Ảnh hưởng của các nền tảng xã hội đối với truyền thông xã hội trong tương lai

Nghiên cứu - Trao đổi
Năm 2022 là một năm có rất nhiều sự biến đổi trong xu hướng truyền thông xã hội, khi chúng ta đã chứng kiến những xu hướng tiêu dùng biến động, công nghệ mới ra mắt và sự bùng nổ của các nền tảng mới. Tốc độ thay đổi trên các ứng dụng truyền thông xã hội đang ngày càng gia tăng, buộc các nhà tiếp thị phải trang bị cho mình những nền tảng phù hợp để ứng phó với sự biến động mạnh sẽ tiếp diễn trong năm 2023.
aa

Năm 2022 là một năm có rất nhiều sự biến đổi trong xu hướng truyền thông xã hội, khi chúng ta đã chứng kiến những xu hướng tiêu dùng biến động, công nghệ mới ra mắt và sự bùng nổ của các nền tảng mới. Tốc độ thay đổi trên các ứng dụng truyền thông xã hội đang ngày càng gia tăng, buộc các nhà tiếp thị phải trang bị cho mình những nền tảng phù hợp để ứng phó với sự biến động mạnh sẽ tiếp diễn trong năm 2023. Tiếp thị truyền thông xã hội đang là thách thức đòi hỏi các thương hiệu cần phản ứng trước những thay đổi và xu thế của khách hàng, đồng thời chủ động thích ứng với các xu hướng đó. Những xu hướng và sự ảnh hưởng của các nền tảng xã hội được các chuyên gia dự đoán sẽ có nhiều tác động đến truyền thông xã hội trong năm 2023 và những năm tiếp theo.

1. Các nền tảng xã hội mới sẽ được khai thác triệt để

TikTok là một ứng dụng tạo video ngắn cho phép người dùng hát, nhảy, diễn xuất hoặc diễn giả các đoạn âm thanh được ghi sẵn. Nền tảng này dùng những thuật toán dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) để giải phóng người dùng khỏi việc phải lựa chọn nhiều video và cung cấp chính xác video mà họ yêu thích. Theo đó, TikTok xác định phân phối thông tin phù hợp tới từng người dùng dựa trên phân tích nội dung của từng video mà họ tương tác. Với sự thành công của TikTok và các hành vi trực tuyến của thế hệ Z nói chung, các thương hiệu sẽ trở nên tự tin hơn trong việc tham gia vào các nền tảng mới nổi.


Ứng dụng Clubhouse đang làm thay đổi thế giới truyền thông xã hội

Ứng dụng BeReal là một nền tảng đang phát triển với rất nhiều hứa hẹn. BeReal chia sẻ ảnh nhắc người dùng đăng một ảnh chưa được lọc, chưa chỉnh sửa mỗi ngày cho một nhóm bạn bè được chọn. Mạng xã hội này ra mắt vào cuối năm 2019, nhưng mức độ phổ biến của nó thực sự bùng nổ vào năm 2022. Tính đến tháng 10/2022, đây là ứng dụng mạng xã hội hàng đầu trên App Store và đã được tải về khoảng 30 triệu lượt với người dùng chủ yếu là phụ nữ và giới trẻ. Đây là một trong những ứng dụng tiềm năng sẽ tiếp tục bùng nổ vào năm 2023.

Một mạng xã hội khác đó là Clubhouse được ra mắt vào tháng 3/2020, thời điểm mà dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng khắp thế giới, ban đầu chỉ có 1.500 người tham gia. Đến khi Giám đốc điều hành Tesla Elon Musk tổ chức một buổi Clubhouse với Giám đốc điều hành Robinhood Vlad Tenev, lúc này lượng người dùng đã tăng lên đột biến. Đầu năm 2021, Clubhouse mới có

2 triệu người dùng nhưng đến cuối năm 2022, ứng dụng này đã đạt hơn 10 triệu người dùng trên toàn cầu.

2. Nội dung do người dùng tạo ra (User Generated Content - UGC) sẽ được đánh giá cao và đáng tin cậy hơn trong tương lai

Việc sử dụng những người có sức ảnh hưởng trong marketing đã được sử dụng rộng rãi từ hầu hết các thương hiệu trên toàn cầu. Xu hướng sử dụng các Influencer (người ảnh hưởng) sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng hơn trong các chiến dịch marketing và quảng cáo của các tổ chức, doanh nghiệp.

Các công ty thuộc mọi quy mô đã hợp tác với những người có ảnh hưởng để giúp nâng cao mức độ nhận diện thương hiệu và tăng doanh số bán hàng một cách nhanh chóng.

Đến năm 2023, chúng ta sẽ chứng kiến nhiều thương hiệu áp dụng hình thức tiếp thị truyền miệng, sử dụng mạng xã hội làm phương tiện để lấy nội dung UGC. Những nội dung được coi là UGC cũng vô cùng đa dạng, đó có thể là các bài đánh giá, hình ảnh, thậm chí là Video Review về một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.

Ngày nay, khách hàng đang dần mất niềm tin vào quảng cáo từ chính doanh nghiệp hoặc thương hiệu. Lý do là vì có rất nhiều nội dung quảng cáo đã bị “thổi phồng” hoặc làm quá lên trong khi sản phẩm thực thì không như lời quảng cáo. Hệ quả là marketing truyền thống đang dần đánh mất vị trí của mình và UGC xuất hiện.

Các nhà tiếp thị đã nhận ra, UGC đã thúc đẩy chuyển đổi Website cao hơn so với các chiến dịch hoặc Website không tận dụng UGC. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí khủng trong quảng cáo mà còn giúp người mua đưa ra quyết định mua hàng một cách sáng suốt, đồng thời tạo được lòng tin với người tiêu dùng cao hơn hẳn so với quảng cáo truyền thống. Nhiều thống kê cho thấy, cứ một khách hàng hài lòng về sản phẩm hay dịch vụ thì họ sẽ “truyền miệng” cho ít nhất 04 người khác. Và khi khách hàng không thích một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, họ sẽ sẵn sàng truyền thông tin tới 12 người khác.

Theo như một số liệu thống kê của Econsultancy (một Website nổi tiếng được thành lập tại Anh), có 61% khách hàng đọc các Review Online trước khi thực hiện hành động mua hàng. Đồng thời, có 63% khách hàng có nhiều khả năng thực hiện hành động mua hàng trên Website có các review của người dùng trước hơn. Vì vậy, không có gì tốt hơn việc thương hiệu của doanh nghiệp dành chỗ cho nội dung do người dùng tạo ra.

Theo một cuộc khảo sát do Deloitte (một mạng lưới dịch vụ kiểm toán đa quốc gia) thực hiện, sự tham gia tích cực của mọi người vào nội dung thương hiệu có thể tăng mức độ tương tác lên tới 30%. Nói cách khác, UGC là một cách hiệu quả để xây dựng lòng trung thành của khách hàng và thể hiện rằng doanh nghiệp luôn lắng nghe và quan tâm đến người tiêu dùng.

3. Khách hàng sẽ chuyển sang mạng xã hội để được chăm sóc

Dịch Covid-19 kéo dài đã làm thay đổi hoàn toàn cách khách hàng tương tác với các thương hiệu trên mạng xã hội. Một trong những thay đổi điển hình nhất mà các thương hiệu đã trải qua là số lượng khách hàng dần chuyển sang các tài khoản mạng xã hội của thương hiệu để giải quyết các câu hỏi và nhu cầu về dịch vụ của họ. Dịch vụ chăm sóc khách hàng trên mạng xã hội luôn là một thành phần của tiếp thị truyền thông xã hội.

Tuy nhiên, do trước đây nhu cầu của khách hàng ít và thậm chí họ muốn được hỗ trợ trực tiếp tại các cửa hàng nên cách thức này chưa được sử dụng rộng rãi. Nhưng với việc phong tỏa và hạn chế đi lại trong thời kỳ dịch Covid-19, các thương hiệu nhận ra rằng, họ không đủ khả năng đáp ứng kỳ vọng của khách hàng nếu không có chiến lược chăm sóc khách hàng xã hội thường xuyên.

Xu hướng này không chỉ duy trì vững chắc trong thời gian qua, mà các thương hiệu cũng sẽ ngày càng thấy nhiều khách hàng chuyển sang các nền tảng truyền thông xã hội cho các vấn đề liên quan đến dịch vụ. Trên thực tế, một cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng, cứ 03 người tiêu dùng thì có 02 người thích sử dụng mạng xã hội trong quá trình mua hàng để đặt câu hỏi, mua hàng và tìm kiếm sự hỗ trợ khách hàng sau khi mua hàng.

Do đó, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc tương tác khách hàng thông qua mạng xã hội và từ đó có thể giúp tăng trải nghiệm khách hàng tốt nhất. Ngoài ra, khi khách hàng đăng bình luận tốt hoặc xấu, cả thế giới đều biết và họ cũng có thể xem cách doanh nghiệp phản ứng trước những bình luận này.

4. Video ngắn sẽ thống lĩnh môi trường truyền thông xã hội

Sự bùng nổ của TikTok và các phiên bản Instagram Reel, Youtube Short trong những năm qua đã khẳng định xu hướng quảng cáo video ngắn đang thống lĩnh thị trường. Nguyên nhân là do người tiêu dùng ngày càng có ít sự kiên nhẫn đối với các video dài và những nội dung có nhiều chữ. Thời gian chú ý ở thế hệ Z chỉ còn kéo dài từ 5 - 6 giây. Vì thế, các thương hiệu cần phải tạo ra bố cục nội dung của video để trong khoảng thời gian ngắn nhất định có thể kể câu chuyện thương hiệu một cách lôi cuốn. Video ngắn hứa hẹn sẽ là loại hình quảng cáo cốt lõi nhờ vào 3 số liệu thống kê sau: 68% mọi người sẽ thích xem video kéo dài trong vòng 1 phút; 49% người dùng chọn video kéo dài dưới 1 phút; 66% người khảo sát chọn quảng cáo video kéo dài dưới 30 giây.

Không chỉ để phục vụ cho mục đích quảng cáo, các thương hiệu có thể tận dụng các nền tảng video ngắn để tăng cường giao tiếp với người tiêu dùng nhằm củng cố việc xây dựng hình ảnh và mức độ nhận diện thương hiệu.

Theo khảo sát, có 90% nhà tiếp thị đang sử dụng Short-form Video cho hoạt động tiếp thị và con số này sẽ tiếp tục tăng vào những năm tới. Bên cạnh đó, 21% nhà nghiên cứu thị trường có kế hoạch tận dụng video dạng ngắn lần đầu tiên vào năm 2023. Xu hướng này được xuất phát do mức độ tập trung xem quảng cáo của người dùng đã giảm, khiến thời lượng thu hút sự chú ý của đối tượng khách hàng với quảng cáo bị rút ngắn đi.

So với quảng cáo dạng tĩnh như Text Ads, Image Ads... thì Video Ads ngắn có thể nhanh chóng khơi dậy sự quan tâm của người tiêu dùng hơn. Bên cạnh đó, video cũng thuận tiện hơn trong việc lan tỏa và phổ biến, mọi người thường có xu hướng chia sẻ video nhiều hơn so với những loại hình khác.

5. Năm 2023 đầu tư số hóa sẽ tăng trưởng mạnh

Mặc dù các doanh nghiệp nhỏ đã đi một chặng đường dài trong việc áp dụng các sản phẩm công nghệ và số hóa, thế nhưng có đến 57% chủ doanh nghiệp nhỏ tin rằng cần nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để hợp lý hóa hoạt động của mình một cách hiệu quả và linh hoạt.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp SaaS (Software as a service) sắp ra mắt có thể sử dụng một công cụ chuyên dụng để thiết kế quy trình quản lý sản phẩm hiệu quả và giám sát quy trình dự án một cách chặt chẽ. Tương tự, một doanh nghiệp thương mại điện tử có thể tận dụng nền tảng tối ưu hóa lộ trình vận chuyển để tạo điều kiện giao hàng nhanh hơn và đơn giản hơn cho doanh nghiệp và khách hàng.

Thị trường kỹ thuật số đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam và được củng cố bởi sự phát triển mạnh mẽ về thương mại điện tử, tài chính số và giáo dục. Thương mại điện tử sẽ là động lực tăng trưởng lớn nhất, với sự đa dạng các nền tảng mua sắm trực tuyến.

Thị trường thương mại điện tử dự kiến sẽ tạo ra mức tăng trưởng cao hơn 25% mỗi năm và có giá trị thị trường là 35 tỷ USD vào năm 2025, tương đương 1/10 tổng doanh số bán lẻ theo tầm nhìn dài hạn của Việt Nam. Trong khi đó, là lĩnh vực quan trọng của đất nước, dịch vụ tài chính đang tận dụng xu hướng số hóa trong các quy trình.

Theo kế hoạch chuyển đổi số đến năm 2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngành dịch vụ tài chính đã được chỉ định đóng vai trò tiên phong trong việc thiết lập một hệ thống số hóa hoàn toàn. Do đó, các ngân hàng hiện đang theo đuổi các chiến lược phát triển kỹ thuật số. Cũng giống như thương mại điện tử, sự dễ dàng và thuận tiện của ngân hàng số sẽ thay đổi cách mọi người thực hiện các giao dịch tài chính.

6. Kết luận

Trong năm 2023 và những năm tiếp theo, không chỉ mô hình kinh doanh được các nhà lãnh đạo chú trọng, mà cùng với đó là trải nghiệm khách hàng, tính bền vững trong mô hình kinh doanh, môi trường làm việc linh hoạt, tạo cho nhân viên nơi làm việc tốt nhất, cũng được các nhà lãnh đạo đầu tư, quan tâm. Các nhà tiếp thị sẽ phải bắt kịp các xu hướng truyền thông xã hội để đồng hành và cùng phát triển. Tính xác thực sẽ chi phối tất cả các khía cạnh của hoạt động tiếp thị và đóng vai trò là thành phần chính tạo nên một chiến dịch quảng cáo phát triển và phát triển bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn cầu.

Sự gia tăng của UGC và video ngắn với chi phí thấp ngày càng chiếm ưu thế trong không gian kỹ thuật số khi người dùng rời xa các chiến dịch hào nhoáng được người nổi tiếng ủng hộ. Thay vào đó, người dùng sẽ tiếp tục bị thu hút bởi trải nghiệm nội dung có ảnh hưởng trực tiếp và sự đánh giá thực tế của khách hàng.

Chính vì vậy, năm 2023, các tổ chức, doanh nghiệp cần đảm bảo rằng, quy trình về môi trường, xã hội cũng như quản trị được ưu tiên nhiều nhất và trở thành chiến lược trọng tâm. Mọi tổ chức, doanh nghiệp cần có một kế hoạch với các mục tiêu và khung thời gian rõ ràng về cách giảm thiểu mọi tác động tiêu cực, đồng thời có kế hoạch và hành động cụ thể, đặc biệt chú trọng đến các nền tảng như: Sản xuất thông minh; công nghệ tài chính và công nghệ bảo hiểm; công nghệ nông nghiệp và thực phẩm; công nghệ tiếp thị và bán hàng; công nghệ chuỗi khối (Blockchain), tiền mã hóa (Tokenomics), vũ trụ ảo (Metaverse)... Các nền tảng này là xu hướng phát triển chủ đạo trong truyền thông xã hội, đặc biệt là trong công cuộc chuyển đổi số đang phát triển mạnh trên toàn cầu hiện nay.


ThS. Trần Quốc Việt

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người gieo mầm “Mùa xuân cách mạng”

Bài viết khắc họa hành trình gieo mầm và vun trồng “Mùa xuân cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những dấu mốc lịch sử trọng đại của dân tộc, từ khởi nguồn lý tưởng cứu nước đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay.
Xem thêm
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành