Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước về Fintech tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Công nghệ & ngân hàng số
Chiều 20/8/2025, tại Hà Nội, Trường Đại học Đại Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Quản lý nhà nước đối với sự phát triển Fintech: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam”. Hội thảo đã tạo diễn đàn trao đổi học thuật cũng như thực tiễn giữa các nhà khoa học, chuyên gia trong nước, quốc tế, cùng chia sẻ kinh nghiệm quản lý, định hình khung khổ pháp lý, cũng như đề xuất giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững của Fintech tại Việt Nam.
aa

Tham dự Hội thảo, về phía các cơ quan Trung ương có ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; GS.,TS. Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư nhà nước, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ; ông Nguyễn Hải Nam - Ủy viên Thường trực Uỷ ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội; TS. Trần Văn - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển Kinh tế số; TS. Hoàng Văn Ninh - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển kinh tế số; ông Nguyễn Minh Hồng - Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội.

Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các tổ chức chính trị - xã hội có bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Phó Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng, NHNN; ông Nguyễn Đức Thuận - Giám đốc Quỹ Môi trường Việt Nam; Luật sư Trương Thanh Đức - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), Giám đốc Công ty luật ANVI; ông Nguyễn Minh Đức - Phó Trưởng phòng Giám sát các hệ thống thanh toán, Vụ Thanh toán, NHNN.

Về phía chuyên gia nước ngoài có ông Cheng Yun Tsang - Giáo sư Luật, Đại học Monash, Australia; ông Thomas Chien - Giám đốc Systex Việt Nam; ông Kim Min Seuk - Trưởng Văn phòng đại diện Trung tâm Hợp tác Công nghệ thông tin Hàn Quốc, Cục xúc tiến công nghiệp công nghệ thông tin Hàn Quốc tại Việt Nam; ông Maxx Tsai, Giám đốc Advantech, Đài Loan; ông James Huang - Giám đốc Điều hành (CEO) BaaS Innovation, Đài Loan; ông Randall E. Duran - Giảng viên cao cấp Đại học Quản lý Singapore, CEO Catena Technologies; ông Sandeep Deobhakta - Nghiên cứu sinh tại Đại học Sains Malaysia; ông Martin Lee - CEO Fintwin Corp Việt Nam; bà Chae Yeon Kim - Trợ lý Điều hành Fintwin Corp Việt Nam; ông Wen Hsoan Kuo - Liên lạc viên Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Loan; GS. Solomon Negash - Giáo sư Hệ thống thông tin tại Đại học Kennesaw State kiêm Nhà sáng lập Fintech và MadLab; ông Mark Birnbaum - Giám đốc dự án tại Deloitte Vietnam; ông Yang Sung Mun - CEO YSM Center.

Về phía Trường Đại học Đại Nam có TS. Lê Đắc Sơn - Chủ tịch Hội đồng Trường; ông Đỗ Quân - Phó Chủ tịch Hội đồng Trường; ông Lê Đắc Lâm - Phó Chủ tịch Hội đồng Trường; PGS., TS. Đào Thị Thu Giang - Hiệu trưởng Nhà trường; PGS., TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính cùng lãnh đạo, cán bộ, giảng viên các khoa, viện, trung tâm và các đơn vị trực thuộc Trường Đại học Đại Nam.

Hội thảo còn có sự tham dự của đông đảo các chuyên gia, nhà nghiên cứu từ các viện nghiên cứu, trường đại học, các ngân hàng thương mại, công ty Fintech trong cả nước.

Fintech trong tầm nhìn chiến lược của Chính phủ về phát triển nền kinh tế

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS., TS. Đào Thị Thu Giang - Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam cho biết, thời gian gần đây, Fintech trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo của nền kinh tế - xã hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt trong xây dựng hành lang pháp lý liên quan đến lĩnh vực này. Tiếp nối thành công của hai kỳ Hội thảo về Fintech năm 2023 và 2024, Hội thảo năm 2025 tập trung thảo luận các vấn đề quản lý nhà nước nhằm xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, tạo động lực cho Fintech phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Thông qua Hội thảo, Trường Đại học Đại Nam hướng tới trở thành cầu nối giữa giới học thuật, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, góp phần hình thành hệ sinh thái Fintech an toàn, minh bạch và bền vững. Hiệu trưởng Đào Thị Thu Giang cũng khẳng định, với vai trò là một trong những cơ sở giáo dục đại học tiên phong nghiên cứu và giảng dạy về Fintech, Trường Đại học Đại Nam cam kết tiếp tục phát huy thế mạnh đào tạo, nghiên cứu, đồng hành cùng Nhà nước trong xây dựng chính sách về Fintech, qua đó khẳng định quyết tâm của Nhà trường trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của Fintech - nhân tố quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam bước vào kỷ nguyên số.

PGS., TS. Đào Thị Thu Giang - Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam phát biểu khai mạc Hội thảo
PGS., TS. Đào Thị Thu Giang - Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam phát biểu khai mạc Hội thảo

Từ góc nhìn của nhà hoạch định chính sách, ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chia sẻ, từ sau đại dịch Covid-19, Fintech đã phát triển mạnh mẽ, đã và đang định hình tương lai ngành công nghệ - tài chính - ngân hàng tại thị trường Việt Nam. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến Fintech như: Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng, tạo hành lang pháp lý bước đầu cho việc thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Đây được coi là một dấu mốc quan trọng, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc chủ động tham gia, thích ứng và nắm bắt cơ hội từ sự phát triển của Fintech, đồng thời bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng. Đặc biệt, Việt Nam cũng đang chủ động tham gia vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu về kinh tế số, thúc đẩy phát triển Fintech; đồng thời đưa nội dung về Fintech vào một số nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân, qua đó tạo động lực mới cho đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Theo ông Nguyễn Đức Hiển, thị trường Fintech Việt Nam đang phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc. Theo số liệu của NHNN, đến cuối năm 2024, hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam đã có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức liên quan đến việc hoàn thiện khung pháp lý khi các quy định hiện hành vẫn chưa theo kịp sự đổi mới của công nghệ và mô hình kinh doanh. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng xây dựng cơ chế pháp lý linh hoạt, phù hợp với thực tiễn, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, cũng như quyền lợi của người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến phát triển Fintech tại Việt Nam
Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến phát triển Fintech tại Việt Nam

Ông Nguyễn Đức Hiển cho biết thêm, hiện nay, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đang khẩn trương nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xác định hướng đi cho việc hoàn thiện khung pháp lý cũng như quản lý nhà nước về Fintech tại Việt Nam. Ông hi vọng Hội thảo sẽ là diễn đàn trao đổi thẳng thắn, cởi mở, tập hợp được nhiều ý kiến đa chiều từ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, cơ quan quản lý, cũng như cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước. Những gợi mở, khuyến nghị từ Hội thảo sẽ góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học, thực tiễn, hỗ trợ Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng chính sách, qua đó tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, thúc đẩy hệ sinh thái Fintech phát triển bền vững tại Việt Nam.

Fintech và công nghệ: Chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tăng cường giám sát tài chính

Tham luận tại Hội thảo với chủ đề “Khám phá đổi mới kinh doanh và vận hành với công nghệ Blockchain”, ông James Huang - CEO BaaS Innovation cho biết, kể từ khi thành lập năm 2017 tại Singapore và phát triển mạnh mẽ tại Đài Loan, suốt 8 năm qua, BaaS Innovation tăng cường hợp tác sâu rộng với Chính phủ, các ngân hàng thương mại cũng như Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa qua việc cung cấp giải pháp Blockchain trong bảo mật dữ liệu, quản lý chuỗi cung ứng, xây dựng nền tảng dữ liệu carbon và quản trị tài sản số. Những ứng dụng này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và tăng cường niềm tin của khách hàng, mà còn mở ra cơ hội cho các tổ chức tài chính truyền thống tham gia sâu hơn vào lĩnh vực tài sản ảo, tài sản số.

Ông James Huang cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh quốc tế gần đây có nhiều thay đổi khi Chính phủ Mỹ và nhiều quốc gia ban hành luật pháp liên quan đến quản lý tài sản ảo và tài chính phi tập trung (DeFi), tạo điều kiện để các tổ chức tài chính truyền thống tham gia sâu hơn vào lĩnh vực tiền mã hóa. Vì vậy, với giải pháp thanh toán xuyên biên giới bằng stablecoin, công ty đã giúp nhiều doanh nghiệp Đài Loan giao dịch thuận lợi với các đối tác tại Nam Mỹ và Nam Phi, khắc phục rủi ro tỉ giá của các đồng tiền của những quốc gia này và gia tăng giá trị thương mại quốc tế cho đất nước. Theo ông James Huang, đây là minh chứng rõ nét cho thấy Blockchain không chỉ là công nghệ của tương lai, mà đã trở thành nền tảng đổi mới, tái định hình mô hình kinh doanh và vận hành toàn cầu.

Ông James Huang - CEO BaaS Innovation khẳng định, Blockchain không chỉ là công nghệ của tương lai, mà đã trở thành nền tảng đổi mới, tái định hình mô hình kinh doanh và vận hành toàn cầu.
Ông James Huang - CEO BaaS Innovation khẳng định, Blockchain không chỉ là công nghệ của tương lai, mà đã trở thành nền tảng đổi mới, tái định hình mô hình kinh doanh và vận hành toàn cầu

Trước sự phát triển mạnh mẽ của Fintech trên thế giới, vấn đề chuyển đổi số quản lý tài chính cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các nền kinh tế. Theo đó, ông Cheng Yun Tsang - Giáo sư Luật Đại học Monash, Australia cho rằng, hiện nay các cơ quan quản lý đang gặp nhiều thách thức khi các quy định không theo kịp tốc độ phát triển của Fintech, do vậy, chuyển đổi số những quy định tài chính trở nên vô cùng cần thiết. Các khung pháp lý truyền thống vốn được thiết kế cho hệ thống tài chính - ngân hàng cũ đang dần bộc lộ hạn chế, khó theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ mới. Do đó, ông Cheng Yun Tsang khẳng định, các quốc gia cần xây dựng cách tiếp cận “Regtech” (Regulatory Technology) hay SupTech (Supervisory Technology) - để ứng dụng công nghệ trong thiết kế, giám sát và thực thi chính sách tài chính nhằm vừa bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số.

Về xu hướng hoạt động của các cơ quan quản lý trong vài năm gần đây, ông Cheng Yun Tsang cho biết thêm, nhiều quốc gia đã bắt đầu triển khai các nền tảng quản lý dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát theo thời gian thực, phát hiện rủi ro sớm và tăng cường minh bạch thông tin. Chẳng hạn như Dự án Ellipse do Trung tâm Đổi mới Sáng tạo của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS Innovation Hub) phối hợp với Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) khởi động ngày 31/3/2022, nhằm thí điểm các giải pháp công nghệ mới trong giám sát tài chính. Dự án tập trung vào việc ứng dụng Big Data, AI… để nâng cao hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và tăng cường minh bạch cho hệ thống tài chính. Đây được coi là một mô hình Regtech - Suptech tiêu biểu, mang lại nhiều kinh nghiệm quý cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, trong quá trình xây dựng khung pháp lý và giám sát lĩnh vực Fintech.

Xây dựng khung pháp lý đối với sự phát triển Fintech: Bước đi chiến lược của các quốc gia trên thế giới trong thời đại số

Tại Hội thảo, bà Lindy Tsai - Nhà sáng lập và CEO công ty IREGTECH, Đài Loan, chuyên gia đầu tư tiền mã hóa đã chia sẻ tham luận: “Phát hiện gian lận và quản trị tài sản tiền mã hóa: Khung pháp lý về AI và quy định tại Đài Loan”.

Bà Lindy Tsai cho biết, sự bùng nổ của công nghệ số đã làm mối đe dọa về tội phạm liên quan đến tiền ảo ngày càng gia tăng từ các hành vi gian lận, rửa tiền cho đến tấn công mạng vào sàn giao dịch và ví điện tử. Tại Đài Loan, hotline 165 để gọi và báo cáo với cảnh sát về các hành vi lừa đảo liên quan đến tiền ảo, tiền mã hóa hoạt động 24/7 và được coi là công cụ quan trọng trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Theo thống kê năm 2025, Đài Loan có tới 90.000 vụ lừa đảo mỗi năm và thiệt hại lên tới hàng triệu Đài tệ do các vụ việc liên quan đến tội phạm tiền ảo, cho thấy mức độ nghiêm trọng và sự cấp thiết của việc hoàn thiện khung pháp lý cũng như tăng cường các công cụ bảo vệ người dùng trong lĩnh vực này.

Chính vì vậy, Chính phủ Đài Loan đang có những bước đi tiên phong và hiệu quả trong xây dựng khung pháp lý cho tài sản mã hóa, kết hợp công nghệ để bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Bà Lindy Tsai cũng chia sẻ mô hình giám sát “ba bên” tại Đài Loan, trong đó, Chính phủ giữ vai trò ban hành và hợp thức hóa khung pháp lý; các tổ chức tự quản xây dựng quy tắc ứng xử, chuẩn mực hoạt động; cuối cùng là sự phối hợp của các cơ quan pháp lý, doanh nghiệp, hiệp hội ngành, nghề… nhằm tạo lập cơ chế giám sát minh bạch, linh hoạt, hài hòa giữa đổi mới sáng tạo và an toàn thị trường.

Ngoài ra, việc nhận diện những bất thường và cảnh báo sớm các nguy cơ tấn công mạng, rửa tiền hay gian lận cũng là bước cần thiết trong quản trị tài sản tiền mã hóa tại Đài Loan. Việc ứng dụng AI không chỉ giúp tăng cường hiệu quả giám sát, bảo vệ người dùng mà còn hỗ trợ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác hơn. Đây được coi là giải pháp mang tính đột phá, góp phần hoàn thiện khung pháp lý hiện đại và xây dựng một hệ sinh thái tài sản mã hóa minh bạch, an toàn và bền vững - bà Lindy Tsai chia sẻ.

Bà Lindy Tsai - Nhà sáng lập và CEO công ty IREGTECH, chuyên gia đầu tư tiền mã hóa chia sẻ mô hình giám sát “ba bên” tại Đài Loan trong việc phát hiện gian lận và quản trị tài sản tiền mã hóa
Bà Lindy Tsai - Nhà sáng lập và CEO công ty IREGTECH, chuyên gia đầu tư tiền mã hóa chia sẻ mô hình giám sát “ba bên” tại Đài Loan trong việc phát hiện gian lận và quản trị tài sản tiền mã hóa

Trong tham luận “Quản lý nhà nước về AI và chính sách đối với Fintech: Góc nhìn pháp lý”, ông Randall E. Duran - Giảng viên cao cấp Đại học Quản lý Singapore, CEO Catena Technologies chia sẻ, AI hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các ứng dụng Fintech, từ chấm điểm tín dụng, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận đến quản lý tài sản, nhưng ở mỗi quốc gia lại xây dựng cơ chế quản lý, giám sát và các chính sách liên quan đến Fintech khác nhau. Cụ thể: (i) Tại Malaysia, Chính phủ cân nhắc kỹ lưỡng khi ứng dụng AI trong Fintech, bao gồm việc xác định những loại hình cần quản lý, các chính sách quản lý hay khuyến khích sử dụng AI, cũng như mức độ giám sát phù hợp để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Tại Hoa Kỳ, cấu trúc giám sát phân tán theo thẩm quyền được áp dụng, khi các công ty Fintech chịu sự quản lý khác nhau tại từng bang với các cơ chế và chính sách đa dạng. (iii) Tại châu Âu, các chính phủ thành viên áp dụng cách tiếp cận toàn diện dựa trên rủi ro, trong đó các hệ thống AI có rủi ro cao chịu các yêu cầu bắt buộc nghiêm ngặt hơn. (iv) Tại Nhật Bản, mô hình luật mềm (soft law) được triển khai, với Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản (JISA) khuyến khích doanh nghiệp áp dụng AI theo hướng cân bằng, vừa minh bạch vừa linh hoạt để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. (v) Tại Singapore, Chính phủ áp dụng mô hình hợp tác đa cơ quan, trong đó các cơ quan quản lý phối hợp chặt chẽ để giám sát AI trong Fintech, đảm bảo đồng bộ giữa đổi mới công nghệ và quản lý rủi ro, đồng thời thúc đẩy môi trường pháp lý minh bạch và ổn định.

Từ những kinh nghiệm quốc tế, ông Randall E. Duran khẳng định, việc xây dựng khung pháp lý linh hoạt, minh bạch và thích ứng với rủi ro là chìa khóa để phát triển Fintech bền vững trong kỷ nguyên AI.

Ông Randall E. Duran, Giảng viên Đại học Quản lý Singapore, CEO Catena Technologies chia sẻ về kinh nghiệm quản lý nhà nước về AI và chính sách đối với Fintech tại một số quốc gia trên thế giới
Ông Randall E. Duran - Giảng viên cao cấp Đại học Quản lý Singapore, CEO Catena Technologies chia sẻ về kinh nghiệm quản lý nhà nước về AI và chính sách đối với Fintech tại một số quốc gia trên thế giới

Cùng sự phát triển mạnh mẽ của ngành Fintech trên thế giới, ngành Fintech của Việt Nam cũng đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức đan xen - TS. Lương Thị Thu Hằng - Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân khẳng định tại tham luận: “Phát triển bền vững ngành Fintech của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp”. Theo đó, hiện nay hệ sinh thái Fintech ở Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng, đặc biệt trong các lĩnh vực thanh toán, cho vay ngang hàng, ngân hàng số và quản lý tài sản với quy mô thị trường Fintech tại Việt Nam ước tính sẽ đạt 50,2 tỉ USD vào năm 2029 (Statista, 2024), cho thấy tiềm năng tăng trưởng của Fintech là rất lớn song cũng đặt ra nhiều yêu cầu về quản trị rủi ro, khung pháp lý và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.

TS. Lương Thị Thu Hằng cho biết, sự phát triển bền vững của ngành Fintech được đánh giá dựa trên mô hình Triple Botton Line với ba trụ cột Kinh tế, Môi trường và Xã hội. Trên khía cạnh kinh tế, Fintech ứng dụng các công nghệ AI, Blockchain để cắt giảm chi phí, thúc đẩy tăng trưởng, gia tăng hiệu quả vận hành của hệ thống tài chính - ngân hàng và nâng cao tính an toàn cho các giao dịch tài chính. Về khía cạnh xã hội, với quy mô dân số lớn và phân bố đa dạng ở các vùng miền, việc phát triển hệ sinh thái Fintech cũng sẽ góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện trong toàn xã hội. Về khía cạnh môi trường, việc hạn chế thải khí carbon bằng cách sử dụng dịch vụ thanh toán không tiền mặt, ngân hàng số thân thiện với môi trường hay các nền tảng gọi vốn cộng đồng có sự hỗ trợ của các bên liên quan cũng góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Đây chính là những nền tảng quan trọng để bảo đảm sự phát triển lâu dài của ngành Fintech tại Việt Nam, gắn kết mục tiêu tăng trưởng kinh tế với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường của Nhà nước và cộng đồng.

TS. Lương Thị Thu Hằng - Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh, hiện nay hệ sinh thái Fintech ở Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ
TS. Lương Thị Thu Hằng - Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh, hiện nay hệ sinh thái Fintech ở Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ

TS. Lương Thị Thu Hằng cũng đưa ra một số rào cản đối với sự phát triển ngành Fintech tại Việt Nam như sau: Thứ nhất là khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ và chưa theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ. Thứ hai là hạ tầng công nghệ và dữ liệu còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc chia sẻ, kết nối và bảo mật thông tin. Thứ ba là năng lực quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp Fintech còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh gia tăng các hành vi gian lận, tội phạm công nghệ cao và những biến động thị trường. Thứ tư là niềm tin và nhận thức của người dùng về tài chính bền vững còn chưa cao. Thứ năm là tồn tại khoảng cách trong khả năng tiếp cận dịch vụ Fintech giữa các nhóm dân cư, đặc biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm dân trí cao và nhóm yếu thế.

Để bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành Fintech Việt Nam, theo TS. Lương Thị Thu Hằng, Việt Nam cần đẩy mạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ và dữ liệu nhằm tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ thông tin an toàn, xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ và bảo mật. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ tài chính cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và nhóm yếu thế. Đồng thời, tăng cường truyền thông, giáo dục tài chính để nâng cao nhận thức, niềm tin của người dùng đối với các dịch vụ Fintech, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện trong cả nước.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới

Trong phiên thảo luận mở tại Hội thảo, các vị diễn giả đã cùng lắng nghe, chia sẻ quan điểm, mở rộng góc nhìn đa chiều đối với chính sách, pháp lý và chiến lược phát triển Fintech. Từ đó rút ra những gợi mở quan trọng cho hành lang pháp lý và cơ chế quản lý Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Hải Nam - Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, phát triển Fintech không chỉ là xu hướng tất yếu của cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư mà còn là nhân tố quan trọng để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế số và tài chính quốc gia đến năm 2030 và các giai đoạn tiếp theo. Về kỳ vọng đối với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, ông Nguyễn Hải Nam nhấn mạnh, Việt Nam cần xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ, linh hoạt, minh bạch và tương thích với thông lệ quốc tế, vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech đổi mới, sáng tạo và mở rộng dịch vụ. Đây là nền tảng quan trọng để Fintech thực sự trở thành động lực thúc đẩy Chiến lược phát triển kinh tế số và tài chính quốc gia đến năm 2030 và các giai đoạn tiếp theo.

Về vai trò, trọng trách và nhiệm vụ của Quốc hội trong bối cảnh này, ông Nguyễn Hải Nam khẳng định, Quốc hội đã xác định ưu tiên thúc đẩy hoàn thiện hành lang pháp lý, đồng thời khuyến khích phát triển Fintech toàn diện. Các nỗ lực này bao gồm việc rà soát, điều chỉnh các bộ luật và văn bản dưới luật hiện hành, bổ sung quy định mới về thanh toán điện tử, bảo vệ người tiêu dùng, an ninh mạng và quản lý rủi ro tài chính, đồng thời khuyến khích ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng. Những bước đi này góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng và chiến lược phát triển của Nhà nước, hướng tới một hệ sinh thái Fintech bền vững, minh bạch và hội nhập quốc tế.

Phiên thảo luận tại Hội thảo đã đưa ra gợi mở quan trọng về chính sách, pháp lý và chiến lược phát triển ngành Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới
Phiên thảo luận tại Hội thảo đã đưa ra nhiều gợi mở quan trọng về chính sách, pháp lý và chiến lược phát triển ngành Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới

Theo Luật sư Trương Thanh Đức - Trọng tài viên VIAC, Giám đốc Công ty luật ANVI, Đảng và Nhà nước đã xác định Fintech là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế số và tài chính quốc gia. Vì vậy, định hướng hiện nay là xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, linh hoạt, minh bạch, vừa bảo đảm an toàn, ổn định cho hệ thống tài chính, vừa tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Fintech phát triển sáng tạo, mở rộng dịch vụ và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, từ góc nhìn chuyên gia pháp lý, Luật sư Trương Thanh Đức cho biết, thách thức lớn nhất hiện nay là sự nhanh chóng biến đổi của công nghệ so với nhịp độ xây dựng pháp luật khi pháp luật hiện hành chưa theo kịp được tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ, dẫn tới nguy cơ khoảng trống pháp lý hoặc chồng chéo giữa các văn bản luật. Tại Việt Nam hiện nay, ngoại trừ trung gian thanh toán đã có cơ sở pháp lý đầy đủ, tiền kỹ thuật số, tiền ảo chưa có khung pháp lý thực sự. Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 chính là bước đầu để hoàn thiện khung pháp lý về tiền kỹ thuật số.

Ngoài ra, còn tồn tại một số thách thức khác, bao gồm bảo mật dữ liệu cá nhân; phòng, chống rửa tiền; quản lý rủi ro tài chính và gian lận công nghệ. Theo Luật sư Trương Thanh Đức, để khắc phục những thách thức này, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp Fintech và các tổ chức quốc tế, đồng thời cập nhật các tiêu chuẩn quản trị rủi ro và bảo mật thông tin theo thông lệ quốc tế, nhằm xây dựng một hệ sinh thái Fintech minh bạch, bền vững và hội nhập quốc tế. Đây cũng chính là nguyên tắc cốt lõi để cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - Luật sư Trương Thanh Đức nhấn mạnh.

Chia sẻ về mô hình và cơ chế quản lý Fintech của Đài Loan, bà Lindy Tsai - Nhà sáng lập và CEO công ty IREGTECH cho biết, Đài Loan đã xây dựng một khung pháp lý linh hoạt kết hợp giữa sandbox và cơ chế giám sát dựa trên rủi ro. Đồng thời, cơ chế quản lý của Đài Loan cũng tập trung vào việc minh bạch hóa dữ liệu, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phòng, chống rửa tiền, tạo nền tảng để Fintech phát triển bền vững và dễ dàng hội nhập với các chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, bà Lindy Tsai nhấn mạnh đến sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp thông qua hợp tác công - tư hay sự phối hợp xuyên biên giới giữa các quốc gia để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chặt chẽ về Fintech cũng như giải quyết vấn đề gian lận tài chính.

Về các vấn đề phát sinh (Sunrise Issue) khi luật và tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng sớm, bà Lindy Tsai nhấn mạnh, Việt Nam nên chủ động tham gia các tiêu chuẩn quốc tế từ sớm thay vì chờ các nước lớn định hình. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ người dùng và rủi ro hệ thống, mà còn tạo cơ hội để Việt Nam đóng góp tiếng nói trong việc định hình các tiêu chuẩn toàn cầu, đồng thời tăng khả năng hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong lĩnh vực tài sản số.

Theo ông Randall E. Duran - Giảng viên cao cấp Đại học Quản lý Singapore, CEO Catena Technologies, sự khác biệt trong quản lý nhà nước về Fintech giữa châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Singapore chủ yếu nằm ở cách tiếp cận cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro. Nếu châu Âu áp dụng cách tiếp cận toàn diện dựa trên rủi ro, ưu tiên khung pháp lý chặt chẽ, đặt quyền lợi người dùng và đạo đức công nghệ lên hàng đầu thì Mỹ lại thiên về thúc đẩy đổi mới, với cơ chế giám sát linh hoạt theo từng bang và dựa trên sự tự điều chỉnh của doanh nghiệp. Ở Nhật Bản và Singapore, Chính phủ áp dụng mô hình giám sát mềm dẻo hơn, có sự phối - kết hợp giữa các bên liên quan để vừa bảo vệ hệ thống tài chính, vừa tạo không gian thử nghiệm cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới. Theo đó, bài học quan trọng mà Việt Nam có thể rút ra là cần xây dựng một khung pháp lý minh bạch, linh hoạt, kết hợp Sandbox và giám sát dựa trên rủi ro, nhằm vừa thúc đẩy Fintech, vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính, tránh tụt lại so với các quốc gia đi trước.

Ông Randall E. Duran cho biết, để việc xây dựng hệ sinh thái giám sát Fintech hiện đại, Việt Nam nên bắt đầu từ một chiến lược đồng bộ, trong đó khung pháp lý là nền tảng để tạo sự minh bạch và ổn định; hạ tầng dữ liệu là trụ cột để giám sát và quản lý rủi ro hiệu quả; đồng thời nâng cao năng lực nhân sự quản lý để triển khai các chính sách và công nghệ một cách hiệu quả. Ba yếu tố này cần được phát triển đồng thời, nhưng việc thiết lập hành lang pháp lý minh bạch và cơ chế giám sát dựa trên rủi ro là bước đi đầu tiên, tạo nền tảng cho việc xây dựng hệ sinh thái Fintech bền vững và hội nhập quốc tế.

Từ khía cạnh doanh nghiệp công nghệ, ông James Huang - CEO BaaS Innovation, Đài Loan đã chia sẻ những khó khăn khi doanh nghiệp đưa Blockchain vào vận hành thực tế, theo đó, rào cản lớn nhất thường là sự thiếu đồng bộ và chưa rõ ràng của khung pháp lý, cả trong nước lẫn quốc tế. Ngoài ra, việc mỗi quốc gia áp dụng các quy định và tiêu chuẩn giám sát khác nhau cũng tạo ra rủi ro pháp lý, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc triển khai các ứng dụng Blockchain một cách toàn diện và tuân thủ đầy đủ. Ông nhấn mạnh, để thúc đẩy phát triển Blockchain bền vững, cần có cơ chế pháp lý minh bạch, linh hoạt, đồng thời triển khai các mô hình “sandbox” thử nghiệm và tiêu chuẩn hóa kỹ thuật, giúp doanh nghiệp vừa đổi mới sáng tạo, vừa giảm thiểu rủi ro pháp lý.

Ở Việt Nam, các quy định liên quan đến tiền ảo, giao dịch tài sản số hay hợp đồng thông minh vẫn chưa đầy đủ, dẫn đến khoảng trống pháp lý và khó khăn trong triển khai các ứng dụng Blockchain một cách toàn diện. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với thách thức khi muốn tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế, bởi mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận, yêu cầu pháp lý và giám sát khác nhau, tạo ra rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ cao.

Để doanh nghiệp công nghệ có thể phát triển mạnh mẽ hơn tại Việt Nam, ông James Huang khuyến nghị các cơ quan quản lý nên chủ động xây dựng cơ chế phối hợp với doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, thúc đẩy áp dụng sandbox, chuẩn hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật, nhằm giúp doanh nghiệp triển khai sản phẩm, dịch vụ một cách hiệu quả, giảm rủi ro pháp lý và thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Qua phiên thảo luận, tương tác sôi nổi giữa các vị đại biểu là những nhà hoạch định chiến lược, cơ quan lập pháp và doanh nghiệp, nhà đầu tư, cũng như các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Hội thảo đã hình thành một bức tranh toàn diện hơn, mở rộng góc nhìn đa chiều đối với chính sách, pháp lý và chiến lược phát triển Fintech, từ đó gợi mở quan trọng cho hành lang pháp lý và cơ chế quản lý Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới.

Các vị đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo
Các vị đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo
Phạm Trang

Tin bài khác

Rào cản từ hệ thống ngân hàng lõi kế thừa trong quá trình chuyển đổi số và tích hợp trí tuệ nhân tạo của ngành Ngân hàng

Rào cản từ hệ thống ngân hàng lõi kế thừa trong quá trình chuyển đổi số và tích hợp trí tuệ nhân tạo của ngành Ngân hàng

Trong kỷ nguyên của tốc độ và dữ liệu, ngành Ngân hàng toàn cầu đang phải chuyển mình để duy trì khả năng cạnh tranh và ổn định. Bài viết phân tích các thách thức trọng yếu mà hệ thống ngân hàng lõi kế thừa đặt ra trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất các chiến lược hiện đại hóa nhằm giúp các ngân hàng xây dựng nền tảng công nghệ linh hoạt, an toàn cho kỷ nguyên số.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của ngân hàng không chi nhánh đến niềm tin khách hàng trong bối cảnh ngân hàng số Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho bối cảnh Việt Nam, đồng thời củng cố các lý thuyết trước đó về niềm tin trong môi trường ngân hàng số.
Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Tích hợp chuẩn mực đạo đức trí tuệ nhân tạo vào khung đạo đức nghề nghiệp ngân hàng

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình hoạt động của ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra nhiều thách thức đạo đức mới như thiên vị thuật toán và sự thiếu minh bạch.
Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Nền tảng dữ liệu số về công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Trong bối cảnh kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ và nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ số ngày càng tăng cao, ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, tiện ích mới, mang lại nhiều trải nghiệm cho khách hàng. Tuy nhiên, tội phạm công nghệ cao hiện đang gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương (CBDC) là một dạng tiền pháp định kỹ thuật số, do chính Ngân hàng Trung ương phát hành, bảo lãnh. Loại tài sản này được kỳ vọng sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia thông qua việc giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ xử lý.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tăng tốc chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số, AI không chỉ là một công cụ công nghệ đơn lẻ mà đã trở thành một động lực cốt lõi, một chất xúc tác chiến lược định hình lại toàn bộ kiến trúc và mô hình vận hành của ngành Ngân hàng.
Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025: Một số thành tựu, thách thức và định hướng chiến lược

Năm 2025, ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam đã hình thành nền tảng số hóa vững chắc, mở ra một giai đoạn phát triển mới với mức độ trưởng thành cao hơn về dịch vụ số, hạ tầng định danh điện tử và mô hình vận hành hiện đại. Những thành tựu này tạo đà thuận lợi để toàn ngành bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động, sẵn sàng khai thác các cơ hội tăng trưởng gắn với công nghệ và dữ liệu.
Xem thêm
Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo KPI - Yêu cầu tất yếu của cải cách công vụ hiện nay

Bài viết phân tích thực trạng, nguyên nhân và khẳng định sự cần thiết đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng áp dụng các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicators - KPI), đồng thời đề xuất giải pháp triển khai phù hợp với khu vực công.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Bài viết làm rõ triển vọng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đồng thời chỉ ra những điều kiện then chốt để mô hình này phát triển hiệu quả, bền vững và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Thực thi chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư xanh - Khó khăn và giải pháp khắc phục

Tài chính xanh chỉ có thể phát huy hiệu quả khi dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và thực chất, nhằm bảo đảm tín dụng xanh không chỉ là trách nhiệm với cộng đồng mà còn trở thành cơ hội chiến lược để các ngân hàng định vị hướng phát triển bền vững của mình.
Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm tiền gửi trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ pháp lý bảo vệ người gửi tiền tại Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển theo chiều sâu và rủi ro lan truyền gia tăng, bảo hiểm tiền gửi đang được tái định vị như một công cụ chính sách chủ động nhằm quản trị rủi ro hệ thống và củng cố niềm tin thị trường.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Khung pháp lý áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ khi thực hiện chuẩn mực an toàn vốn: Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết tổng hợp và phân tích hệ thống quy định của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, kết hợp với kinh nghiệm triển khai khuôn khổ pháp lý để áp dụng xếp hạng nội bộ từ Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á điển hình (Singapore, Thái Lan, Malaysia...). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng cụ thể nhằm giúp Việt Nam xây dựng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn trong nước, tiến tới áp dụng thành công xếp hạng nội bộ theo thông lệ quốc tế.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phòng, chống rửa tiền trong giao dịch tài sản mã hóa: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh xét theo cả quy mô giao dịch và mức độ phổ cập trong đời sống tài chính, yêu cầu hoàn thiện khung phòng, chống rửa tiền trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, bởi các chỉ dấu khách quan cho thấy Việt Nam vừa nằm trong nhóm quốc gia có giá trị giao dịch trên chuỗi rất lớn.
Pháp luật Liên minh châu Âu  về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Pháp luật Liên minh châu Âu về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử

Dữ liệu cá nhân giữ vai trò nền tảng trong thương mại điện tử, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động tương tác và kinh doanh trên môi trường số. Bài viết phân tích quy định của EU (đặc biệt là GDPR 2016), đánh giá tác động thực thi, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra bất cập và đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng