ĐẦU TƯ TẠO TÁC NHÂN NỘI SINH CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

Công nghệ & ngân hàng số
Bài viết đề cập đến một trong những vấn đề được quan tâm của nền kinh tế hiện nay là việc chuyển nền kinh tế từ mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên sẵn...
aa

Bài viết đề cập đến một trong những vấn đề được quan tâm của nền kinh tế hiện nay là việc chuyển nền kinh tế từ mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên sẵn có, nguồn lao động rẻ và tăng qui mô vốn đầu tư sang mô hình tăng trưởng bền vững, luận giải tính cấp thiết của tăng trưởng bền vững đối với nền kinh tế nước ta hiện nay và chỉ ra vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng bền vững. Các mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh cho thấy để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững, cần phải đầu tư cho vốn vật chất, trước hết là đầu tư cho máy móc và thiết bị, đầu tư cho vốn con người và khu vực tri thức. Trong đó, đầu tư cho vốn con người và tri thức hiệu quả hơn theo nghĩa các khoản đầu tư cho vốn con người và tri thức tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện những tiến bộ khoa học công nghệ, đến lượt nó tiến bộ khoa học công nghệ sẽ là các tác nhân nội sinh của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.


Mở đầu

Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định là một nhiệm vụ quan trọng của một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao cho phép giải quyết những nhiệm vụ cơ bản của đất nước như bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao mức sống nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng và khẳng định vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế. Điều này giải thích tại sao tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề trung tâm trong các chính sách kinh tế và chiến lược phát triển của mọi quốc gia. Vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hơn đối với các nước kém phát triển, bởi vì đây là con đường duy nhất để các nước này có thể thu hẹp khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước
phát triển.
Vấn đề tăng trưởng là vấn đề quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tăng trưởng kinh tế chững lại trong năm 2016, đạt 6,2%, thấp hơn so với mức 6,8% của năm 2015. Nguyên nhân tăng chững lại trong năm qua về cơ bản là do sụt giảm trong các ngành nông nghiệp và khai khoáng, trong khi ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 7,6% và dịch vụ tăng lên gần 7% .
Năm 2017, nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng, tổng sản phẩm trong nước 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 6,41% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó quí III năm 2017 tăng 7,46%, là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011. Đóng góp lớn nhất vào mức tăng GDP chín tháng đầu năm 2017 là khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng 7,6%, trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng khoảng 12,8%, khu vực dịch vụ tăng 7,6%, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,9%. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào sự đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, hai doanh nghiệp có đóng góp lớn nhất là các doanh nghiệp thuộc ngành điện tử, điện thoại (như nhà máy Samsung), ngành thép (như nhà máy Formosa) [4].
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này vẫn là đặc điểm của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào tăng vốn đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài, nguồn lao động rẻ và khai thác các nguồn tài nguyên, chất lượng tăng trưởng thấp, chỉ số ICOR vẫn ở mức lớn hơn 6. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu để tăng trưởng, từng bước chuyển sang con đường phát triển trên cơ sở đổi mới sáng tạo để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững.

Sự phát triển vốn con người - nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu trên thế giới về các cơ sở phương pháp luận để bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế bền vững chỉ ra rằng vai trò chủ yếu để đảm bảo cho tăng trưởng bền vững là đầu tư hợp lý. Điều này lần đầu tiên được chỉ ra trong các nghiên cứu của Romer, Lucas và Rebelo. Theo Lucas (1988), đối với hệ thống kinh tế, tích luỹ vốn con người là nội sinh và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần phải viện đến một tăng trưởng ngoại sinh. Còn theo Romer (1990), tiến bộ kĩ thuật là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng, mà vốn con người lại là yếu tố hàng đầu cho việc sáng tạo ra tiến bộ khoa học công nghệ. Tác giả đưa ra khái niệm kho vốn con người và khái niệm kho tri thức hiện có trong một xã hội, kho tri thức này là một hàng hóa công cộng. Đóng góp quan trọng nhất của Romer và Lucas là các tác giả hình thành và đưa ra xu hướng mới cho tăng trưởng kinh tế dài hạn, gọi là học thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh [2; 3]. Các mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh được hình thành tùy thuộc vào nguồn gốc tăng trưởng kinh tế và đối tượng đầu tư.
Trong các mô hình với sự tích lũy vốn vật chất, giả định rằng công nghệ và tri thức được phản ánh trong vốn vật chất sẽ chuyển hóa thành hàng hóa công cộng và dưới sự tác động của hiệu ứng tràn (spillover effect) sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất của nền kinh tế.
Sự suy đoán của Lucas về khả năng tăng trưởng kinh tế liên lục dựa vào đầu tư cho vốn con người cho phép tác giả đề xuất mô hình, trong đó việc đầu tư cho vốn con người tạo ra hiệu quả làm cho trình độ phát triển công nghệ tăng nhanh hơn so với đầu tư vào vốn vật chất.
Những nghiên cứu về nguồn gốc của tiến bộ công nghệ, cơ chế xuất hiện và triển khai các đổi mới sáng tạo cho phép xây dựng các mô hình, trong đó nêu ra 2 khu vực chủ yếu tham gia vào quá trình hình thành tiến bộ khoa học công nghệ là: Khu vực sáng tạo và tích lũy tri thức (ý tưởng) và khu vực sản xuất hàng hóa (vật chất). Trong hai khu vực trên thì ý tưởng là công cụ tạo ra những hàng hóa có giá trị gia tăng cao và do đó khu vực này là nhân tố có ý nghĩa hơn đối với tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững, cần phải đầu tư cho vốn vật chất, trước hết là đầu tư cho máy móc và thiết bị, đầu tư cho vốn con người và khu vực tri thức. Trong đó, đầu tư cho vốn con người và tri thức hiệu quả hơn theo nghĩa các khoản đầu tư cho vốn con người và tri thức tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện những tiến bộ khoa học công nghệ, đến lượt nó tiến bộ khoa học công nghệ sẽ là các tác nhân nội sinh của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Việc đầu tư cho vốn con người cho phép đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững. Ở đây, vốn con người được hiểu là tổng thể các tài nguyên bao gồm kiến ​​thức, tài năng, kỹ năng, năng lực, kinh nghiệm, trí thông minh, động lực, trí tuệ sở hữu riêng và chung của các cá nhân được hình thành và tích lũy lại từ những kết quả đầu tư hợp lý có mục đích trong quá trình tái sản xuất xã hội, có vai trò thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, qua đó làm tăng thu nhập của người lao động [1].

Hạn chế đầu tư vào vốn con người và khoa học công nghệ - Tăng trưởng kinh tế không bền vững và cản trở đổi mới sáng tạo

Như vậy, vốn con người được thể hiện trong bản thân con người bằng tiềm năng mang lại thu nhập trên cơ sở những khả năng bẩm sinh về thể lực và trí lực, cũng như những kiến thức và kỹ năng nhận được trong quá trình xã hội hóa, giáo dục và hoạt động thực tiễn của con người, có khả năng tích lũy và nhân lên. Vốn con người được hình thành trước hết từ đầu tư nâng cao trình độ và chất lượng cuộc sống của dân cư, trong đó đặc biệt quan trọng là đầu tư cho giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, nghệ thuật,... Nghĩa là việc đầu tư vào các lĩnh vực này sẽ tạo điều kiện phát triển vốn con người. Nhưng việc đầu tư cho vốn cố định của các ngành hướng vào sự phát triển vốn con người trong ba năm gần đây không có gì thay đổi. Nhịp độ tăng vốn đầu tư vào các ngành hướng tới sự phát triển vốn con người trong các năm 2014-2016 có xu hướng giảm. Năm 2014 mức tăng vốn đầu tư vào các ngành này là 123%, năm 2015 chỉ còn 105%, và năm 2016 cũng chỉ đạt 117%. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là do trong cả thời kỳ này tỷ trọng của vốn đầu tư vào các ngành hướng tới sự phát triển vốn con người của nước ta không thay đổi và chỉ giữ ở mức 7% tổng đầu tư xã hội, tương đương 2 - 3% GDP.
Cho dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng việc đầu tư còn chưa đủ với nhu cầu và còn thiếu đồng bộ vào các ngành bảo đảm phát triển vốn con người dẫn đến chất lượng vốn con người được cải thiện còn chậm, nhịp độ tăng bộ phận dân số tích cực cho phát triển kinh tế và lực lượng lao động của nền kinh tế còn thấp, từ đó hạn chế tăng tổng sản phẩm trong nước.
Trong những thập niên gần đây, tri thức có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Tri thức tạo tiền đề cho việc đổi mới sáng tạo và hình thành lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao. Không phải ngẫu nhiên mà tỷ trọng của các ngành công nghệ cao trong công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ chiếm phần lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong cấu trúc của GDP của các nước công nghiệp phát triển. Tỷ trọng bình quân của các ngành có cầu cao về tri thức như công nghệ cao, thông tin truyền thông, dịch vụ tài chính và dịch vụ kinh doanh trong GDP ở các nước này là 30-35% [4]. Chính vì vậy, các ngành này có nhịp độ tăng trưởng sản lượng, lao động, đầu tư, thương mại cao nhất. Mặt khác, ở các nước phát triển đầu tư cho nghiên cứu cơ bản được coi như một hướng chi ngân sách có hiệu quả cao, do đó, đầu tư cho tri thức ở các nước này tăng nhanh hơn so với đầu tư vào vốn cố định.
Năm 2017 Việt Nam đã có bước tiến rất quan trọng trong xếp hạng của thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo, từ vị trí 59/128 năm 2016 nâng lên vị trí 47/127 nước và nền kinh tế. Tuy nhiên, vị trí của Việt Nam vẫn còn thấp về các chỉ số như số người làm nghiên cứu khoa học trên 1 triệu dân. Chỉ số này của Việt Nam là 700 người trong khi Singapore là 6500 người, Hàn Quốc 6000 người, Nhật Bản 5000, Mỹ 4000, Malaysia 1600 người và Trung Quốc 900 người [5].
Trong khi đó đầu tư cho khoa học còn hạn chế. Ngân sách dành cho khoa học công nghệ của nước ta đã được nâng lên nhưng chưa tương xứng với tầm vóc và yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá, vốn đầu tư cho khoa học trong giai đoạn từ 2013-2016, chỉ ở mức khiêm tốn gần 1% GDP. Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc cho khoa học công nghệ từ năm 2010 đã là 2,2% GDP, của Hàn Quốc là 4,5% GDP.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tổng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2013-2015 tỷ trọng nhóm hàng thô và mới sơ chế có xu hướng giảm dần từ 25,5% năm 2013 xuống 18,7% năm 2015, tương ứng nhóm hàng chế biến và đã tinh chế tăng từ 74,3% năm 2013 lên 81,3% năm 2015. Đây là xu hướng thay đổi khá tích cực, nhưng nếu tính đến yếu tố xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì tình hình vẫn đáng lo ngại, cụ thể là trong giai đoạn này thì tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tương ứng 66,8% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 và 70,6% năm 2015, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hầu hết là hàng hóa chế biến hoặc đã tinh chế. Như vậy, phần đóng góp vào xuất khẩu hàng hóa chế biến hoặc đã tinh chế của khu vực kinh tế trong nước còn nhỏ và chủ yếu giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước vẫn là doanh thu từ nhóm hàng hàng thô và mới sơ chế. Đây chính là hệ quả của thời kỳ duy trì mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô, khai thác tài nguyên sẵn có và huy động vốn đầu tư ở mức cao, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài. Điều này không chỉ tác động hạn chế sự phát triển kinh tế của đất nước, mà còn tạo những nguy cơ bất ổn cho sự tăng trưởng bền vững, bởi vì để đạt được sự tăng trưởng, chúng ta phải bán đứt khoáng sản, sức lao động giản đơn rẻ mạt, đất đai và thậm chỉ là quyền tự chủ, sáng tạo…[7]. Ngoài ra, mô hình này còn cản trở sự phát triển đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. (Bảng 1)

Bảng 1: CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU 2013-2015
Đơn vị tính: %

Tên chỉ tiêu 2013 2014 2015
Tổng kim ngạch xuất khẩu 100 100 100
Hàng thô hoặc mới sơ chế 25,5 23,8 18,7
Hàng chế biến hoặc đã tinh chế 74,3 76.2 81,3
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 66,8 67,3 70,6


Nguồn: Tổng cục Thống kê

Kết luận và một số khuyến nghị

Tóm lại, vấn đế mấu chốt để Việt Nam ra khỏi tình thế hiện nay là vốn. Cần phải nhấn mạnh rằng ở các nền kinh tế phát triển đầu tư cho khoa học công nghệ được Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhưng cùng với Nhà nước, các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế cũng dành nhiều vốn cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ áp dụng cho từng sản phẩm của mình. Ở Việt Nam, theo Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ Nguyễn Quân thì “Tỷ lệ đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước tính trên GDP của Việt Nam là 0,5%, không thấp so với thế giới. Nhưng mức đầu tư của xã hội và doanh nghiệp ngoài nhà nước cho KHCN còn rất thấp, khoảng 0,3-0,4% GDP. Như vậy, tổng đầu tư của Việt Nam cho KHCN hằng năm vẫn dưới 1% GDP”[7].
Như vậy, vấn đề hiện đại hóa nền kinh tế nhằm khắc phục tình trạng kỹ thuật lạc hậu, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng các nhu cầu phát triển vốn con người, khoa học công nghệ và đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư rất lớn. Để giải quyết vấn đề này cần phải: Thứ nhất, hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chuyển từ mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên, lao động rẻ và đầu tư theo chiều rộng hiệu quả thấp như hiện nay sang mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững trên cơ sở đầu tư cho khoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế số và công nghiệp thông minh, đầu tư cho phát triển vốn con người để thúc đẩy sự phát triển đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. Thứ hai, điều chỉnh chiến lược và chính sách phát triển khoa học công nghệ một cách phù hợp theo hướng cải thiện môi trường đầu tư, tạo được thuận lợi cho phát triển khoa học công nghệ. Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của xã hội, các tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp về vai trò của khoa học công nghệ và lĩnh vực tri thức, từ đó thay đổi cách thức tiếp cận và nâng cao sự quan tâm của xã hội cho phát phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe cũng như sự phát triển toàn diện cho người lao động, qua đó thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Thứ tư, cần có những thay đổi trình tự công nhận các kết quả nghiên cứu cho phù hợp hơn, nên công bố rộng rãi để các chuyên gia trong và ngoài nước có thể thẩm định, phản biện và thực tiễn đánh giá, thừa nhận và đặt hàng hoặc mua các kết quả nghiên cứu. Điều này sẽ giúp nâng cao trách nhiệm của người thực hiện các nghiên cứu và của cả các hội đồng thẩm định đối với hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ và tạo ra nguồn nội sinh của đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ.

Tài liệu tham khảo:

1. Di-a-lốp X.A.(1994), Cơ sở lý thuyết về vốn con người, NXB. XPBYEF, Moscow.
2. Đỗ Văn Đức (2016), Xác định nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, Tạp chí Ngân hàng, số 9/2016, tr.18, 2 - 8.
3. Ki-rơ-sin I.A. (2008), Sự biến đổi các quan niệm về sự tác động củ cơ chế hiệu suất tăng dần trong học thuyết phát triển kinh tế, Tạp chí Học thuyết Kinh tế, số 4, tr.128-146, Moscow.
4. Milner B. (2008), Quản lý tri thức trong nền kinh tế hiện đại,Viện Kinh tế - Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Moscow.
5. Báo điện tử CafeBiz (2015), Khoa học Việt Nam đang đứng ở đâu, cafebiz.vn/thi.../khoa-hoc-viet-nam-dang-dung-o-dau-20150618115712654.chn
6. Báo điện tử Đầu tư (2017), FDI là nhân tố chính thúc tăng trưởng kinh tế quý III, http://baodautu.vn/fdi-la-nhan-to-chinh-thuc-tang-truong-kinh-te-quy-iii-d70407.html:
7. Báo điện tử Đại biểu Nhân dân (2017), Ngân sách - sự tôn trọng khoa học công nghệ,http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=69&ItemId=221922&GroupId=1218.

PGS.,TS. Đỗ Văn Đức – Học viện Ngân hàng


(số 5/2018)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Nâng cao hiệu quả an ninh mạng thông qua “human firewall” tại các ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng khai thác yếu tố con người, việc xây dựng “human firewall” trở thành trụ cột chiến lược giúp ngành Ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực phòng vệ và thích ứng với môi trường số hóa.
Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Đánh giá "tính tiền tệ" của Stablecoin và khuyến nghị đối với ổn định tiền tệ, tài chính

Bài viết phân tích “tính tiền tệ” của Stablecoin (tiền mã hóa ổn định), qua đó chỉ ra những giới hạn và hàm ý chính sách nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và tài chính trong kỷ nguyên số.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong dịch vụ ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích những thách thức nổi bật trong bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số và thanh toán điện tử tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường an toàn thông tin và củng cố niềm tin của khách hàng trong môi trường tài chính số.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học sâu và các công nghệ an ninh tiên tiến, qua đó đánh giá hạ tầng bảo mật và đề xuất các giải pháp chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuyển đổi sang hệ sinh thái an ninh chủ động, bảo vệ hiệu quả tài sản, con người và uy tín của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Xem thêm
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng