẩu gạo. Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL mở ra kì vọng mới về nâng cao giá trị lúa gạo, tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa. Ngành hàng lúa gạo chất lượng cao là một trong những dự án nằm trong quy hoạch và xúc tiến đầu tư vùng ĐBSCL thời kì 2021 - 2030. Theo đó, có 12 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL tham gia Đề án, gồm: An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An, Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hậu Giang, Cà Mau, Tiền Giang và Vĩnh Long, chia thành 2 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 (2024 - 2025), tập trung củng cố các diện tích đã có của Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VnSAT) là 180.000 ha, bao gồm: Công tác tập huấn, xây dựng kế hoạch, xây dựng hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV), kiểm đếm và thí điểm cấp tín chỉ carbon cho những vùng lúa đạt chuẩn, củng cố các hợp tác xã (HTX), duy tu, bảo dưỡng một số công trình và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn 2026 - 2030.

Giai đoạn 2 (2026 - 2030), xác định cụ thể khu vực trọng tâm để lập dự án đầu tư phát triển vùng lúa chuyên canh chất lượng cao, giảm phát thải mới ngoài vùng Dự án VnSAT và sẽ mở rộng thêm 820.000 ha. Giai đoạn này sẽ tập trung vào các hoạt động chủ yếu như đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho những vùng diện tích mới, tổ chức lại sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị, hoàn thiện hệ thống MRV, đồng thời duy trì sản xuất bền vững ở những vùng đề án trong giai đoạn 2024 - 2025, nếu tổ chức thực hiện tốt theo quy hoạch, xây dựng và vận hành dự án theo tư duy kinh tế ngành thì chắc chắn sẽ tạo ra sự đột phá có tính bước ngoặt cho nền kinh tế lúa gạo. Từ đó, góp phần quan trọng vào an ninh lương thực, đời sống người nông dân trồng lúa ngày càng được nâng cao, nông thôn ngày càng văn minh và đáng sống hơn. Đặc biệt hơn, dự án lúa gạo chất lượng cao còn góp phần đáng kể vào chương trình trung hòa khí thải mà Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra cam kết tại hội nghị COP26.

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã hình thành được các vùng chuyên canh, chất lượng cao như lúa ở huyện Thới Lai, Cờ Ðỏ và Vĩnh Thạnh. Với ưu thế của vùng sản xuất lúa lớn, huyện Cờ Đỏ phát triển mạnh mẽ diện tích “Cánh đồng lớn” có bao tiêu đến nay gần 32.840 ha, đạt 101,04% kế hoạch năm. Các mô hình “Cánh đồng lớn” trên địa bàn huyện thời gian qua có sự tham gia liên kết, bao tiêu của nhiều doanh nghiệp, HTX và thương lái như Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, Công ty TNHH Thương mại Tân Thành, Doanh nghiệp tư nhân Ngọc Ngân, HTX Hiệp Mỹ Phát, HTX Tiến Dũng…

Còn tại An Giang, Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời (Tập đoàn Lộc Trời) là doanh nghiệp tiên phong xây dựng mô hình “Cánh đồng lớn” ở An Giang (khi còn mang tên gọi Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang), sau nhân rộng ra nhiều tỉnh ĐBSCL. Trong hành trình 30 năm qua, nhờ kiên trì với sứ mệnh “Cùng nông dân phát triển bền vững”, Lộc Trời đã nỗ lực trở thành tập đoàn dịch vụ nông nghiệp hàng đầu Việt Nam.

Không chỉ mở rộng vùng nguyên liệu liên kết “Cánh đồng lớn”, tham gia thành lập nhiều HTX kiểu mới, Tập đoàn Lộc Trời còn không ngừng hoàn thiện hệ sinh thái nông nghiệp khi cho ra đời các thành viên chủ chốt như: Viện Nghiên cứu nông nghiệp Lộc Trời (LTI), Công ty Cổ phần Giống cây trồng Lộc Trời (LTS), Lộc Trời - Vật tư nông nghiệp (LTV), Công ty TNHH Dịch vụ nông nghiệp Lộc Trời (LTF), Công ty Cổ phần Nông sản Lộc Trời (LTA). Những thành viên này đang kết nối chặt chẽ với nhau, cùng phối hợp với các đối tác, nông dân, HTX, tạo nên chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp bền vững. Trong hệ sinh thái lúa gạo, tất cả các bên tham gia, từ nông dân, HTX, tổ khuyến nông cộng đồng cho đến thương lái, doanh nghiệp liên kết, doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng… đều được hưởng lợi và gắn kết chặt chẽ với nhau. Quyền lợi và nghĩa vụ đan xen giúp hệ sinh thái lúa gạo thêm phong phú, đa dạng, xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo bền vững hơn. Trong hệ sinh thái lúa gạo, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng, tiếp vốn vào các thành phần tham gia, từ sản xuất đến thu mua, chế biến, xuất khẩu theo quy trình tín dụng khép kín, cấp vốn và thu hồi vốn qua tài khoản.

Nhìn tổng quan ngành hàng lúa gạo Việt Nam nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng, có sự đóng góp lớn của ngành Ngân hàng với vai trò cung ứng vốn cho sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu.

Dòng chảy tín dụng - động lực phát triển...

Dòng chảy tín dụng cung ứng vốn cho ngành hàng lúa gạo của các ngân hàng vùng ĐBSCL đã góp phần đẩy mạnh sản xuất, chế biến và xuất khẩu đạt hiệu quả tích cực. Kết quả cho vay của các ngân hàng vùng ĐBSCL ở lĩnh vực lúa gạo đến cuối tháng 11/2023, đạt 111.635 đồng, tăng trưởng 9,35%; tỉnh Long An có tỉ trọng tăng trưởng cao nhất vùng đạt 21.717 tỉ đồng, kế đó là thành phố Cần Thơ đạt 16.790 tỉ đồng, đứng thứ ba là An Giang đạt 16.180 tỉ đồng.

Đáng chú ý, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn vùng ĐBSCL đã bám sát chương trình kinh tế - xã hội tại địa phương và thế mạnh ngành hàng của từng tỉnh, thành phố trong vùng để tập trung cho vay phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần tăng trưởng kinh tế tại địa bàn.

Một số vấn đề đặt ra và giải pháp

Một là, giảm thất thoát gạo và tối ưu các chi phí trong quá trình chế biến lúa gạo bằng cách sử dụng công nghệ hiện đại giữ được chất lượng gạo, đồng thời đảm bảo an toàn thực phẩm,

Hai là, kiểm soát toàn chuỗi sản xuất từ cánh đồng tới bàn ăn theo tiêu chuẩn và thực hành nông nghiệp tốt, ứng dụng công nghệ AI để kiểm soát được quy trình sản xuất lúa gạo đang là giải pháp được quan tâm hiện nay.

Ba là, xây dựng bộ dữ liệu cho sản xuất lúa gạo ĐBSCL để đảm bảo thông tin, dữ liệu cung - cầu lúa gạo; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Bốn là, tiếp tục hiện đại hóa chuỗi giá trị hạt gạo, bao gồm đổi mới thể chế, cải tiến công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, hướng đến sản xuất bền vững hơn, với môi trường, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn.

Năm là, đẩy mạnh các chuỗi giá trị liên kết chặt chẽ các chủ thể tham gia quy trình trong mối quan hệ gắn bó công nghệ, thị trường, lợi ích.

Để thị trường lúa gạo phát triển bền vững trong thời gian tới, ngành lúa gạo ĐBSCL cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần theo dõi sát diễn biến thị trường lúa gạo toàn cầu, dự báo cung - cầu lúa gạo thế giới, đảm bảo cân đối cung - cầu lúa gạo trong nước và xuất khẩu gạo để tiếp tục đẩy mạnh vốn tín dụng cho lĩnh vực sản xuất lúa, chế biến và xuất khẩu gạo.

Thứ hai, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước xem xét xây dựng các chương trình tín dụng xanh cho nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng; hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp phát triển bền vững, thân thiện môi trường.

Thứ ba, các bộ, ngành đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các địa phương cần có quy hoạch tổng thể, rõ ràng về các vùng trồng, có cơ chế, biện pháp kiểm soát tổng cung, sản lượng của toàn vùng về lúa gạo để kiểm soát giá cả đầu ra và đảm bảo giá cho nông dân. Các địa phương cần quan tâm hỗ trợ, hướng dẫn pháp lí cho doanh nghiệp, hộ dân để đủ tài sản thế chấp, đảm bảo cho các khoản vay ngân hàng.

Thứ tư, doanh nghiệp hoạt động minh bạch, rõ ràng, để tạo niềm tin tốt, thực hiện tốt các cam kết với ngân hàng, đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngân hàng đang có tỉ lệ cấp tín dụng tín chấp cho khách hàng khá cao. Do đó, rất cần doanh nghiệp hoạt động rõ ràng, minh bạch để ngân hàng có niềm tin đẩy mạnh tín dụng, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi, không đầu tư vào các lĩnh vực khác ngoài ngành để đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả, an toàn.

Thứ năm, các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để có điều kiện giảm lãi suất đối với cả các khoản vay mới và khoản vay cũ cho khách hàng, cả lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Quan tâm chương trình đồng tài trợ vốn vay giữa các ngân hàng đối với các dự án lớn. Tăng cường liên kết cho vay theo chuỗi giá trị, theo từng tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo. Vấn đề tài sản đảm bảo thực hiện theo thẩm quyền của các ngân hàng thương mại, song phải lưu ý tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Thứ sáu, NHNN chi nhánh các tỉnh, thành vùng ĐBSCL tiếp tục đóng vai trò đầu mối kết nối, nắm bắt kịp thời khó khăn thực tế để đồng hành cùng các ngân hàng thương mại trên địa bàn hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, thị trường. Ðồng thời, tăng cường nguồn lực, minh bạch tài chính, dòng tiền, chia sẻ gắn bó với ngân hàng, chủ động trao đổi khó khăn để đề xuất giải pháp cùng nhau tháo gỡ.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo hoạt động ngân hàng (2022; tháng 11/2023) của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh 13 tỉnh/thành phố vùng ĐBSCL.
2. Báo cáo thường niên các năm 2020, 2021, 2022 của Ngân hàng Nhà nước.
3. Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”.

ThS. Trần Trọng Triết


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Những điểm nhấn năm 2025

Năm 2025, trong bối cảnh toàn ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác; qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội của Ngành.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành