Tín dụng chính sách: Nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ

Hoạt động ngân hàng
Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phụ nữ; ban hành nhiều văn kiện, nghị quyết, chính sách, pháp luật, nghị định...
aa

Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác phụ nữ; ban hành nhiều văn kiện, nghị quyết, chính sách, pháp luật, nghị định... khẳng định và bảo vệ quyền của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Với vai trò là cánh tay nối dài của Chính phủ thực hiện tín dụng xã hội đối với người nghèo và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội, trong những năm qua, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam đã phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc hỗ trợ vốn cho phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, từ đó nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, góp phần thực hiện bình đẳng giới, tiếp tục phát huy truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉ lệ hộ nghèo đa chiều năm 2021 là 49,98%, đến năm 2023 giảm xuống còn 24,3% tương đương với 3.485 hộ là một trong những tiền đề quan trọng để huyện A Lưới về đích sớm so với kế hoạch của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thừa Thiên Huế giao “ra khỏi danh sách 74 huyện nghèo nhất cả nước”. Kết quả này có sự đồng hành sát sao của những người làm tín dụng chính sách cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế và các tổ chức chính trị - xã hội khác hỗ trợ các chị em đồng bào dân tộc huyện A Lưới phát triển kinh tế, làm giàu cho gia đình, góp phần vào thành quả phát triển kinh tế chung của tỉnh.


Nghệ nhân phi vật thể Lê Thị Sỹ đang truyền nghề dệt Zèng cho thiếu nữ Hồ Thị Xé

Nghệ nhân di sản phi vật thể nghề dệt Zèng - Lê Thị Sỹ ở thôn Ky Ré, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Không có cơ hội đổi đời vươn lên nào tốt như hiện nay. Từ Trung ương đến tỉnh, huyện và đặc biệt là NHCSXH luôn tạo mọi thuận lợi để người dân huyện A Lưới phát triển sản xuất, chăn nuôi, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Bản thân tôi và nhiều đồng bào Tà Ôi cũng như đồng bào Pa Cô, Cờ Tu, người Kinh đều ra khỏi danh sách hộ nghèo nhờ những đồng vốn chính sách ưu đãi từ NHCSXH huyện. Quý nhất là chúng tôi được vay vốn, hỗ trợ vươn lên bằng chính nghề truyền thống của mình - nghề dệt Zèng”.

Bản thân Nghệ nhân Lê Thị Sỹ cũng vươn lên từ việc vay 30 triệu đồng chương trình hộ nghèo của NHCSXH huyện A Lưới từ năm 2015; hiện đang vay 50 triệu đồng chương trình giải quyết việc làm. Từ đồng vốn chính sách, qua quá trình lao động, gia đình bà đã có cơ ngơi khang trang, có cả trang trại chăn nuôi bò, dê, 05 ha rừng trồng... Nguồn vốn NHCSXH cũng đã giúp cho 05 người con của bà được đi học, có công ăn việc làm và cuộc sống ổn định.

Thực tế khảo sát các hộ vay cho thấy, để chị em phát triển kinh tế một vòng vốn tín dụng là rất hiếm mà phải có hành trình đồng hành dài của NHCSXH. Trường hợp của chị Lê Thị Thia - người đã 07 lần vay vốn NHCSXH huyện A Lưới là một ví dụ. Từ những đồng vốn nhỏ, gia đình chị đã thoát nghèo và hiện có 06 ha rừng trồng, có đàn bò, dê vài chục con. Chị Thia có 03 người con đều đã trưởng thành, công ăn việc làm ổn định nhờ nguồn vốn NHCSXH mà gia đình chị được vay để cho các con học tập, trong đó có một người con đang đi lao động nước ngoài...

Giám đốc NHCSXH huyện A Lưới Lê Quang Thắng cho biết, với đặc thù là huyện 30a, có 77% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và hơn 90% trong số đó là hộ nghèo, những năm qua, mọi hoạt động của NHCSXH huyện A Lưới đều tập trung cho các đối tượng này, đặc biệt là chị em phụ nữ. Trong 02 tháng đầu năm 2024, NHCSXH huyện A Lưới đã cho vay 26,461 tỉ đồng với 466 lượt khách hàng được vay vốn, tập trung chủ yếu vào chương trình cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn; cho vay theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP ngày 26/4/2022 của Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030, giai đoạn 1 từ năm 2021 đến năm 2025; cho vay xuất khẩu lao động. Đến nay, tổng dư nợ của NHCSXH huyện A Lưới đạt 537,780 tỉ đồng, với 16 chương trình tín dụng; tăng 13,297 tỉ đồng so cuối năm 2023, tỉ lệ tăng trưởng 2,54%. Trong đó, riêng các chị em vay qua Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) thuộc Hội phụ nữ huyện A Lưới quản lí là 236,51 tỉ đồng, chiếm 44,37%, chưa kể các chị em vay qua các tổ chức hội khác.



NHCSXH huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện giải ngân cho các hộ vay

Báo cáo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết, để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác ủy thác vốn của NHCSXH hỗ trợ chị em phát triển kinh tế, Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã lãnh đạo Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội đưa nội dung phổ biến, quán triệt Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội; Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW; các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng chính sách gắn với nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ trong văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII (nhiệm kì 2017 - 2022), lần thứ XIII (nhiệm kì 2022 - 2027); các nghị quyết Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, định hướng trọng tâm hoạt động Hội hằng năm. Chỉ tính riêng cấp Trung ương, từ khi có Chỉ thị số 40-CT/TW đến nay, Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã ban hành 18 văn bản chỉ đạo liên quan trực tiếp đến tín dụng chính sách và hoạt động ủy thác NHCSXH.

Không chỉ đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội góp phần nâng cao nhận thức của hội viên, phụ nữ và người dân về tín dụng chính sách, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam còn lồng ghép nguồn lực, đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ, xây dựng năng lực phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững cho hộ vay; đẩy mạnh giáo dục tài chính, nâng cao năng lực quản lí tài chính giúp hộ vay có kiến thức quản lí tài chính hiệu quả, đồng thời, góp phần thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Nhằm hỗ trợ các hộ vay phát huy hiệu quả nguồn vốn, các cấp Hội luôn chú trọng lồng ghép việc triển khai tín dụng chính sách xã hội với các hoạt động hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, đề án; đặc biệt là trong 09 năm qua (2014 - 2023), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được Chính phủ giao là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2025” (Đề án 939) và Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lí, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030” (Đề án 01). Từ việc thực hiện Đề án 939, qua tham mưu, đề xuất của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nguồn vốn ủy thác của UBND các tỉnh, thành phố qua NHCSXH để hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp được tăng lên, đặc biệt, ở một số địa phương, UBND tỉnh, thành phố ưu tiên dành nguồn vốn hoặc thành lập nguồn tín dụng riêng cho phụ nữ khởi nghiệp và ủy thác qua NHCSXH với số vốn tăng lên hằng năm.

Thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, nhằm nâng cao năng lực quản lí tài chính cho các đối tượng vay vốn tín dụng chính sách, hằng năm, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cùng NHCSXH đã phối hợp tổ chức nhiều lớp tập huấn về tài chính toàn diện, quản lí tài chính cá nhân và hộ gia đình, giúp hộ vay có thêm hiểu biết, kiến thức về tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; đẩy mạnh hướng dẫn các hộ vay vốn, hội viên, phụ nữ gửi tiết kiệm tại NHCSXH và các tổ chức tín dụng chính thức, tạo nguồn vốn tự có cho gia đình, đồng thời, giảm nhẹ gánh nặng hoàn trả vốn. Qua đó, số dư tiết kiệm tại NHCSXH từ các tổ TK&VV do Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lí luôn tăng trưởng cao, chiếm 40,8% tổng số dư tiền tiết kiệm của NHCSXH.

Với sự nỗ lực và quyết tâm cao, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và NHCSXH đã hỗ trợ hàng triệu hộ tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, góp phần không nhỏ trong cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, trong đó có một bộ phận không nhỏ hội viên, phụ nữ. Tính đến nay, dư nợ ủy thác qua Hội Liên hiệp Phụ nữ đạt gần 128 nghìn tỉ đồng với gần 2,6 triệu hộ vay vốn, thông qua 61.937 tổ TK&VV.

Trong thời gian tới, NHCSXH sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động phối hợp với các Hội, đoàn thể thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 40-CT/TW, Kết luận số 06-KL/TW và văn bản thỏa thuận đã được kí kết giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác ủy thác của các đoàn thể, các tổ trưởng tổ TK&VV đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; mở rộng đối tác, kết nối nguồn lực hỗ trợ khách hàng tham gia các mô hình chuỗi liên kết, chuỗi giá trị, mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp do nữ làm chủ. Đặc biệt, phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát triển đa dạng các sản phẩm, chương trình giáo dục tài chính nhằm góp phần thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia; phối hợp đề xuất chương trình tín dụng cho các nhóm phụ nữ đặc thù (lao động nữ mất việc làm, phụ nữ khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh, hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lí, tạo việc làm cho lao động nữ thuộc Đề án 939 và Đề án 01); đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của ngân hàng, tạo thuận lợi cho khách hàng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa trong các hoạt động giao dịch tín dụng chính sách.

Minh Ngọc (Hà Nội)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng