Thứ Hai, ngày 01 tháng 03 năm 2021

Những điểm sáng của ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2020 và triển vọng năm 2021

Ngày đăng:09:45 19/02/2021
Lượt xem: 617
Cỡ chữ
Năm 2020, kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19, nhiều nước rơi vào khủng hoảng kép về y tế và kinh tế, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái sâu, suy giảm khoảng âm 4% (theo Ngân hàng Thế giới) và âm 4,4% (theo Quỹ Tiền tệ quốc tế).

 
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một điểm sáng với việc thực hiện thành công mục tiêu kép: phòng, chống dịch bệnh hiệu quả và phục hồi kinh tế. Tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 2,91%, tuy là mức thấp nhất trong 10 năm qua nhưng là một trong số ít các nước đạt tăng trưởng dương và thuộc nhóm có mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản ổn định trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động: xuất siêu lập kỷ lục mới, khoảng 19,1 tỷ USD; lạm phát bình quân được kiểm soát theo mục tiêu, ở mức 3,23%; tỷ giá ổn định; nợ công và thâm hụt ngân sách Nhà nước dù tăng cao nhưng trong tầm kiểm soát; đầu tư công là điểm sáng khi vốn thực hiện tăng mạnh; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt được nhiều kết quả tích cực với nhiều hiệp định thương mại được ký kết, có hiệu lực (như EVFTA, RCEP) và làm tròn trách nhiệm năm là Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA-41, Thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc... Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng không chỉ làm tốt chức năng cung ứng, phân bổ vốn mà còn có một vai trò đặc biệt hơn - làm trụ đỡ, sát cánh bên doanh nghiệp, người dân cùng vượt qua thách thức, đóng góp vào kết quả chung của nền kinh tế. Qua đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng khẳng định được sự lành mạnh và khả năng chống chịu rủi ro bên ngoài. Năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025), trong đó có nội dung đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; đòi hỏi toàn ngành Ngân hàng nỗ lực, sẵn sàng thay đổi hơn nữa để mang lại một diện mạo mới, hiện đại và bền vững hơn.
 
 
Sáu điểm sáng nổi bật
 
Vượt qua hàng loạt khó khăn, năm 2020, ngành Ngân hàng tiếp tục hoạt động ổn định và đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Thị trường được củng cố, thanh khoản dồi dào, lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức thấp; mặt bằng lãi suất tiền gửi phổ biến tại các ngân hàng giảm từ 0,9 - 1,5% (ngắn hạn) và khoảng 0,6 - 1,5% (trung dài hạn) so với đầu năm; lãi suất cho vay cũng giảm nhanh, khoảng 0,5 - 2% so với đầu năm; tỷ giá tiếp tục ổn định, giá trị VND được nâng cao; dự trữ ngoại hối tiếp tục được bổ sung, giúp đảm bảo an ninh tài chính tiền tệ quốc gia và củng cố mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam. Theo NHNN, tổng vốn huy động toàn hệ thống đến 21/12/2020 tăng 12,87% (ước cả năm tăng 13,5%) trong điều kiện lãi suất giảm sâu. Tín dụng cũng hồi phục trở lại trong những tháng cuối năm, đến ngày 28/12/2020, dư nợ tín dụng tăng 11,08% so với cuối năm 2019. Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động ổn định, lành mạnh, nợ xấu tiềm ẩn tăng nhưng trong tầm kiểm soát, năng lực tài chính (nhất là vốn chủ sở hữu) được củng cố,… Tựu chung lại, xét trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế thế giới và Việt Nam, năm 2020 có thể đánh giá là năm thành công của ngành Ngân hàng, với sáu điểm sáng dưới đây.
 
Thứ nhất, thành công trong điều hành chính sách tiền tệ
 
Trong năm qua, chính sách tiền tệ đã được NHNN điều hành linh hoạt theo hướng nới lỏng thận trọng, phù hợp nhằm đảm bảo thanh khoản và hỗ trợ phục hồi kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh. Ba giải pháp chính gồm: (i) 3 lần giảm lãi suất điều hành với mức giảm tổng cộng lên đến 1,5 - 2%, qua đó giảm chi phí vốn cho nền kinh tế, người dân, doanh nghiệp và TCTD, song vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát chất lượng tín dụng và lạm phát; (ii) hỗ trợ thanh khoản thị trường thông qua linh hoạt bơm hoặc hút tiền trên thị trường mở; (iii) kiểm soát cung tiền, điều hành chính sách tiền tệ phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát và hỗ trợ nền kinh tế.
 
Thứ hai, ngành Ngân hàng tiếp tục thể hiện tốt vai trò trụ cột của nền kinh tế, đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh dịch bệnh
 
Lường đón trước tác động tiêu cực của dịch Covid-19, NHNN đã khẩn trương ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN (Thông tư 01) ngày 13/3/2020 cho phép TCTD giãn, hoãn nợ, giảm lãi, phí, không chuyển nhóm nợ và cho vay mới đối với khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 về các giải pháp cấp bách của ngành Ngân hàng nhằm tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19; Thông tư số 04/2020/TT-NHNN ngày 31/3/2020 điều chỉnh giảm 50% phí giao dịch thanh toán qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng; Thông tư số 08/2020/TT-NHNN ngày 14/8/2020 giãn tiến độ 1 năm áp dụng tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tạo điều kiện để các TCTD giảm chi phí vốn và giảm lãi suất cho vay.
 
Trên tinh thần đó, các TCTD triển khai hàng loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân như: giảm lãi suất 0,5 - 1,5% đối với dư nợ hiện hữu; cung ứng các gói tín dụng lãi suất ưu đãi từ 1 - 2,5%; cơ cấu lại nợ, giãn thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01; miễn, giảm phí các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền cho doanh nghiệp, người dân. Kết quả thực hiện đến nay rất tích cực. Đến hết ngày 21/12/2020, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ khoảng 270 nghìn khách hàng với dư nợ 355 nghìn tỷ đồng (chiếm 4% tổng dư nợ nền kinh tế); miễn, giảm, hạ lãi suất cho vay hơn 590 nghìn khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng và cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 trên 2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng. Sau hai lần giảm phí, 63% giao dịch thanh toán qua liên ngân hàng 24/7 được miễn, giảm phí với tổng số năm 2020 ước khoảng 1.004 tỷ đồng. Theo ước tính của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV (tháng 4/2020), với các biện pháp hỗ trợ này, lợi nhuận ngành Ngân hàng năm 2020 - 2021 dự báo có thể giảm 25 - 30 nghìn tỷ đồng, tương đương mức giảm 20 - 25% lợi nhuận so với kế hoạch ban đầu. 
 
Thứ ba, hệ thống thể chế, pháp luật lĩnh vực ngân hàng ngày càng hoàn thiện
 
Song song với các giải pháp tháo gỡ khó khăn do dịch Covid-19, trong năm 2020, NHNN đã đề xuất hoặc ban hành nhiều văn bản hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng như: Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ và Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Thông tư số 09/2020/TT-NHNN ngày 21/10/2020 quy định về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng; Thông tư số 06/2020/TT-NHNN ngày 30/6/2020 quy định về kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,… 
 
Thứ tư, thành công trong thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) của nền kinh tế
 
Trước xu thế chuyển đổi số của nền kinh tế, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp, chính sách để tạo thuận lợi cho các TCTD chuyển đổi số như: Ban hành Quyết định số 711/QĐ-NHNN ngày 15/4/2020 về Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam; khảo sát hoạt động ngân hàng số tại Việt Nam (Công văn số 5753/NHNN-TT ngày 11/8/2020) nhằm nắm bắt thực trạng chuyển đổi số của hệ thống; Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 4/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Nhiều cơ chế, chính sách khác cũng được NHNN dự thảo, dự kiến hoàn thiện năm 2021 như: Đề án cơ chế quản lý thử nghiệm (Regulatory Sandbox) đối với hoạt động công nghệ tài chính (Fintech), cho vay ngang hàng (P2P Lending), Nghị định thay thế Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về TTKDTM, Đề án triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money)… Những động thái này sẽ tác động tích cực đến tiến trình chuyển đổi số và TTKDTM của nền kinh tế thời gian tới.
 
Theo đó, năm 2020, hoạt động chuyển đổi số của hệ thống ngân hàng và TTKDTM đạt được những bước tiến đáng ghi nhận. Theo khảo sát của NHNN, đến hết tháng 9/2020, 94% ngân hàng bước đầu triển khai hoặc xây dựng chiến lược chuyển đổi số; 59% ngân hàng đang triển khai chuyển đổi số. Mới đây, Vietcombank ra mắt dịch vụ ngân hàng số VCB Digibank, BIDV phát động Chiến dịch chuyển đổi số. Trước đó, VietinBank triển khai ứng dụng VietinBank iPay Mobile 5.1, VPBank ra mắt ngân hàng số Yolo,… Nhờ đó, giá trị và số lượng TTKDTM tăng trưởng nhanh. Đến cuối tháng 10/2020, giao dịch thanh toán qua điện thoại di động tăng 123,9% về số lượng và 125,4% về giá trị; thanh toán qua Internet tăng 8,3% về số lượng và 25,5% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2019.
 
Thứ năm, ngân hàng là một trong những ngành phục hồi nhanh sau dịch Covid-19, thể hiện khả năng chống chịu và thích ứng với thay đổi
 
Minh chứng rõ nhất có thể thấy là tăng trưởng tín dụng dù gặp nhiều khó khăn nhưng đã hồi phục dần từ tháng 7/2020 và có sự bứt phá trong những tháng cuối năm (Hình 1). Cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát. Đến 21/12/2020, tín dụng cho xuất khẩu tăng 10,4%, tín dụng cho nông nghiệp tăng 9,8%, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11%. Trong khi đó, tín dụng trong lĩnh vực BOT, giao thông giảm 0,59%, tín dụng cho chứng khoán chỉ tăng nhẹ 0,2%.
 
Bên cạnh đó, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng trưởng khá dù chịu nhiều ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong 9 tháng đầu năm, tổng lợi nhuận trước thuế của 24 ngân hàng công bố Báo cáo tài chính đạt 90.378 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kết quả này chỉ phản ánh phần nào bởi các TCTD vẫn đang tiếp tục cơ cấu lại, giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01. Khi Thông tư này hết hiệu lực, các chi phí để xử lý nợ tiềm ẩn nợ xấu sẽ tăng cao, gây áp lực lên lợi nhuận. Ước tính cả năm 2020, lợi nhuận trước thuế của hệ thống sẽ tăng khoảng 12% so với năm 2019, thấp hơn nhiều so với mức tăng khoảng 30% của năm 2019, tức vẫn giảm 20 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu.
 
Thứ sáu, những tháng cuối năm 2020 ghi nhận sự chuyển sàn, niêm yết thành công của nhiều ngân hàng 
 
Tại Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018, Chính phủ đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành niêm yết cổ phiếu các NHTM cổ phần trên sàn chứng khoán Việt Nam. Theo đó, trong năm 2020, đã có đến 9 ngân hàng, gồm 3 ngân hàng niêm yết (LPB, VIB, MSB), 5 ngân hàng chính thức giao dịch trên UPCoM (BVB, NAB, SGB, PGB, ABB) và 1 ngân hàng chuyển sàn từ HNX sang HoSE (ACB) thành công. Hiện có 3 ngân hàng khác là SHB, OCB và SeABank đã nộp hồ sơ niêm yết lên HoSE. Động thái chuyển sàn/niêm yết cổ phiếu này được đánh giá mang lại 3 lợi ích lớn cho các ngân hàng: (i) thực hiện đúng theo mục tiêu, chỉ đạo của Chính phủ/NHNN tại Chiến lược phát triển ngành; (ii) giá cổ phiếu nhiều ngân hàng tăng trưởng vượt bậc so với đầu năm (VIB tăng hơn 90%, LPB tăng 70%, ACB tăng hơn 60%,…); (iii) mở rộng cơ hội tăng vốn, cải thiện khả năng thu hút vốn trong tương lai với kỳ vọng được định giá tốt hơn,... Tuy vậy, đến cuối năm 2020, vẫn còn một số NHTM cổ phần chưa thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
 
Năm hạn chế, khó khăn ngành Ngân hàng tiếp tục phải đối mặt
 
Thứ nhất, rủi ro, từ bên ngoài: Thời gian qua, kinh tế thế giới đã “ấm” dần lên, nhiều nền kinh tế thoát đáy suy thoái, song tốc độ phục hồi vẫn chưa vững chắc trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Trong khi đó, vắc-xin Covid-19 đang trong giai đoạn thử nghiệm và dự báo sử dụng rộng rãi sớm nhất vào nửa cuối năm 2021. Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế trong nước do Việt Nam là nước có độ mở lớn (tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2020 tương đương khoảng 200% GDP).
 
Thứ hai, chất lượng tài sản của hệ thống tiềm ẩn nhiều rủi ro: Trước tác động tiêu cực của dịch Covid-19, bức tranh nợ xấu của hệ thống TCTD được dự báo sẽ kém khả quan trong năm 2020 và cả những năm tiếp theo, nhất là sau khi Thông tư 01 hết hiệu lực. Đến cuối tháng 10/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống đã vượt 2%. Theo dự báo, tỷ lệ nợ xấu gộp đến cuối năm 2021 có thể lên mức 3,5 - 4%. 
 
Thứ ba, nhiều rủi ro mới xuất hiện và gia tăng, yêu cầu các TCTD chú trọng hơn vào công tác quản trị: Những bất ổn của thị trường, xu hướng ứng dụng công nghệ hiện đại kéo theo nhiều rủi ro cho hoạt động ngân hàng. Đầu tiên là rủi ro an ninh mạng. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, trong năm 2020, có đến gần 5.200 sự cố tấn công mạng ở Việt Nam, nhiều cuộc tấn công nhắm vào ngân hàng. Hai là, vấn đề về bảo mật dữ liệu khách hàng và chia sẻ thông tin, nhất là khi quy định về eKYC đã được ban hành. Ba là, rủi ro đến từ hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) do còn thiếu minh bạch thông tin, mặt bằng lãi suất bị đẩy lên (lên tới 12 - 15%/năm). Để hạn chế rủi ro, ngày 9/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 quy định về phát hành TPDN theo hướng thắt chặt hơn các điều kiện phát hành. 
 
Thứ tư, thể chế pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện, nhất là đối với các mô hình kinh doanh mới: Nhiều quy định liên quan đến TTKDTM, ngân hàng số như Mobile Money, Fintech, P2P Lending, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 101 về TTKDTM… đang được hoàn thiện, dự thảo Nghị định về thị trường mua - bán nợ, một số quy định pháp lý theo yêu cầu hội nhập (nhất là CPTPP, EVFTA, RCEP,…). Các xu thế mới được nhiều nước trong khu vực đang và sẽ áp dụng rộng rãi như cấp phép mô hình ngân hàng số 100%, phát hành tiền kỹ thuật số của NHTW,… cũng cần được quan tâm, nghiên cứu và có phương án tiếp cận kịp thời.
 
Thứ năm, thách thức đối với quá trình cơ cấu lại hệ thống vẫn còn hiện hữu, đặc biệt là cơ cấu lại các TCTD yếu kém còn gặp nhiều khó khăn, chưa đạt tiến độ yêu cầu: Vốn tự có của các ngân hàng vẫn chỉ ở mức vừa đủ và cần phải gia tăng nhiều để đáp ứng nhu cầu tương lai. Trong bối cảnh nợ xấu có nguy cơ tăng cao, những ngân hàng này có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro, gây sức ép lên an toàn hệ thống. Trong khi đó, việc xử lý nợ xấu còn vướng mắc như xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) còn hạn chế, phức tạp; chưa có một thị trường mua - bán nợ chuyên nghiệp; nguồn lực xử lý nợ hạn hẹp; khung pháp lý còn nhiều bất cập dù đã hoàn thiện hơn từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu ra đời như vấn đề định giá nợ xấu và TSBĐ còn khó khăn; chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành (nhất là trong thực hiện quyền thu giữ TSBĐ, thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ, áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp tại Tòa án,…). Theo đó, việc luật hóa xử lý nợ xấu là hết sức cần thiết.
 


Ngành Ngân hàng thành công trong thúc đẩy chuyển đổi số và TTKDTM trong nền kinh tế
 
Xu hướng hoạt động ngân hàng năm 2021 và một số kiến nghị
 
Trong năm 2021, ngành Ngân hàng Việt Nam sẽ phát triển theo 5 xu hướng tác động chính gồm: (i) Quy định pháp lý ngày càng hoàn thiện và theo hướng chặt chẽ hơn, trong đó tập trung vào hoàn thiện, ban hành các văn bản đã được dự thảo, lấy ý kiến từ năm 2020; (ii) Xu hướng phát triển tài chính số, ngân hàng số, Fintech, tiền kỹ thuật số mạnh mẽ hơn trong năm 2021; (iii) Xu thế hợp tác, kết nối và liên kết gia tăng: giữa ngân hàng với bảo hiểm (banca-assurance), với chứng khoán (nghiệp vụ ngân hàng đầu tư - investment banking, tín thác đầu tư, quản lý tài sản, chứng khoán hóa…), với Fintech và Bigtech và các tổ chức khác tạo hệ sinh thái với ngân hàng làm trung tâm,… (iv) Xu hướng tăng đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật, tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm dịch vụ cung ứng, hiện đại hóa trong quy trình đảm bảo an toàn an ninh mạng, bảo mật dữ liệu khách hàng; và (v) Xu hướng tái định vị kênh phân phối để tiết kiệm chi phí, cải thiện hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
 
Trên cơ sở đó, để tiếp tục phát triển bền vững, ngăn ngừa và hạn chế những rủi ro trong năm 2021, chúng tôi xin kiến nghị một số giải pháp chính như sau:
 
Đối với Chính phủ, NHNN và các bộ, ngành liên quan
 
Một là, đẩy nhanh hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam cũng như cải thiện, nâng cao chất lượng phối hợp chính sách giữa các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, cần tập trung: (i) xem xét luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu, Nghị định về thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp; (ii) sửa Luật NHNN (2010) theo hướng tăng dần tính độc lập của NHNN, sửa Luật các TCTD (2010, 2017) nhằm tăng tính tự chủ, thị trường và minh bạch của các TCTD, có thể xem xét cho phép thành lập ngân hàng số 100% đến năm 2025; (iii) sửa Luật Bảo hiểm tiền gửi (2012) theo hướng tăng vai trò, trách nhiệm của Bảo hiểm tiền gửi, hạn mức đền bù và phân nhóm ngân hàng theo mức độ rủi ro; đồng thời, (iv) đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới (như P2P Lending, Fintech, TTKDTM, tiền kỹ thuật số, giao dịch xuyên biên giới, cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu…), cũng như thúc đẩy phối hợp giữa các bộ, ngành để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số nền kinh tế.
 
Hai là, cần có khung chính sách, quản lý và biện pháp cụ thể nhằm hạn chế rủi ro hệ thống và mạng lưới an toàn hệ thống tài chính, thông qua nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực này và nâng cao năng lực (nhất là về nhân lực, công nghệ, cơ sở dữ liệu…) của các cơ quan quản lý.
 
Ba là, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng tài chính (như hệ thống thanh toán hiện đại, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, thông tin tín dụng, hệ thống cơ sở dữ liệu…) để tạo điều kiện cho việc nâng cao năng lực quản trị hệ thống, cũng như gia tăng cạnh tranh với các TCTD trong khu vực và có thể xa hơn.
 
Bốn là, về hỗ trợ khách hàng chịu tác động bởi dịch bệnh Covid-19, NHNN thống nhất với Bộ Tài chính phương án về lộ trình giữ nguyên nhóm nợ và trích dự phòng rủi ro phù hợp với bản chất của các khoản nợ xấu và năng lực tài chính của các TCTD sau khi Thông tư 01 hết hiệu lực nhằm tránh cú sốc cho các TCTD và ảnh hưởng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
 
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại, nhất là các TCTD yếu kém, tăng năng lực tài chính và cơ cấu vốn cho các NHTM. Theo đó, NHNN và Bộ Tài chính xem xét phương án tiếp tục cấp bổ sung vốn cho các NHTM Nhà nước, áp dụng các biện pháp mạnh mẽ hơn để thúc đẩy các NHTM cổ phần nhanh chóng niêm yết trên thị trường chứng khoán, thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia cơ cấu lại các TCTD yếu kém,...  
 
Đối với các TCTD
 
Một là, thay đổi, cập nhật mô hình và định hướng chiến lược kinh doanh trong bối cảnh bình thường mới, trong đó lưu ý cấu phần hội nhập và chuyển đổi số; đánh giá các yếu tố mới xuất hiện, những thay đổi của môi trường kinh doanh cả bên ngoài lẫn bên trong đến chiến lược dài hạn của mỗi ngân hàng. Trong tiến trình chuyển đổi số, cần chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, hệ sinh thái với ngân hàng giữ vai trò trung tâm và nguồn nhân lực số.
 
Hai là, tăng cường công tác quản trị rủi ro. Các yếu tố bất thường đến từ môi trường vĩ mô (dịch bệnh, căng thẳng địa chính trị, biến đổi khí hậu, kinh tế thế giới suy thoái,..) sẽ mang đến nhiều rủi ro cho nền kinh tế nói chung và hoạt động ngành Ngân hàng nói riêng trong giai đoạn tới. Theo đó, công tác quản trị rủi ro (nhất là rủi ro hoạt động, rủi ro tuân thủ, vấn đề an ninh mạng và bảo mật an toàn thông tin,…) cần được toàn Ngành chú trọng, có các giải pháp, kế hoạch ứng phó nhằm xử lý và hạn chế thiệt hại trong từng trường hợp.
 
Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu đối với các cú sốc bên ngoài. Xu hướng chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của các Fintech, Bigtech đặt ra thách thức không nhỏ đối với mô hình kinh doanh ngân hàng truyền thống. Theo đó, điều kiện tiên quyết để các ngân hàng phát triển nhanh và bền vững là tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, hiện đại hóa về tất cả các mặt tài chính, nhân lực, hạ tầng công nghệ,… Những điểm này có thể làm tăng chi phí của ngân hàng trong ngắn hạn nhưng lại cần thiết và mang lại lợi ích về lâu về dài.
 
Cuối cùng, rà soát, tái thiết kế, định vị lại mạng lưới kênh phân phối. Hiện nay, khách hàng ngày càng ưa thích hơn việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động, internet. Theo đó, từng ngân hàng nên xem xét lại vai trò, đóng góp của từng đơn vị vào hiệu quả hoạt động, từ đó có sự điều chỉnh, sắp xếp cho phù hợp với nhu cầu thực tế.


TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Tạp chí Ngân hàng số 3+4/2021

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao