Việt Nam tuân thủ các khuyến nghị và tiếp tục tăng cường thực hiện nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống rửa tiền

Hoạt động ngân hàng
Trong xu thế hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, tốc độ luân chuyển các luồng vốn giữa các nước tăng mạnh, các hành vi và thủ đoạn rửa tiền cũng biến đổi ngày c...
aa

Trong xu thế hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, tốc độ luân chuyển các luồng vốn giữa các nước tăng mạnh, các hành vi và thủ đoạn rửa tiền cũng biến đổi ngày càng tinh vi và phức tạp hơn.

Theo Văn phòng Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (United Nations Office on Drugs and Crime - UNODC), số tiền được coi là “rửa tiền” trên toàn cầu ước tính trung bình khoảng 2,4 nghìn tỷ USD một năm¹ và số lượng thực tế bị phát hiện mới chỉ chiếm chưa đến 1%. Hầu hết các quốc gia trên toàn cầu đã ban hành các quy định pháp luật để ngăn chặn các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố, đồng thời, hướng tới mục tiêu thu hồi tối đa tiền, tài sản có được từ hoạt động phạm tội. Các quy định đó về cơ bản được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí (PCRT/TTKB/TTPBVK) do Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) ban hành (hay còn được gọi là các khuyến nghị của FATF).

FATF là một cơ quan liên chính phủ được thành lập vào năm 1989, đưa ra các chuẩn mực và thúc đẩy việc thực thi có hiệu quả công tác PCRT/TTKB/TTPBVK và những hiểm họa có liên quan khác. Tính đến thời điểm hiện tại, hơn 190 quốc gia trên toàn cầu đã cam kết thực thi các khuyến nghị của FATF thông qua mạng lưới các tổ chức liên kết khu vực kiểu FATF (FSRB) như Nhóm châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG), Lực lượng đặc nhiệm tài chính vùng Caribe (CFATF), Nhóm Á Âu (EAG).... Các khuyến nghị của FATF về PCRT/TTKB/TTPBVK không ràng buộc về mặt pháp lý quốc tế nhưng đưa ra tổ hợp các biện pháp toàn diện và gắn bó chặt chẽ mà các quốc gia cần thực hiện nhằm chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trên cơ sở thực thi của các quốc gia, thông qua các đợt đánh giá đa phương của các tổ chức khu vực, FATF có thể đưa các quốc gia không tuân thủ các khuyến nghị trên vào danh sách bị rà soát thường xuyên hay danh sách tăng cường khi quốc gia đó có những thiếu hụt trong khuôn khổ pháp lý và hiệu quả thực thi công tác PCRT/TTKB/TTPBVK.

Năm 2007, Việt Nam là thành viên chính thức của Nhóm châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG)², thành viên liên kết của FATF, là một tổ chức liên chính phủ hợp tác trong lĩnh vực chống rửa tiền, hoạt động theo mô hình FSRB tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Với tư cách là thành viên của APG, theo quy trình đánh giá đa phương về cơ chế chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố đối với các nước thành viên, Việt Nam đã trải qua hai đợt đánh giá đa phương lần thứ nhất của APG vào năm 2009 và lần thứ hai vào năm 2019. Trên cơ sở những thiếu hụt đã được chỉ ra tại các bản báo cáo đánh giá đa phương liên quan đến khuôn khổ pháp lý cũng như hiệu quả thực thi của công tác PCRT/TTKB/TTPBVK tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và các bộ, ngành, các đơn vị liên quan đã nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của công tác phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ cho khủng bố và qua đó, đã nỗ lực triển khai ngày càng có hiệu quả hơn công tác này thông qua việc ban hành và triển khai có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua như: Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Phòng, chống khủng bố; Nghị định số 81/2019/NĐ-CP ngày 11/11/2019 của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng và các thông tư, văn bản hướng dẫn dưới Luật. Ngoài ra, Việt Nam cũng đẩy mạnh hơn nữa việc giám sát việc thực thi các quy định về PCRT/TTKB/TTPBVK đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là các lĩnh vực mới nổi mà tội phạm có khả năng sử dụng để thực hiện các hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí như tài sản ảo, cho vay ngang hàng, các sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ mới.

Bên cạnh những nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành và tổ chức trong nước, việc đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế với các cơ quan phòng, chống tội phạm các nước là một trong những yếu tố then chốt để thực hiện công tác PCRT/TTKB/TTPBVK một cách hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển.

Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là những văn bản luật được Quốc hội ban hành quy định lĩnh vực tương trợ tư pháp. Luật là bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp. Có thể nói, đến nay, Việt Nam đã có khung pháp lý tương đối toàn diện và phù hợp đối với lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự, dân sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và trao đổi thông tin giữa cơ quan phòng, chống rửa tiền, cơ quan thực thi pháp luật liên quan tới các tội phạm rửa tiền, tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Khung pháp lý này được tăng cường bởi các cơ chế hợp tác song phương và đa phương để đảm bảo công tác hợp tác quốc tế chính thức và không chính thức nhằm trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện công tác PCRT/TTKB/TTPBVK với các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã gia nhập một số tổ chức quốc tế lớn về phòng, chống rửa tiền trong khu vực, tham gia các Công ước quốc tế và phê chuẩn thực hiện các công ước như Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các loại ma túy và chất hướng thần năm 1988 (Công ước Viên), Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo), Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (Công ước Merida), Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia…, tham gia Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự khối ASEAN, ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương về tương trợ tư pháp và dẫn độ. Đặc biệt, thực hiện kế hoạch hành động giải quyết những rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố giai đoạn 2019 - 2020 ban hành theo Quyết định số 474/QĐ-TTg ngày 30/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã chính thức gia nhập Mạng lưới liên cơ quan thu hồi tài sản Khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ARIN - AP) vào tháng 12/2020.

Trong trao đổi thông tin với các nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký các bản ghi nhớ về trao đổi thông tin nhằm chống tội phạm rửa tiền với 09 quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia… Việt Nam đã thể hiện sự sẵn sàng và quyết tâm hội nhập quốc tế trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm rửa tiền nói riêng, bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính, là cơ sở quan trọng cho các tổ chức quốc tế đánh giá đầy đủ, toàn diện về cơ chế PCRT/TTKB/TTPBVK của Việt Nam.

Thời gian tới, hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực PCRT/TTKB/TTPBVK cần phải tiếp tục được tăng cường, đặc biệt phải đẩy mạnh trao đổi thông tin giữa cơ quan đầu mối thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền của Việt Nam (Cục Phòng, chống rửa tiền - Ngân hàng Nhà nước) với các cơ quan thực thi pháp luật khác như cơ quan Thuế, Hải quan, Công an, Quốc phòng… và các đối tác nước ngoài nhằm phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia nói chung, tội phạm rửa tiền nói riêng./.

¹ Nguồn: https://www.amlintelligence.com/2020/11/opinion-intelligence-led-approach-key-to-tackling-financial-crime-in-the-future/

² APG là một tổ chức quốc tế được tổ chức trên nguyên tắc tự nguyện tham gia và hợp tác, thành lập tại Bangkok, Thái Lan năm 1997 bởi 13 thành viên sáng lập bao gồm: Úc, Bangladesh, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, New Zealand, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan, Mỹ, Vanatu.


Cục Phòng, chống rửa tiền
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng