Đánh giá hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
óm tắt: Phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp ứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế nào cũng muốn hướng tới.
aa

Tóm tắt: Phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp ứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế nào cũng muốn hướng tới. Chính vì vậy, vào khoảng thế kỉ thứ 17, tài chính vi mô được ra đời nhằm giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính. Mặc dù đã trải qua hơn ba thập kỉ hình thành và phát triển tại Việt Nam, hoạt động tài chính vi mô ở nước ta phát triển còn khá chậm, chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các cơ quan quản lí nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nhà tài trợ và các bên liên quan. Mục tiêu của bài viết là tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của các tổ chức này.

Từ khóa: Tổ chức tài chính vi mô, hoạt động kinh doanh tổ chức tài chính vi mô, Việt Nam.

ASSESSMENT OF BUSINESS ACTIVITIES OF OFFICIAL MICROFINANCE INSTITUTIONS IN VIETNAM

Abstract: Developing a comprehensive financial system that meets the needs of all inpiduals in society is a goal that any economies want to achieve. Therefore, around the 17th century, microfinance was born to help the poor easily access financial services. Despite more than three decades of establishment and development, microfinance activities in Vietnam still develop slowly and have not yet attracted much attention from management agencies, social organizations and inpiduals. The purpose of the article is to assess the current status of business activities of official microfinance institutions in Vietnam, thereby giving some suggestions to develop their business activities.

Keywords: Microfinance institutions, business activities of microfinance institutions, Vietnam.

1. Hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô

Khoản 5 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”.

Theo Ledgerwood (1998), tổ chức tài chính vi mô bên cạnh nhiệm vụ trung gian tài chính thì còn đảm nhận một vai trò vô cùng quan trọng là làm trung gian xã hội. Về khía cạnh kinh tế: Tổ chức tài chính vi mô giúp khách hàng có thu nhập thấp trong xã hội có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, qua đó, những người yếu thế có thêm cơ hội để tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, gia tăng thu nhập và giảm đói nghèo. Về khía cạnh xã hội: Tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ phi tài chính nhằm nâng cao sức khỏe, ý thức cũng như kĩ năng của người có thu nhập thấp nhằm giúp khách hàng tự tin hòa nhập tốt hơn vào các hoạt động kinh tế và xã hội trong cộng đồng.

Cũng theo Ledgerwood (1998), hoạt động tài chính vi mô được cung ứng bởi rất nhiều đơn vị khác nhau. Dựa vào khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực tài chính, có thể sắp xếp các đơn vị tham gia cung ứng dịch vụ tài chính vi mô thành ba khu vực: Khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực không (phi) chính thức. Tổ chức tài chính vi mô chính thức bao gồm: Các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép. Tổ chức tài chính vi mô bán chính thức bao gồm: Tổ chức tài chính vi mô chưa được cấp phép, các chương trình, dự án của tổ chức phi chính phủ (Non-governmental organization - NGO)… Tổ chức tài chính vi mô không chính thức là tổ chức do một nhóm người đứng ra tổ chức góp vốn cho vay luân phiên nhau để giải quyết khó khăn trong đời sống với mục tiêu tương trợ gọi là hụi, họ... Loại hình tín dụng này không quy định phải đăng kí tại bất kì cơ quan quản lí nhà nước nào và cũng không có cơ quan nào được giao trách nhiệm quản lí.

Các dịch vụ tài chính vi mô bao gồm: Dịch vụ tín dụng vi mô, dịch vụ tiết kiệm vi mô, bảo hiểm vi mô, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ phi tài chính khác. Dịch vụ tín dụng vi mô là hoạt động cung ứng tín dụng chủ yếu cho khách hàng tài chính vi mô dưới nhiều hình thức cho vay khác nhau: Cho vay cá thể, cho vay theo nhóm tương hỗ và cho vay gián tiếp theo nhóm tương hỗ qua trung gian thứ ba. Dịch vụ tiết kiệm vi mô nhằm huy động các nguồn vốn nhỏ, lẻ cho các tổ chức tài chính vi mô dưới góc độ đóng góp của khách hàng thông qua các hình thức tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện và tiết kiệm của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Dịch vụ bảo hiểm vi mô bao gồm bảo hiểm về cuộc sống, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm hỗn hợp. Dịch vụ thanh toán được các tổ chức tài chính vi mô đưa ra khi cung cấp dịch vụ tiết kiệm (tức là khách hàng có các tài khoản tại tổ chức tài chính vi mô để thực hiện các giao dịch thanh toán). Ngoài ra, các tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ phi tài chính cho khách hàng vi mô như dịch vụ tư vấn kĩ thuật nông nghiệp cho vùng nông thôn.

2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Các tổ chức tài chính vi mô chính thức trong bài viết bao gồm các tổ chức tài chính vi mô được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cấp phép thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tính đến hết quý I/2023, tại Việt Nam, đã có 04 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép là: Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên (MTV) Tình thương (TYM); Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7 (M7); Tổ chức tài chính vi mô TNHH Thanh Hóa (Thanh Hóa) và Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) với năm được cấp giấy phép thành lập lần lượt là 2010, 2012, 2014 và 2016. (Bảng 1)

Bảng 1: Thông tin về các tổ chức tài chính vi mô đã cấp phép

Nguồn: Website của NHNN cập nhật đến ngày 31/3/2023

Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu từ các báo cáo hoạt động về tài chính vi mô của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô nhằm phân tích thực trạng phát triển hoạt động tài chính vi mô. Nguồn dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam, được phát hành bởi Trung tâm Tư vấn nguồn lực Tài chính vi mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiền thân là Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam) từ năm 2013 đến năm 2017 của 04 tổ chức M7, TYM, Thanh Hóa, CEP; báo cáo hoạt động hằng năm của TYM và CEP năm 2018 đến năm 2022; 02 tổ chức M7 và Thanh Hóa không công bố dữ liệu hoạt động kinh doanh.

3. Kết quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Với mục tiêu toàn diện hơn hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là phân khúc người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ được tiếp cận và sử dụng vốn an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu với chi phí hợp lí, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô như: Năm 2010, lần đầu tiên hoạt động tài chính vi mô được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng. Ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020. Tiếp đó, ngày 12/6/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng đã kí ban hành Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ. Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 149/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Sự ra đời của các văn bản này được đánh giá là một bước tiến vượt bậc trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lí cho hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô chính thức.

Bảng 2: Dư nợ tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô chính thức

Đơn vị tính: Tỉ đồng


Nguồn: Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2013 - 2017); CEP và TYM (2018 - 2022)

Từ Bảng 2, có thể thấy, các tổ chức tài chính vi mô sau khi cấp phép có nhiều khả năng phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động và khách hàng thông qua việc gia tăng nguồn vốn kinh doanh với hoạt động tín dụng là chủ yếu. Hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô chính thức có sự tăng trưởng về quy mô với giá trị dư nợ tín dụng năm sau cao hơn năm trước. Kết quả này đã phản ánh hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô chính thức dần đi vào ổn định.

Theo quy định hiện hành, chỉ có những tổ chức tài chính vi mô chính thức mới được phép huy động tiền gửi tiết kiệm tự nguyện từ khách hàng (Bảng 3). Mặc dù là tổ chức chính thức được cấp phép muộn hơn các tổ chức khác, nhưng CEP lại là tổ chức có quy mô tiết kiệm cao nhất, đạt 1.554,6 tỉ đồng năm 2017, chiếm gần 60% tổng quy mô tiết kiệm của các tổ chức tài chính vi mô chính thức. Là một tổ chức có uy tín cao về thương hiệu với trọng tâm giảm nghèo mạnh mẽ, hơn nữa CEP là tổ chức có tính minh bạch cao và hoạt động theo các tiêu chuẩn quốc tế, tất cả các thông tin và các báo cáo đều được công khai trên trang web của CEP. Những điều này đã mang lại những lợi thế cho CEP trong huy động tiết kiệm tự nguyện từ khách hàng. Quy mô huy động vốn của TYM, M7, Thanh Hóa có sự tăng trưởng hằng năm nhưng có thể nhận thấy là quy mô tiết kiệm còn khá khiêm tốn, thấp hơn so với các loại hình tổ chức tín dụng khác. Trong điều kiện các nguồn vốn ủy thác hoặc vay ưu đãi ngày càng thu hẹp thì phát triển vốn huy động là một trong những thách thức đặt ra đối với các tổ chức tài chính vi mô chính thức.

Bảng 3: Quy mô tiết kiệm của các tổ chức tài chính vi mô chính thức

Đơn vị tính: Tỉ đồng


Nguồn: Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2013 - 2017); CEP và TYM (2018 - 2022)

Chỉ số tự vững hoạt động (Operational Self-Sufficiency - OSS) thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập hoạt động và tổng chi phí hoạt động (gồm cả khấu hao và dự phòng rủi ro) thường được các nhà quản lí của tổ chức tài chính vi mô và các nhà tài trợ dùng để đánh giá xem tổ chức tài chính vi mô đó đã tự trang trải được các chi phí hoạt động bằng thu nhập từ hoạt động hay chưa. Nếu OSS > 100%, tổ chức tài chính vi mô được đánh giá là đảm bảo bền vững về hoạt động. Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB), để đạt bền vững hoạt động lâu dài thì tổ chức tài chính vi mô được đánh giá là có mức độ bền vững về hoạt động khi OSS > 120%.

Từ số liệu về chỉ số bền vững hoạt động của 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức cho thấy, có sự đảm bảo bền vững hoạt động, chỉ số OSS đều lớn hơn 100% (Bảng 4). Kết quả này hàm ý rằng nguồn thu nhập từ các tổ chức này đã đủ để trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và có nguồn lợi nhuận giữ lại để có thể gia tăng nguồn vốn hoạt động. Nếu đánh giá theo tiêu chí các tổ chức đạt được sự bền vững hoạt động trong dài hạn khi tỉ số OSS > 120%, thì trong số 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức chỉ có TYM và CEP đạt được sự bền vững hoạt động trong dài hạn và đạt được sự ổn định.

Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, các tổ chức tài chính vi mô chính thức còn một số hạn chế về hiệu quả hoạt động kinh doanh như: (i) Các tổ chức quy mô trung bình chưa đảm bảo khả năng tự vững hoạt động trong dài hạn theo tiêu chuẩn của WB; (ii) Địa bàn và quy mô hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô còn khiêm tốn, chưa mở rộng phạm vi ở miền Trung; (iii) Một số tổ chức tài chính vi mô chưa thực hiện việc minh bạch hóa thông tin bằng cách công bố các thông tin, báo cáo tài chính thường xuyên, chỉ có CEP là công bố đầy đủ báo cáo; (iv) Sản phẩm, dịch vụ chưa đa dạng, hầu như tập trung vào cho vay; (v) Nguồn vốn hoạt động còn hạn chế.

Những tồn tại này xuất phát từ công tác quản trị, điều hành của tổ chức tài chính vi mô cũng như các nhân tố bên ngoài tổ chức tài chính vi mô như: Môi trường pháp lí vẫn chưa thật sự phù hợp với đặc trưng của loại hình đặc thù này, môi trường công nghệ đòi hỏi các tổ chức tài chính vi mô chính thức cần tăng cường ứng dụng công nghệ để đưa dịch vụ tài chính đến những vùng sâu, vùng xa; sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã trở thành đối thủ cạnh tranh đáng kể của các tổ chức tài chính vi mô.

4. Một số khuyến nghị

Các tổ chức, chương trình, dự án tài chính vi mô đã cho thấy vai trò tích cực trong xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sức khỏe, giáo dục, nâng cao vai trò, vị thế của người có thu nhập thấp cũng như giảm thiểu tín dụng đen trong xã hội. Nhằm phát triển hoạt động tài chính vi mô để góp thêm một kênh cung cấp vốn sản xuất, kinh doanh cho khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, qua đó, đóng góp cho sự phát triển của tài chính toàn diện tại Việt Nam, một số khuyến nghị được đề xuất như sau:

Đối với các cơ quan quản lí Nhà nước

Sửa đổi các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô, tạo điều kiện phát triển chương trình, dự án tài chính vi mô theo hướng bền vững hơn. Căn cứ theo khoản 5 Điều 32 Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 của Thống đốc NHNN quy định về cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô thì tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài chính vi mô đối với một khách hàng không được vượt quá 100 triệu đồng thì mức vay này được đánh giá còn khá khiêm tốn với mục tiêu toàn diện hóa đối tượng. Thông tư số 03/2018/TT-NHNN cũng không quy định đối tượng khách hàng tài chính vi mô bao gồm người “có thu nhập thấp” như quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 dẫn tới khó khăn cho các tổ chức tài chính vi mô trong mở rộng đối tượng phục vụ.

Cần sự hỗ trợ từ các bộ, ban, ngành để có các kế hoạch phân bổ ngân sách hằng năm cho hoạt động của các tổ chức, chương trình tài chính vi mô; cần có chính sách hấp dẫn kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào hoạt động tài chính vi mô; có chính sách vận động đầu tư cho phát triển xã hội từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm… nhằm nâng cao năng lực tài chính các tổ chức tài chính vi mô.

NHNN tạo điều kiện, cho phép các tổ chức tài chính vi mô mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, đặc biệt tổ chức tài chính vi mô có ứng dụng Core Banking nhằm mở rộng kênh phân phối dựa trên nền tảng công nghệ được phát huy hiệu quả.

Đối với các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Nên mở rộng phạm vi hoạt động để tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô cho người dân, đặc biệt tại các khu vực nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện tại, chỉ có 04 tổ chức tài chính vi mô chính thức, các tổ chức tài chính vi mô này chủ yếu hoạt động ở miền Bắc và miền Nam.

Cần nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm vi mô nhằm đáp ứng được nhiều nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm, dịch vụ hầu như tập trung vào cho vay với mục đích sử dụng chủ yếu cho sản xuất, kinh doanh mà chưa thật sự quan tâm nhiều đến phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng. Sản phẩm cho vay cần đa dạng về kì hạn, phương thức trả lãi, cách thức tính lãi có thể theo thời hạn dưới một tháng như hằng tuần hay nửa tháng.

Các tổ chức tài chính vi mô chính thức có thể nghiên cứu để triển khai dịch vụ tài chính qua điện thoại di động, hợp tác với các tổ chức tín dụng và công ty Fintech để gia tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính cho người dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. CEP, Báo cáo hoạt động và Báo cáo tài chính năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022.

2. Ledgerwood, J., Microfinance handbook: An institutional and financial perspective, The World Bank, 1998.

3. Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, Danh bạ tài chính vi mô Việt Nam, 2018.

4. Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, Báo cáo hoạt động các năm 2019, 2020.

5. NHNN, Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23/02/2018 quy định về cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô.

6. Quốc hội, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020.

8. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/6/2017 quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ.

9. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

10. TYM, Báo cáo hoạt động các năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022.



TS. Huỳnh Thị Hương Thảo
ThS. Võ Thị Thúy Hằng
ThS. Phan Thị Thu Hằng

Khoa Tài chính Kế toán - Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành