Xu hướng tăng quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của ngân hàng thương mại Việt Nam

Công nghệ & ngân hàng số
Một trong những xu hướng đáng mừng, diễn biến rất tích cực trong quá trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn hội nhập sâu rộng kinh tế qu...
aa

Một trong những xu hướng đáng mừng, diễn biến rất tích cực trong quá trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế hiện nay là phát triển các dịch vụ ngân hàng tiện ích và hiện đại, tăng quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập. Xu hướng này phù hợp với hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển, giảm thiểu rủi ro, đảm bảo các NHTM phát triển bền vững. Để thấy rõ thực trạng của xu hướng trên, bài viết nghiên cứu và phân tích số liệu trong báo cáo tài chính hết quý III/2018 đã được công bố của các NHTM cổ phần đang niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trên cơ sở đó, đưa ra một số nhận xét, khuyến nghị.

Phát triển các dịch vụ ngân hàng tiện ích và hiện đại là xu hướng phù hợp

để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo các NHTM phát triển bền vững

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng trưởng mạnh

Dựa trên nguồn thông tin chính thức từ báo cáo tài chính chưa được kiểm toán nói trên của các NHTM cổ phần Việt Nam đã được công bố công khai theo quy định của pháp luật, xét về con số tuyệt đối thì Vietcombank hiện nay đang là NHTM có quy mô thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng lớn nhất, có kết quả kinh doanh ổn định nhất từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2018, đạt tới hơn 2.600 tỷ đồng trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh này, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2017. Mức tăng trưởng khá ấn tượng, tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank chưa cải thiện được nhiều, chỉ xoay quanh mức 9%. Thực tế này cũng cho thấy, mức độ cạnh tranh trong phát triển dịch vụ phi tín dụng giữa các NHTM ở Việt Nam rất lớn, áp lực giữ vững và phát triển thị phần cạnh tranh của Vietcombank ngày càng cao. Giải pháp cho mục tiêu tăng quy mô của thu nhập hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Vietcombank đó là có chiến lược thực hiện nâng cấp các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) hỗ trợ dịch vụ, tăng tốc độ xử lý giao dịch, tăng mức độ phòng ngừa rủi ro, nâng cao mức độ an toàn cho khách hàng; đồng thời phát triển thêm một số ứng dụng mới tiện ích cho khách hàng, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ trên thiết bị di động và internet, gia tăng tần suất giao dịch cho đông đảo khách hàng để tăng trưởng doanh thu. Với chiến lược này, nguồn thu từ các dịch vụ truyền thống, có thế mạnh của Vietcombank như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại và tài trợ xuất khẩu, thẻ tín dụng, thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước… vẫn giữ được ổn định.

Hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Vietcombank còn được kỳ vọng sẽ bứt phá hơn nữa nhờ vào hoạt động dịch vụ bancassurance khi thực tế ngân hàng này dù đang có cơ sở dữ liệu khách hàng lớn nhất nhưng chưa triển khai mạnh nguồn thu từ bán bảo hiểm. Được biết, hiện nay, Vietcombank đang công khai tìm kiếm đối tác bảo hiểm với tổng giá trị lên tới 1 tỷ USD.

Tham khảo diễn biến nguồn thu lãi từ các hoạt động dịch vụ phi tín dụng hết quý III/2018 so với cùng kỳ năm 2017 của các NHTM cổ phần đang niêm yết ở hình vẽ dưới đây. (Hình 1)


Đứng thứ hai có BIDV và Techcombank là hai NHTM có quy mô lớn nguồn thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng, đạt trên 2.000 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2018; trong đó, BIDV đạt 2.541 tỷ đồng, tăng 19%; Techcombank đạt 2.113 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2017. Nghiên cứu thuyết minh báo cáo tài chính của Techcombank, ngoài dịch vụ thanh toán, tiền mặt thì hợp tác bảo hiểm và bảo lãnh phát hành chứng khoán là những nguồn thu chính của ngân hàng này trong 9 tháng đầu năm 2018.

Đứng vị trí tiếp theo về quy mô thu nhập từ hoạt động dich vụ phi tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2018 đạt trên 1.000 tỷ đồng, đó là Vietinbank, Sacombank, MB, ACB, VPBank. Trong nhóm này, MB có tăng trưởng cao nhất với 63%, đạt 1.688 tỷ đồng, chủ yếu nhờ khoản thu đột biến từ kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, lãi 860 tỷ đồng, gấp 3,2 lần cùng kỳ; tiếp đến là Vietinbank, đạt 1552,6 tỷ đồng, tăng trưởng 48,6% so cùng kỳ.

Xét về tỷ trọng lãi thuần từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trên tổng thu nhập hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam, nhìn chung, chưa có cải thiện nhiều. Tỷ lệ này ở các NHTM quy mô nhỏ vẫn chỉ khoảng từ 2 - 5%. Các NHTM quy mô lớn như BIDV, Vietcombank vẫn dưới 10%. Nhóm NHTM cổ phần tư nhân lớn và có quy mô khá như Sacombank, Techcombank, MB, ACB, VIB, TPBank có tỷ trọng cao nhất cũng ở mức trên 12%. (Hình 2)


Techcombank và Sacombank đang là hai NHTM có tỷ trọng thu nhập dịch vụ cao nhất thị trường khi lần lượt đạt 16% và 22%. Đây đều là hai NHTM có các hợp đồng kinh doanh hợp tác lớn với một số công ty bảo hiểm vào cuối năm 2017. Theo đó, tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng tại Sacombank năm 2017 đạt tới 40% và tại Techcombank là 28%. Không còn nguồn thu đột biến ghi nhận một lần như năm 2017 nhưng dịch vụ kinh doanh bảo hiểm vẫn đang mang đến nguồn thu nhập khá ổn định cho hai ngân hàng.

Những NHTM Việt Nam có tốc độ cải thiện tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng trong tổng thu nhập mạnh mẽ nhất trong 9 tháng đầu năm 2018 đó là VIB, TPBank, HDBank.

Tại TPBank, tỷ trọng thu nhập của hoạt động dịch vụ phi tín dụng chỉ ở mức 5,1% cùng kỳ năm 2017, thì đã tăng vọt lên 10,9% trong 9 tháng đầu năm 2018. Sự tăng trưởng đột biến này cũng góp phần giúp lợi nhuận của TPBank tăng cao dù bị hạn chế tăng trưởng tín dụng trong quý III/2018 do đã chạm trần hạn mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo. Tỷ trọng này tại HDBank tăng từ 1,9% năm 2017 lên đến 5% trong 9 tháng của năm 2018, tại VIB tăng từ 8,7% lên 12,2%. Điểm chung ở cả 3 ngân hàng này là nhờ khoản thu đột biến từ hoa hồng bảo hiểm. Tuy nhiên, bên cạnh đó, thu nhập từ dịch vụ thanh toán cũng rất ấn tượng, như tại TPBank tăng gấp 2,5 lần; tại VIB tăng 74%.

Thống kê từ 20 NHTM cổ phần đã công bố báo cáo tài chính hết quý III/2018, thì có 16 trong số 20 ngân hàng đều có nguồn thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2018 cao hơn so với cùng kỳ năm 2017; có 4 ngân hàng còn lại là VPBank, ABBank, BacABank và VietBank quy mô nguồn thu nhập này cũng chỉ giảm nhẹ, cụ thể: VPBank giảm 3%, nhưng vẫn có thu nhập hơn 1.004 tỷ đồng. ABBank chỉ giảm 2 tỷ đồng xuống 128 tỷ đồng, BacABank giảm 3 tỷ đồng xuống 37 tỷ đồng, VietBank giảm 2 tỷ đồng.

Nhiều ngân hàng dù các hoạt động kinh doanh không được như mục tiêu đề ra nhưng riêng nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng vẫn tăng ổn định. Chẳng hạn, tại LienVietPostBank, trong quý III/2018, thu nhập lãi thuần giảm 7%, hoạt động kinh doanh ngoại hối bị lỗ 21 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh khác bị lỗ 57 tỷ đồng thì dịch vụ phi tín dụng lại là điểm sáng khi tăng 76% so với cùng kỳ năm 2018, đạt con số thu nhập là 42 tỷ đồng, nâng quy mô thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong 9 tháng đầu năm 2018 lên 83 tỷ đồng, gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2017.

Kết luận và khuyến nghị

Trong thời gian qua, môi trường hoạt động tín dụng có nhiều khó khăn, mức độ rủi ro còn lớn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý chặt chẽ tăng trưởng dư nợ cho vay hằng năm của các NHTM nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, nguồn thu nhập từ hoạt động cho vay vốn đối với khách hàng chậm lại, thì có thể thấy hoạt động dịch vụ phi tín dụng đem lại nguồn thu nhập khá ổn định cho hầu hết các NHTM Việt Nam trong 9 tháng của năm 2018, nếu NHTM nào có bị giảm thì mức giảm cũng không nhiều, không biến động lớn, biến động bất thường như kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán,… Do đó, chiến lược tăng tỷ trọng thu nhập dịch vụ phi tín dụng vẫn được các NHTM Việt Nam tiếp tục tập trung cho hoạt động này. Trong bối cảnh cách mạng 4.0, ứng dụng công nghệ Fintech, Blockchain, sử dụng thiết bị di động, sự phát triển của công nghệ số, Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường chỉ đạo, thúc đẩy mạnh mẽ, các NHTM Việt Nam cũng ngày càng cạnh tranh quyết liệt hơn, tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính, nhân lực, phát triển và nâng cao các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là các dịch vụ hiện đại, như: internet banking, ngân hàng số, sử dụng mã QR, ví điện tử... Các NHTM cũng mở rộng hợp tác với ngành thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội, công ty cung ứng dịch vụ thanh toán, các công ty và tổ chức cung ứng dịch vụ công như: điện lực, viễn thông, truyền hình cáp, nước sạch, bệnh viện, xăng dầu, giao thông đường bộ và đường sắt, các hãng hàng không, trạm đăng kiểm giao thông, trường đại học và cao đẳng, dạy nghề,…; công ty xuất khẩu lao động, công ty du lịch; siêu thị, trung tâm thương mại, các công ty bảo hiểm,… Việc cung ứng các dịch vụ phi tín dụng cũng giúp các NHTM Việt Nam bán chéo các sản phẩm như: tiền gửi, thấu chi,… Vấn đề đặt ra là sự chuyển động mạnh mẽ về phía các cơ quan chức năng, bài viết xin đưa ra một số khuyến nghị sau:

Một là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Công thương… phối hợp chặt chẽ cần tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho các hoạt động thanh toán điện tử, sử dụng hóa đơn điện tử, sử dụng mã QR của khách quốc tế tại Việt Nam.

Hai là, Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Thuế có biện pháp cụ thể kiểm tra, quản lý các trường hợp né tránh thanh toán không dùng tiền mặt để trốn thuế; chỉ đạo Kho bạc Nhà nước kiểm soát chặt chẽ quy định thanh toán không dùng tiền mặt của các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước.

Ba là, các bộ/ngành có liên quan chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp kiểm soát các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp,… cung ứng dịch vụ công từ chối, né tránh hay trì hoãn áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Bốn là, ngành Bưu chính Viễn thông cần tăng cường đầu tư đảm bảo chất lượng và sự ổn định vận hành của mạng truyền thông trong cả nước cũng như nối với quốc tế, tăng cường tính bảo mật, an toàn cho các đối tượng sử dụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2018 của các NHTM cổ phần được chọn lọc.

TS. Đỗ Quang Trị

Nguồn: TCNH số 23/2018

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Tăng cường quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng nhằm kiến tạo niềm tin số

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về quản trị và bảo vệ thông tin. Bài viết phân tích vai trò của dữ liệu cá nhân, các rủi ro phát sinh trong ngân hàng số và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng và củng cố niềm tin số trong hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân

An ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Vì thế, thời gian qua, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tăng cường công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Ứng dụng các thuật toán học sâu nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), học sâu và các công nghệ an ninh tiên tiến, qua đó đánh giá hạ tầng bảo mật và đề xuất các giải pháp chiến lược giai đoạn 2026 - 2030 nhằm chuyển đổi sang hệ sinh thái an ninh chủ động, bảo vệ hiệu quả tài sản, con người và uy tín của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong ngân hàng số: Góc nhìn từ pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bảo vệ quyền lợi khách hàng trong ngân hàng số: Góc nhìn từ pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bài viết phân tích khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số, chỉ ra những hạn chế trong cơ chế bảo vệ quyền lợi khách hàng và đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cơ hội, rủi ro và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị

Bài viết phân tích toàn diện việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, làm rõ các cơ hội, rủi ro và đề xuất khuôn khổ quản trị nhằm bảo đảm khai thác công nghệ này một cách hiệu quả, an toàn và bền vững.
Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Stablecoin neo theo Euro: Các kịch bản tác động và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số

Trong vài năm trở lại đây, thế giới chứng kiến sự phát triển của stablecoin neo theo các đồng tiền pháp định, nổi bật nhất, stablecoin neo theo USD chiếm áp đảo, nó không chỉ làm thay đổi cấu trúc thị trường tài sản số mà còn bắt đầu để lại dấu ấn đậm nét trên thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ - một trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu. Tại các khu vực đồng tiền khác cũng như Khu vực đồng Euro câu chuyện này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Bài viết phân tích một cách hệ thống cơ chế truyền dẫn của stablecoin neo theo Euro, các kịch bản tác động và đưa ra một số hàm ý chính sách.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành