Thực trạng hoạt động mua, bán nợ tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện

Nghiên cứu - Trao đổi
Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM.
aa

Tóm tắt: Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đang dần hình thành như một sự cần thiết khách quan của phát triển nền kinh tế. Hoạt động mua, bán nợ là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam hiện nay, nhưng thực chất nó là một hoạt động kinh tế rất cơ bản trong các NHTM. Tuy nhiên, trong thời gian qua, thị trường mua, bán nợ vẫn chưa thực sự phát triển và thiếu sự cạnh tranh giữa các bên mua nợ, kinh nghiệm xử lí nợ chưa cao, chưa đáp ứng được kì vọng của thị trường với lượng nợ xấu cần xử lí rất lớn, điều này phần nào khiến cho nhu cầu mua, bán nợ của các NHTM có nợ xấu bị giảm, kìm hãm sự phát triển của thị trường mua, bán nợ của NHTM. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung làm rõ thực trạng, phân tích đánh giá một số quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua, bán nợ của NHTM, từ đó đưa ra một số định hướng, kiến nghị hoàn thiện cho việc phát triển hoạt động này tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.


Từ khóa: Mua, bán nợ; NHTM; thực trạng; hoàn thiện.

THE DEBT TRADING ACTIVITIES AT COMMERCIAL BANKS:
CURRENT SITUATION AND SOME RECOMMENDATIONS

Abstract: Commercial bank debt trading activities in Vietnam is gradually shaping as an objective necessity of economic development. Although debt trading is a new field in Vietnam today, it is a basic economic activity in commercial banks. However, in recent years, the market for debt trading has not really developed and there has been a lack of competition among debt buyers, the experience in debt handling has not been good enough to meet the market expectations with a large amount of non-performing loans to be handled, which has partly caused a decline in the demand for debt trading in commercial banks, therefor restraining the development of commercial banks' debt trading market. On that basis, the article focuses on clarifying the current situation of commercial banks’ debt trading activities, analyzing and evaluating a number of legal provisions governing commercial banks’ debt trading activities, thereby making some recommendations for the development of commercial banks’ debt trading activities in Vietnam in current period.

Keywords: Debt trading, commercial bank, current situation, improvement.

1. Đặt vấn đề

Trong hoạt động của các NHTM, hoạt động mua, bán nợ có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nợ xấu phát sinh do hợp đồng tín dụng đối với khách hàng ngày càng nhiều. Xu hướng này buộc NHTM phải đẩy mạnh các giải pháp xử lí nợ xấu, trong đó bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu được coi là giải pháp có tính khả thi nhất, từ đó hình thành quan hệ mua, bán nợ giữa NHTM (giữ vai trò là bên bán nợ) với các tổ chức, cá nhân (giữ vai trò là bên mua nợ). Hiện nay, có rất nhiều quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ mua, bán nợ của NHTM khá bất cập, thậm chí có nhiều quy định khó áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, để hoàn thiện hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam trong thực tiễn, cần phải thấy rõ được những bất cập mà hoạt động này đang vướng mắc để từ đó tiếp tục hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua, bán nợ đồng bộ và nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định liên quan đến hoạt động này.

2. Thực trạng hoạt động mua, bán nợ của NHTM ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung, các NHTM Việt Nam nói riêng đã đẩy mạnh hoạt động xử lí nợ thông qua nhiều phương thức đa dạng và thu được những kết quả đáng ghi nhận. Lũy kế từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến cuối tháng 7/2023, toàn hệ thống ngân hàng đã xử lí được khoảng 425,9 nghìn tỉ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết1. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến tháng 7/2023, tỉ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 3,56%, cao hơn mức 2% so với cuối năm 2022 và mức 1,68% cuối năm 20202. Nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam bắt đầu có xu hướng tăng dần từ năm 2007 trong bối cảnh dư nợ tín dụng tăng trưởng cao trong khi chất lượng các khoản tín dụng và công tác quản trị rủi ro còn hạn chế. Tốc độ tăng trưởng nợ xấu lên tới 51% trong giai đoạn 2008 - 2011, gấp hai lần tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của cùng giai đoạn. Nợ xấu gia tăng giá trị lên đến 85.000 tỉ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ và tiếp tục tăng lên 4,86% tổng dư nợ vào cuối năm 2012, trước khi giảm về mức 2,46% vào cuối năm 2016 và 2,56% vào cuối tháng 02/2017.

Trước nhu cầu cấp thiết về xử lí nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã đưa ra những giải pháp cần thiết để giảm tỉ lệ nợ xấu (Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu). Trong đó, có yêu cầu các TCTD đẩy mạnh triển khai giải pháp tự xử lí nợ xấu như đánh giá lại nợ, cơ cấu lại nợ, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lí nợ xấu, hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai, nâng cao chất lượng đánh giá giá trị thị trường của các khoản nợ xấu, hỗ trợ liên quan tới hoàn thành các hồ sơ pháp lí liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lí được nợ xấu. Bên cạnh đó, Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh trong giai đoạn 2013 - 2020 đã cụ thể hóa mục tiêu xử lí nợ xấu của Chính phủ nhằm giảm nợ xấu của các NHTM xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng. Ngày 18/5/2013, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) đã được ban hành. Theo đó, VAMC là một tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được hưởng các ưu đãi thuế để hỗ trợ hoạt động mua, bán nợ của công ty. VAMC sử dụng hai nguồn tài chính chủ yếu để xử lí nợ xấu là nguồn tiền được cấp tại vốn điều lệ; phát hành trái phiếu đặc biệt để mua các khoản nợ xấu của NHTM. VAMC tập trung xử lí nợ xấu của các TCTD có tỉ lệ nợ xấu trên 3% tổng dư nợ và nợ xấu có tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản bảo đảm bằng bất động sản.

Cho đến nay, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định, nhưng quá trình xử lí nợ xấu vẫn còn tồn tại, hạn chế. Trong số nợ phải xử lí tại VAMC, phần lớn nợ thuộc phần bán lại trước đây từ các ngân hàng lớn chứ không chỉ tập trung ở các ngân hàng yếu kém, bị kiểm soát đặc biệt.

Chính vì vậy, nhiều NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro lớn khiến hiệu quả kinh doanh không cao.

3. Quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ3. Bên bán nợ là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khoản nợ được bán theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chủ thể của hoạt động này gồm, bên mua nợ là tổ chức, cá nhân (TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được NHNN chấp thuận hoạt động mua nợ, tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú); bên nợ là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được mua, bán theo quy định tại hợp đồng cấp tín dụng.

Hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ một số nguyên tắc như: (i) Hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã kí kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên bảo đảm; (ii) Hoạt động mua, bán nợ do các bên tự thỏa thuận, tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan; (iii) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có tỉ lệ nợ xấu dưới 3% theo kì phân loại gần nhất theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước thời điểm đề nghị chấp thuận hoạt động mua nợ, trừ TCTD đang được kiểm soát đặc biệt, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bán nợ thì không phải xin phép NHNN; (iv) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được NHNN chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động và có tỉ lệ nợ xấu dưới 3% theo kì phân loại gần nhất theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động của NHTM trước thời điểm kí hợp đồng mua nợ, trừ các trường hợp quy định tại khoản 12 Điều 5 Thông tư số 18/2022/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (v) Trước khi thực hiện mua, bán nợ, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động mua, bán nợ (trong đó có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ).

Bên bán nợ không mua lại khoản nợ đã bán, trừ các trường hợp sau: (i) TCTD mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều này; (ii) TCTD hỗ trợ mua lại khoản nợ đã bán cho TCTD được kiểm soát đặc biệt theo phương án phục hồi TCTD được kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 6 Điều 148 Luật Các TCTD.

TCTD không được bán nợ cho công ty con của chính TCTD đó, trừ các trường hợp: Bán nợ cho công ty quản lí nợ và khai thác tài sản theo phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt; TCTD là bên nhận chuyển giao bắt buộc bán nợ đủ tiêu chuẩn cho NHTM được chuyển giao bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt. Công ty quản lí nợ và khai thác tài sản là công ty con của TCTD chỉ được mua nợ của TCTD khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi TCTD mẹ có tỉ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, thì bên bán nợ và các bên mua nợ thỏa thuận với nhau về tỉ lệ tham gia, phương thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phân chia giá trị tài sản đảm bảo (nếu có) cho phần nợ được mua, bán và các nội dung cụ thể khác tại hợp đồng mua, bán nợ đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật. Các khoản nợ được mua, bán phải được theo dõi, hạch toán kế toán và báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật. TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng để mua nợ thuộc sở hữu của chính TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó.

Phương thức mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện theo hai phương thức, thứ nhất là phương thức thỏa thuận, tức là thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới; thứ hai là phương thức đấu giá, được hiểu là bên bán nợ kí hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

Hợp đồng mua, bán nợ phải được kí bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của các bên mua, bán nợ. Hợp đồng mua, bán nợ phải có những nội dung chủ yếu như: Thời gian kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, địa chỉ của các bên tham gia kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, chức danh người đại diện các bên tham gia kí kết hợp đồng mua, bán nợ; tên, địa chỉ của bên nợ và các bên có liên quan (nếu có) tới khoản nợ được mua, bán; chi tiết khoản nợ mua, bán: Số tiền vay, thời gian vay, mục đích vay, giá trị ghi sổ của khoản nợ đến thời điểm thực hiện mua, bán nợ; các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của bên nợ đối với khoản nợ được mua, bán (nếu có); giá bán nợ, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán; thời điểm, phương thức và thủ tục chuyển giao hồ sơ, chứng từ khoản nợ, bao gồm cả hồ sơ, tài liệu về tài sản bảo đảm của khoản nợ (nếu có); thời điểm bên mua nợ trở thành người thế quyền, nghĩa vụ đối với khoản nợ của bên bán nợ; quyền và nghĩa vụ của bên bán nợ, bên mua nợ; trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng; giải quyết tranh chấp phát sinh. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác trong hợp đồng mua, bán nợ không trái với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung hợp đồng mua, bán nợ do các bên liên quan thỏa thuận, quyết định trên cơ sở đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

Bên mua nợ sẽ có các quyền là yêu cầu bên bán nợ cung cấp thông tin về khoản nợ được mua, bán (bao gồm cả thông tin liên quan đến hình thành, quản lí khoản nợ); kế thừa đầy đủ các quyền của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật; yêu cầu bên bán nợ chuyển giao hồ sơ và hoàn tất các thủ tục để chuyển giao đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của bên bán nợ, phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng mua, bán nợ và quy định pháp luật; yêu cầu bên bán nợ thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ cam kết theo thỏa thuận; các quyền khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, bên mua nợ sẽ có các nghĩa vụ như là thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho bên bán nợ theo hợp đồng mua, bán nợ; thanh toán các chi phí (kể cả phí môi giới nếu có) phát sinh trong quá trình mua, bán nợ theo thỏa thuận; kế thừa đầy đủ các nghĩa vụ của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.

Bên bán nợ có các quyền là yêu cầu bên mua nợ thanh toán theo thỏa thuận; yêu cầu bên mua nợ phải thực hiện theo đúng các nghĩa vụ cam kết; các quyền khác theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, bên bán nợ có các nghĩa vụ như thông báo bằng văn bản cho bên nợ và các bên liên quan những nội dung của việc bán nợ chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày các bên kí kết đồng mua, bán nợ hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng mua, bán nợ. Trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc theo thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên nợ hoặc trong trường hợp cần thiết, bên bán nợ thông báo bằng văn bản việc bán nợ cho bên nợ trước khi kí kết hợp đồng mua, bán nợ; cung cấp các thông tin liên quan đến khoản nợ được bán theo yêu cầu của bên mua nợ, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và không trái với các thỏa thuận tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã kí kết; chuyển giao đầy đủ, đúng hạn nguyên trạng hồ sơ khoản nợ theo thỏa thuận cho bên mua nợ; chuyển giao nguyên trạng quyền, nghĩa vụ đối với khoản nợ được bán bao gồm cả quyền, nghĩa vụ đối với biện pháp bảo đảm của khoản nợ, bảo hiểm của khoản nợ (nếu có) cho bên mua nợ theo hợp đồng mua, bán nợ và quy định của pháp luật; thanh toán các chi phí (kể cả phí môi giới nếu có) phát sinh trong quá trình mua, bán nợ theo thỏa thuận; thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận và quy định pháp luật.

4. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hiện nay, hoạt động mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam đang có một số điểm bất cập như sau:

Thứ nhất, hoạt động mua, bán nợ đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật, áp dụng riêng cho từng đối tượng, trong khi đó các quy định này không thống nhất nên gây ra không ít vướng mắc, lúng túng trong quá trình giao dịch, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua, bán nợ, dẫn đến không khuyến khích được các chủ thể trong xã hội tham gia hoạt động mua, bán nợ, từ đó không phát triển được thị trường mua, bán nợ. Quá trình xử lí nợ xấu của VAMC vẫn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế pháp lí (bao gồm các vướng mắc liên quan đến thẩm quyền xử lí ngoài phạm vi của NHNN), dẫn đến quá trình xử lí nợ xấu của VAMC chưa đạt được kết quả như kế hoạch đề ra. Kết quả hoạt động của các công ty quản lí tài sản (AMC) cho thấy hoạt động của các AMC vẫn còn hạn chế và chủ yếu vẫn là phục vụ cho nhu cầu lành mạnh hóa tài chính của ngân hàng mẹ. Từ đó dẫn đến các khoản nợ xấu vẫn tồn tại trong nội bộ ngân hàng mà chưa được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi báo cáo tài chính hợp nhất và như vậy nợ xấu thực chất vẫn chưa được xử lí. Bên cạnh đó, Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành và thực hiện hơn 05 năm, nhưng trong quá trình thực hiện mua, bán nợ, các NHTM phát sinh một số vướng mắc do Thông tư đã có quy định nhưng cần được hướng dẫn cụ thể để xử lí một số trường hợp phát sinh trong thực tế như định giá khoản nợ; xử lí chênh lệch tỉ giá; xử lí tài chính đối với trường hợp bên mua nợ là TCTD.

Thứ hai, hạn chế trong quy định về thẩm định giá trị khoản nợ của NHTM. Để tiến hành bán nợ, việc quan trọng mà các NHTM cần làm là phải xác định được giá trị khoản nợ. Đây là một trong những nhân tố quyết định đến thành công của các giao dịch mua, bán nợ. Bởi chỉ có xác định được giá trị khoản nợ một cách chính xác và hợp lí mới thu hút được sự quan tâm của người mua nợ, đồng thời, đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia trong quan hệ mua, bán nợ. Tuy nhiên hiện nay, một khó khăn không nhỏ trong quá trình định giá khoản nợ của NHTM đó là chưa có các tiêu chuẩn riêng dành cho việc thẩm định giá khoản nợ. Các NHTM, TCTD khác, VAMC và kể cả doanh nghiệp thẩm định giá phải vận dụng các tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản nói chung trong quá trình định giá khoản nợ. Khoản nợ về cơ bản là một loại tài sản nên có thể sử dụng các tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản để tiến hành thẩm định. Tuy nhiên, khác với tài sản thông thường, giá trị của khoản nợ sẽ bị chi phối bởi các yếu tố đặc thù như tình hình tài chính của khách hàng vay; cung, cầu thị trường và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá trị khoản nợ, tình trạng và giá trị tài sản bảo đảm của khoản nợ tại thời điểm định giá... Do đó, cần có những quy định đặc thù trong quá trình thẩm định giá khoản nợ tín dụng.

Thứ ba, thiếu các quy định hỗ trợ người mua nợ trong việc hoàn tất các thủ tục sau khi mua nợ từ NHTM. Một trong những lí do cơ bản dẫn đến việc các cá nhân, tổ chức không mặn mà với hoạt động mua nợ của NHTM là thực tế hiện nay còn thiếu cơ chế hỗ trợ người mua nợ hoàn tất các thủ tục sau khi mua nợ từ NHTM. Sau khi giao kết hợp đồng mua, bán nợ, việc chuyển dịch các quyền và lợi ích liên quan đến khoản nợ từ NHTM sang bên mua nợ được quy định tại Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, cụ thể: “Bên bán nợ chuyển giao quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ bao gồm cả quyền, nghĩa vụ đối với các biện pháp bảo đảm khoản nợ đó (nếu có). Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ đối với các biện pháp bảo đảm của khoản nợ phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và các quy định khác có liên quan của pháp luật. Việc thực hiện đăng kí thay đổi bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề đăng kí thay đổi bên nhận bảo đảm hiện đang gặp vướng mắc do chưa có hướng dẫn cụ thể cho thủ tục nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của các cá nhân, tổ chức kinh tế không phải là NHTM.

Thứ tư, hạn chế trong các quy định về quyền thu giữ tài sản của người mua nợ. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ được coi là một trong những quyền năng cơ bản và quan trọng giúp cho bên nhận bảo đảm có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, quyền năng này không được quy định cho tất cả các chủ thể mà theo quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD thì quyền thu giữ tài sản thuộc về các chủ thể như sau: “Trường hợp bên bảo đảm, bên giữ tài sản không giao tài sản bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều này”4. Như vậy, ngoài các TCTD nói chung và NHTM nói riêng thì tổ chức mua, bán, xử lí nợ xấu cũng có quyền thu giữ tài sản, tuy nhiên, với cách thức quy định như trong Nghị quyết số 42/2017/QH14 thì cá nhân mua nợ xấu có quyền thu giữ tài sản không? Đây là một vấn đề cần phải được xác định rõ, bởi lẽ khi NHTM bán nợ cho các cá nhân, tổ chức khác đồng nghĩa với việc NHTM sẽ phải chuyển giao toàn bộ các quyền năng mà mình có được đối với khoản nợ cho người mua nợ. Điều này đã được ghi nhận trong Thông tư số 09/2015/TT-NHNN khi mà bên mua nợ có quyền: “Kế thừa đầy đủ các quyền của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật”5. Như vậy, không thể căn cứ vào chủ thể mua nợ là VAMC hay các tổ chức để loại bỏ các cá nhân quyền thu giữ tài sản của họ như Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định. Điều này sẽ khiến cho các quyền và lợi ích hợp pháp của người mua nợ không được đảm bảo và khiến họ không mặn mà với việc tham gia các giao dịch mua, bán nợ với NHTM.

Thêm nữa, hiệu lực thi hành của các quy định pháp luật liên quan đến quyền thu giữ là chưa cao. Một trong những hạn chế cơ bản trong việc thực thi quyền thu giữ tài sản đó là sự hợp tác của các cơ quan chức năng còn chưa thực sự kịp thời, hiệu quả. Việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lí nợ xấu thường chỉ thành công khi khách hàng hợp tác, hoặc trong một số trường hợp nhất định như khách hàng đã bỏ trốn khỏi địa phương mà tài sản bảo đảm không có tranh chấp, tài sản bảo đảm là đất trống…; còn khi khách hàng không hợp tác bàn giao tài sản hoặc chống đối khi tiến hành thu giữ mà sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ tài sản bảo đảm)… cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lí thu hồi nợ xấu, dẫn đến việc thu giữ thường không đạt được kết quả6.

Ngoài ra, một trong những điều kiện để các chủ thể có thể thực hiện quyền thu giữ tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là: “Tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, hiện nay lại không có cơ chế hỗ trợ các NHTM tiếp cận các thông tin này. Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự hiện nay chưa có hệ thống dữ liệu cho phép các NHTM trích xuất, tra cứu thông tin tài sản có liên quan đến vụ việc đang được thụ lí giải quyết để xác định tài sản bảo đảm có đủ điều kiện để thu giữ hay không. Bên cạnh đó, chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể về xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn khi áp dụng quy định về thu giữ tài sản theo Nghị quyết số 42/2017/QH147.

Từ những điểm bất cập về hoạt động mua bán nợ mà NHTM tại Việt Nam đang gặp phải, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện đối với hoạt động này như sau:

Một là, để phát triển thị trường mua, bán nợ của NHTM tại Việt Nam, cần hoàn thiện khung pháp lí đồng bộ, điều này sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt động xử lí nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng, đặc biệt là xây dựng thông tư riêng về hoạt động mua, bán nợ tại NHTM. Do đó, NHNN cần tiếp tục dành sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM hoạt động hiệu quả, thực hiện được đầy đủ chức năng nhiệm vụ, sứ mệnh được giao, từng bước tiến tới xây dựng thị trường mua, bán nợ tập trung trong tương lai.

Hai là, nhanh chóng hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn thẩm định giá với khoản nợ tín dụng tại NHTM. Việc sớm ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ tín dụng sẽ giúp cho các chủ thể trong giao dịch mua, bán nợ và đơn vị thẩm định giá thuận lợi hơn trong quá trình xác định giá trị khoản nợ. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ tín dụng, cần lưu ý đến các đặc tính riêng biệt của loại tài sản này so với các tài sản thông thường. Đặc biệt, khi xem xét đến tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán nợ và các nguồn trả nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ - một trong những yếu tố để xác định giá trị của khoản nợ cần lưu ý đến một số vấn đề như: Để đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh của khách nợ cần quy định rõ các tài liệu mà thẩm định viên cần thu thập để làm căn cứ xác định thực trạng hoạt động kinh doanh của khách nợ như báo cáo tài chính hằng năm, hằng quý (báo cáo kết quả kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu; bảng cân đối kế toán); báo cáo thuế; báo cáo xếp hạng tín nhiệm (các doanh nghiệp lớn)... Các tài liệu này cần phải được thu thập trong khoảng thời gian gần với thời điểm thẩm định giá, có thể xem xét lấy mốc thời gian là không quá 02 năm tính đến thời điểm thẩm định giá (tương tự như thời gian thu thập thông tin về các giao dịch của tài sản so sánh trong phương pháp tiếp cận từ thị trường) để đảm bảo phản ánh được chính xác về tình hình hoạt động kinh doanh của khách nợ tại thời điểm thẩm định giá trị khoản nợ. Đối với cách xác định khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ, cần đảm bảo tính độc lập và khách quan. Theo quy định tại Dự thảo Thông tư ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá đối với khoản nợ tín dụng, việc xác định này sẽ dựa trên xác nhận của tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá. Cách thức quy định này có thể dẫn đến thực trạng các chủ thể bán nợ vì muốn khoản nợ được định giá cao hơn mà cung cấp xác nhận không chính xác, không phù hợp với tình trạng thực tế của khách nợ. Do đó, cần điều chỉnh quy định này theo hướng xác định khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ phải căn cứ vào các tài liệu về tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của khách nợ tại thời điểm thẩm định giá. Cũng có thể tham khảo thực tiễn hiện nay, một số tổ chức thẩm định giá căn cứ vào cam kết thanh toán của khách nợ để đánh giá về khả năng thanh toán nợ và các nguồn thu hồi nợ khác (ngoài tài sản bảo đảm) của khách nợ.

Ba là, cần hoàn thiện cơ chế đăng kí biện pháp bảo đảm khi bên nhận thế chấp là các cá nhân, tổ chức kinh tế thông thường không phải NHTM. Việc đăng kí lại biện pháp bảo đảm cho người mua nợ sau khi hoàn tất giao dịch mua, bán nợ với NHTM là đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người mua nợ. Do đó, cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để có thể thu hút được nhiều hơn các cá nhân, tổ chức thông thường tham gia mua, bán nợ của NHTM.

Bốn là, hoàn thiện quy định và tăng cường khả năng thực thi pháp luật về quyền thu giữ tài sản của người mua nợ. Khi hoàn tất giao dịch mua, bán nợ với NHTM, các quyền năng của NHTM cần phải được chuyển giao toàn bộ cho bên mua nợ, như vậy, nếu NHTM có quyền thu giữ tài sản thì bên mua nợ cũng cần có được quyền năng này. Trong thời gian tới cần bổ sung các quy định ghi nhận quyền thu giữ tài sản cho các chủ thể mua nợ nói chung, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức. Ngoài ra, để bảo đảm quyền thu giữ tài sản không chỉ là quyền trên “giấy”, cần có cơ chế bảo đảm sự phối hợp và hỗ trợ kịp thời của các cơ quan chức năng (Ủy ban nhân dân, công an địa phương...) đối với NHTM và các chủ thể mua nợ trong việc thực hiện quyền thu giữ tài sản. Các cơ quan tiến hành tố tụng như tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cũng cần thiết lập hệ thống truy xuất thông tin để NHTM và người mua nợ dễ dàng xác định tài sản bảo đảm có liên quan đến vụ việc đang được thụ lí giải quyết hay có đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không; đồng thời, ban hành các hướng dẫn cụ thể để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn hệ thống. Trong tương lai không xa, mua, bán nợ sẽ là một phương thức hữu hiệu giúp cho các NHTM có thể xử lí được các khoản nợ, đặc biệt là nợ xấu. Tuy nhiên, muốn đẩy mạnh được hoạt động mua, bán nợ thì việc hoàn thiện quy định pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của người mua nợ là vấn đề cấp thiết cần phải nhanh chóng thực hiện. Bởi chỉ khi quyền và lợi ích của người mua nợ được đảm bảo mới thu hút được sự tham gia của nhiều nhà đầu tư, qua đó hình thành một thị trường mua, bán nợ hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp.

Năm là, hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM phù hợp với định hướng phát triển thị trường mua bán nợ. Trong những năm gần đây, các chủ thể tham gia thị trường tài chính quốc tế đang sử dụng rộng rãi nghiệp vụ mua, bán nợ. Nghiệp vụ này có công dụng chính là làm tăng tính thanh khoản và tính hiệu quả trong việc đầu tư vốn trên thị trường của các nhà đầu tư. Ngoài ra, nghiệp vụ mua, bán nợ còn được xem là công cụ để Nhà nước tiến hành điều tiết, kiểm soát các hoạt động tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế nhằm hướng tới một nền kinh tế phát triển ổn định. Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM đảm bảo sự đa dạng hóa nguồn vốn và chủ thể tham gia vào mua, bán nợ. Trước tiên cần phải thấy rằng, nợ xấu của hệ thống ngân hàng gây tác động tiêu cực đối với các NHTM nói riêng và tình hình kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy, giải quyết nợ xấu thông qua hoạt động mua, bán nợ không chỉ là nhiệm vụ của NHTM hay NHNN. Cần thiết phải coi đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, từ đó có kế hoạch và phương án huy động các chủ thể và các nguồn vốn khác nhau tham gia mua, bán nợ của các NHTM. Việc này một mặt giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, mặt khác thúc đẩy hoạt động huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội. Hoàn thiện pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của NHTM, bảo đảm sự độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN, đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là đòi hỏi khách quan của quá trình hợp tác quốc tế. Xu thế này đang dần bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Cũng như các hiện tượng khác, xu thế toàn cầu hóa cũng có tính hai mặt. Một mặt, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực của các nền kinh tế. Mặt khác, nó cũng làm gia tăng cạnh tranh và đặt ra những thách thức đối với năng lực và trình độ của mỗi quốc gia. Chính điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những chủ trương, chính sách phù hợp để tham gia vào quá trình này.

5. Kết luận

Nhìn chung, khung pháp luật về mua, bán nợ của NHTM ngày càng hoàn thiện, không chỉ hình thành được khung pháp lí tương đối hoàn chỉnh mà các nội dung quy định cũng dần trở nên đầy đủ, cụ thể hơn, từ đó góp phần không nhỏ vào việc phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM, tạo điều kiện cho các NHTM quản trị nguồn vốn tín dụng an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế triển khai các quy định pháp luật về mua, bán nợ của NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Hệ thống các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng. Điều đó thể hiện tình trạng tản mát, không tập trung và thiếu tính hệ thống trong quy định của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của NHTM, thậm chí còn có những nội dung chồng chéo, không thống nhất, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và quản lí giám sát. Ngoài ra, công tác xây dựng pháp luật còn chưa thực sự gắn kết với tổ chức thực hiện pháp luật, làm giảm hiệu quả thi hành pháp luật. Do đó, hoàn thiện các quy định pháp luật về mua, bán nợ của NHTM không những giúp hoạt động này diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn, hạn chế rủi ro pháp lí cho các bên tham gia vào giao dịch, mà còn mang lại lợi ích lâu dài, đó là giải quyết tình trạng nợ xấu, nợ khó có khả năng thu hồi, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua, bán nợ, giúp lành mạnh hệ thống ngân hàng.


1 Báo Đấu thầu, nợ xấu nội bảng lên mức 3,56%.
2 Xuân Yên (2023), Gánh nợ xấu thêm nặng, Báo Đấu thầu, nợ xấu ngân hàng dần bộc lộ, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/ganh-no-xau-them-nang-post326818.html
3 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
4 Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lí nợ xấu của các TCTD.
5 Điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
6 Chính phủ (2022), Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết 42 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm, trang 23.
7 Chính phủ (2022), Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết 42 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm, trang 23.

Tài liệu tham khảo:

1. Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD.

3. Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

4. Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 và đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lí nợ xấu, tài sản bảo đảm.

ThS. Trần Linh Huân, Nguyễn Thị Kim Anh (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)

ThS. Phạm Thị Hồng Tân (Trường Đại học Phan Thiết)

ThS. Đỗ Thị Lan Anh (Trường Đại học Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh)


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Phương thức hậu kiểm chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước theo mô hình hai cấp

Phương thức hậu kiểm chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước theo mô hình hai cấp

Nghiên cứu phân tích phương thức hậu kiểm trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước trong bối cảnh hiện đại hóa tài chính công theo Quyết định số 385/QĐ-BTC. Trên cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu khẳng định hậu kiểm là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi, giảm thủ tục hành chính và thúc đẩy giải ngân. Tác giả đề xuất mô hình hậu kiểm gồm ba nội dung trọng tâm: Tổ chức bộ máy tách biệt chức năng thanh toán và kiểm soát, kiểm soát theo mức độ rủi ro và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam

Việc nghiên cứu, giải quyết các rào cản trong tiếp cận nguồn tài chính xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam là rất quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, cũng như giúp doanh nghiệp nâng tầm giá trị trên thị trường quốc tế. Những rào cản hiện tại không chỉ làm chậm tiến trình thực hiện các dự án xanh mà còn cản trở việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận tài chính xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam; từ đó, đề xuất một số khuyến nghị để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn tài chính xanh, bảo đảm sự đồng bộ, hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách phát triển bền vững của Chính phủ.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Với kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hệ thống tổ chức, hoạt động, quản trị chuyên nghiệp, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân sự có kinh nghiệm từ nước ngoài và đội ngũ nhân sự bản địa được đào tạo chất lượng cao, cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng.
Kinh nghiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức thư tín dụng

Kinh nghiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức thư tín dụng

Việt Nam là một trong những quốc gia chủ động hội nhập kinh tế khi tham gia sâu rộng vào nhiều hiệp định thương mại tự do. Theo đó, phương thức thư tín dụng (L/C) cũng được sử dụng ngày càng phổ biến trong các hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đạt được, các doanh nghiệp trong nước cũng phải đối mặt với những chiêu trò lừa đảo chào bán, mua hàng, ký kết hợp đồng giao dịch thương mại quốc tế với nhiều thủ đoạn đa dạng, tinh vi, khó phát hiện, gây tổn thất nặng nề về tài chính. Do đó, cần thiết có những bài học kinh nghiệm từ hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức L/C trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang đối mặt với hàng loạt vấn đề nan giải.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên khi mua sắm trực tuyến: Nghiên cứu tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên khi mua sắm trực tuyến: Nghiên cứu tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một

Sử dụng phương pháp định tính và định lượng, nghiên cứu này điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đại học khi tham gia mua sắm trực tuyến tại thành phố Thủ Dầu Một. Qua các bước kiểm định, nghiên cứu xác định những biến tác động đến sự hài lòng của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một khi tham gia mua sắm trực tuyến bao gồm: Tính tiện ích của nền tảng trực tuyến, chất lượng thông tin sản phẩm, chất lượng sản phẩm.
Dân trí tài chính số tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Dân trí tài chính số tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bài viết nghiên cứu thực trạng dân trí tài chính số tại Việt Nam trong bối cảnh các sản phẩm tài chính số phát triển mạnh, nhưng hiểu biết của người dân còn hạn chế, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao kiến thức tài chính số cho nhóm dễ tổn thương và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ an toàn, góp phần bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy hệ sinh thái tài chính số bền vững.
Kiểm soát hành vi “tẩy xanh” hướng tới tăng trưởng bền vững - Góc nhìn từ khía cạnh pháp lý

Kiểm soát hành vi “tẩy xanh” hướng tới tăng trưởng bền vững - Góc nhìn từ khía cạnh pháp lý

Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, đòi hỏi sự chung tay hành động từ cả quốc gia và từng cá nhân. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài chính vẫn đặt lợi nhuận lên trên trách nhiệm xã hội, thể hiện qua hành vi “tẩy xanh”. Việc nhận diện và kiểm soát hành vi này là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, hướng tới phát triển bền vững.
Sự tham gia của Thừa phát lại vào hoạt động xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng: Thực trạng pháp luật và kiến nghị

Sự tham gia của Thừa phát lại vào hoạt động xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng: Thực trạng pháp luật và kiến nghị

Nợ xấu là thách thức lớn đối với sự ổn định tài chính, trong khi việc xử lý qua cơ quan thi hành án còn gặp nhiều khó khăn. Thừa phát lại được xem là giải pháp thay thế hỗ trợ các tổ chức tín dụng thu hồi nợ hiệu quả hơn, nhưng khung pháp lý hiện hành chưa tạo điều kiện phát huy vai trò này. Bài viết phân tích các quy định pháp luật liên quan, chỉ ra bất cập và tác động đến việc xử lý nợ xấu. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp lý, tham khảo kinh nghiệm của Pháp.
Xem thêm
Xử lý tài sản thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai tại các tổ chức tín dụng

Xử lý tài sản thế chấp là nhà ở hình thành trong tương lai tại các tổ chức tín dụng

Trong những năm gần đây, chế định pháp lý về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng được các cơ quan có thẩm quyền chú trọng xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này vẫn chưa thực sự đầy đủ và còn những bất cập, gây khó khăn trong việc áp dụng, bởi đây là một loại tài sản mang tính chất đặc thù và tiềm ẩn nhiều rủi ro so với các loại tài sản hiện hữu. Vì vậy, cần có cơ chế rõ ràng, hướng dẫn cụ thể để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, giảm thiểu những rủi ro cho các TCTD trong việc nhận thế chấp loại hình tài sản này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Bước ngoặt chiến lược thúc đẩy Fintech và chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Bước ngoặt chiến lược thúc đẩy Fintech và chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Ngày 29/4/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là Nghị định đầu tiên tại Việt Nam thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các sản phẩm, mô hình, dịch vụ tài chính mới ứng dụng công nghệ, đồng thời là bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa đổi mới sáng tạo tài chính tại Việt Nam. Không chỉ góp phần hiện thực hóa chiến lược tài chính toàn diện quốc gia và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, Nghị định này còn tạo ra các tác động sâu rộng đối với cả hệ thống ngân hàng thương mại và nền kinh tế.
Góc độ pháp lý về rào cản của thủ tục thông báo tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh đối với hoạt động của doanh nghiệp

Góc độ pháp lý về rào cản của thủ tục thông báo tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh đối với hoạt động của doanh nghiệp

Thủ tục thông báo tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018, dù đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng lại đang tạo ra những rào cản đáng kể cho doanh nghiệp do thời gian thẩm định kéo dài, yêu cầu hồ sơ phức tạp, đòi hỏi nhiều tài liệu chuyên sâu như mô tả giao dịch và phân tích thị trường. Những yếu tố này không chỉ làm tăng chi phí tuân thủ, rủi ro pháp lý, nguy cơ rò rỉ thông tin, mà còn cản trở doanh nghiệp tận dụng cơ hội kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng.
Kinh nghiệm thế giới về sử dụng tín chỉ các-bon làm tài sản bảo đảm ngân hàng  và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kinh nghiệm thế giới về sử dụng tín chỉ các-bon làm tài sản bảo đảm ngân hàng và khuyến nghị đối với Việt Nam

Phát triển các sản phẩm tài chính mới gắn với tín chỉ các-bon là chiến lược then chốt để thu hút dòng vốn tư nhân vào lĩnh vực giảm phát thải. Các sản phẩm như trái phiếu xanh được gắn với việc phát hành hoặc mua tín chỉ các-bon có thể tạo ra các dòng tiền ổn định và hấp dẫn cho nhà đầu tư bền vững (Asian Development Bank, 2019). Các khoản vay xanh thế chấp bằng tín chỉ các-bon cho phép doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn nếu cam kết tạo ra lượng giảm phát thải xác thực. Việc đa dạng hóa các sản phẩm tài chính gắn với tín chỉ các-bon không chỉ tạo thêm động lực kinh tế cho các dự án xanh mà còn giúp thị trường các-bon phát triển theo hướng tích hợp sâu rộng với hệ sinh thái tài chính quốc gia.
Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, thích ứng với tình hình mới

Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, thích ứng với tình hình mới

Sáng 09/7/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2025. Tham dự Hội nghị có Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng và các đồng chí trong Ban Lãnh đạo NHNN, lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị thuộc NHNN, các ngân hàng thương mại (NHTM) và điểm cầu trực tuyến tới NHNN các khu vực trên cả nước.
Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Vị thế của đô la Mỹ trên thị trường tài chính toàn cầu

Tháng 4/2025 chứng kiến cuộc khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng đối với đồng USD, bất chấp lợi suất trái phiếu Mỹ tăng. Bài viết phân tích những bất thường trên thị trường tài chính toàn cầu sau các biện pháp thuế quan gây tranh cãi của Mỹ, đồng thời chỉ ra nguyên nhân từ sự thay đổi cấu trúc tài chính, phi toàn cầu hóa và biến động địa chính trị. Nếu xu hướng này tiếp diễn, USD có nguy cơ mất dần vị thế, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính thế giới.
Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III  trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Hiệp ước vốn Basel III trong hoạt động ngân hàng và khuyến nghị cho Việt Nam

Hiệp ước vốn Basel III là khuôn khổ nâng cao với sự sửa đổi và củng cố cả ba trụ cột của Basel II, đây là công cụ hỗ trợ đắc lực để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Bài viết phân tích tình hình áp dụng các Hiệp ước vốn Basel của hệ thống ngân hàng trên thế giới, cùng với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam trong việc áp dụng Hiệp ước vốn Basel III, tác giả đưa ra một số đề xuất giải pháp chính sách cho hệ thống ngân hàng...
Hiểu biết tài chính và truyền tải chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm từ Ngân hàng Trung ương châu Âu và một số khuyến nghị

Hiểu biết tài chính và truyền tải chính sách tiền tệ: Kinh nghiệm từ Ngân hàng Trung ương châu Âu và một số khuyến nghị

Bài viết phân tích vai trò của hiểu biết tài chính trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ, dựa trên khảo sát của Ngân hàng Trung ương châu Âu; đồng thời, đề xuất tăng cường giáo dục và truyền thông tài chính để hỗ trợ chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế bền vững.
Giải mã bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm Đông Á và một số khuyến nghị chính sách

Giải mã bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm Đông Á và một số khuyến nghị chính sách

Bài viết này tổng hợp bài học từ các nền kinh tế đã thành công vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia và Trung Quốc. Trên cơ sở đó, tác giả nêu một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam nhằm duy trì đà tăng trưởng, tránh rơi vào “bẫy” và hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh tế vĩ mô thế giới và trong nước các tháng đầu năm 2025: Rủi ro, thách thức và một số đề xuất, kiến nghị

Kinh tế vĩ mô thế giới và trong nước các tháng đầu năm 2025: Rủi ro, thách thức và một số đề xuất, kiến nghị

Việt Nam đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8% trở lên, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn tăng trưởng hai con số từ năm 2026. Đây là một mục tiêu đầy thách thức, khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định và tăng trưởng khu vực đang có xu hướng chậm lại, cùng với việc Hoa Kỳ thực hiện áp thuế đối ứng với các đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam. Mặc dù vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 8% năm 2025 vẫn có thể đạt được, với điều kiện phải có sự điều hành chính sách linh hoạt, đồng bộ và cải cách thể chế đủ mạnh để khơi thông các điểm nghẽn về đầu tư, năng suất và thị trường…

Thông tư số 10/2025/TT-NHNN quy định về tổ chức lại, thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 07/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2024/TT-NHNN ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 08/2025/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 43/2015/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về tổ chức và hoạt động của phòng giao dịch bưu điện trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt, Thông tư số 29/2024/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về quỹ tín dụng nhân dân và Thông tư số 32/2024/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướ

Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng

Nghị định số 26/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 59/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 của 2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trong nước

Thông tư số 60/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về dịch vụ ngân quỹ cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 61/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về bảo lãnh ngân hàng

Thông tư số 62/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục chấp thuận việc tổ chức lại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 63/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 Quy định về hồ sơ, thủ tục thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hồ sơ, thủ tục thu hồi Giấy phép văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng