Thực trạng công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Phát triển bền vững được xem là một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại. Hiện nay, ngày càng nhiều tổ chức tài chính áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội, quản trị (ESG) vào hoạt động thực tiễn của mình để hướng tới thông điệp chung tay vì sự phát triển bền vững.
aa

Tóm tắt: Phát triển bền vững được xem là một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại. Hiện nay, ngày càng nhiều tổ chức tài chính áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội, quản trị (ESG) vào hoạt động thực tiễn của mình để hướng tới thông điệp chung tay vì sự phát triển bền vững. Dựa trên cơ sở bộ tiêu chuẩn về Báo cáo phát triển bền vững (GRI) và các nghiên cứu tiền nhiệm, tác giả đã xây dựng bảng tham chiếu để đánh giá mức độ công bố thông tin ESG của ngân hàng thương mại (NHTM), đồng thời sử dụng phương pháp phân tích nội dung từ báo cáo thường niên và báo cáo ESG của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2018 - 2023. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các nội dung về môi trường (ENV) có mức độ công bố thông tin thấp hơn nhiều so với mức độ công bố thông tin về xã hội (SOC) và quản trị (GOV). Ngoài ra, mức độ công bố thông tin có sự khác biệt đáng kể giữa các chủ đề ESG và từng ngân hàng.

Từ khóa: Công bố thông tin, ESG, NHTM, Việt Nam.

THE CURRENT SITUATION OF ENVIRONMENTAL, SOCIAL AND GOVERNANCE INFORMATION DISCLOSURE BY VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS

Abstract: Sustainable development is considered one of the most urgent issues in morden life. Currently, an increasing number of financial institutions are adopting environmental, social and governance (ESG) standards into their practical operations to promote the message of sustainable development. Based on the standards for sustainability reporting (GRI) and previous researches, the authors have developed a reference table to assess the level of ESG information disclosure by commercial banks, while also utilizing simultaneous analysis from the annual reports and ESG reports of 20 Vietnamese commercial banks from 2018 to 2023. The research results indicate that environmental disclosures are significantly lower compared to social and governance disclosures. Furthermore, there are considerable differences in the level of disclosure across ESG topics and between banks.

Keywords: Information disclosure, ESG, commercial banks, Vietnam.

1. Thực trạng công bố thông tin ESG trung bình của hệ thống NHTM

Thông qua số liệu được thu thập và mã hóa từ khảo sát mức độ công bố thông tin ESG của 20 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2018 - 2023, tác giả nhận định mức độ công bố thông tin ESG tại các NHTM có xu hướng tăng theo thời gian. Kết quả này phản ánh thực tế khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã và đang ban hành nhiều chỉ thị, kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, từ đó tác động trực tiếp đến các NHTM, thúc đẩy việc tích hợp các tiêu chí ESG vào hoạt động của mình. (Hình 1)

Hình 1: Công bố thông tin ESG trung bình của hệ thống NHTM

giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả


Phân tích chi tiết về mức độ công bố thông tin ESG trung bình của toàn hệ thống theo 3 chủ đề: ENV, SOC và GOV, tác giả nhận thấy mức độ công bố thông tin ENV là thấp nhất, trong khi đó, việc công bố thông tin SOC và GOV ghi nhận mức độ cao hơn đáng kể. Điều này có nghĩa, các NHTM tại Việt Nam cần chú trọng và nỗ lực cải thiện các hoạt động bảo vệ môi trường hơn trong tương lai. Không chỉ dừng lại ở các hoạt động nội bộ, mà trong hoạt động kinh doanh, NHTM cần chủ động nâng cao các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường nhất có thể.

Bên cạnh đó, việc mức điểm công bố thông tin SOC và GOV cao hơn đáng kể so với ENV đã thể hiện sự quan tâm của các nhà quản lý ngân hàng ngày càng cao với việc thực hiện và công bố các hoạt động SOC và GOV. Ngoài ra, thông tin về GOV đều là nguồn lực sẵn có của các ngân hàng, do vậy việc thu thập và công bố sẽ dễ dàng hơn. Với 0,82 điểm vào năm 2020, mức độ công bố thông tin SOC đã vượt điểm công bố thông tin GOV (0,78) bởi sự gia tăng của các chương trình tín dụng ưu đãi hỗ trợ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 (Điểm số ESG đã đề cập của 20 ngân hàng được tính trung bình trong 6 năm, và điểm số cao nhất mà một ngân hàng có thể đạt được ở mỗi yếu tố là 1,0). (Hình 2)

Hình 2: Công bố thông tin ESG theo chủ đề của hệ thống NHTM

giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả


2. Khảo sát mức độ công bố thông tin ESG theo chủ đề của NHTM

Dựa theo kết quả khảo sát của tác giả, mức độ công bố thông tin SOC và GOV của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu luôn duy trì được sự ổn định trong 6 năm và có điểm số cao hơn so với thông tin ENV. Cụ thể, khi nhìn vào điểm số về ENV, NHTM cổ phần Quân đội (MBB) là 0,77; NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là 0,73 và NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) là 0,72. Đây là các ngân hàng có mức độ công bố thông tin trung bình trong giai đoạn 2018 - 2023 cao nhất. Trong khi đó, chủ đề SOC và GOV đều được ghi nhận ở mức điểm tuyệt đối. Đối với SOC, NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDB) là 1,00; NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (CTG) là 0,97 và NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB) là 0,93. Cùng với đó, STB (0,98), HDB (0,90), NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) (0,90) có mức độ công bố thông tin GOV trung bình trong 6 năm cao nhất. Trong khi một số NHTM cổ phần có điểm công bố ENV dưới 0,22 đã cho thấy sự thiếu hụt trong việc công bố thông tin về ENV của các ngân hàng này.

Nhìn chung, các ngân hàng có điểm công bố thông tin cao trong một chủ đề thường sẽ có mức điểm tốt ở hai chủ đề còn lại. Ngoài ra, biểu đồ cũng phản ánh mức độ công bố thông tin ENV của các ngân hàng có biến động mạnh nhưng vẫn thấp hơn so với thông tin SOC và GOV.

2.1. Khảo sát mức độ công bố thông tin ENV tại NHTM

Nghiên cứu thực hiện thống kê câu hỏi khảo sát theo chủ đề về ENV, theo đó, các thông tin về việc tham gia, hợp tác cùng các tổ chức, sáng kiến quốc tế hướng tới phát triển bền vững và thông tin về hoạt động cấp tín dụng xanh được các NHTM công bố nhiều nhất. Các thông tin được công bố ít nhất liên quan đến chỉ số về môi trường trong hoạt động nội bộ và chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng về việc bảo vệ môi trường. (Bảng 1)


Bảng 1: Thống kê kết quả công bố thông tin ENV

Nguồn: Tổng hợp của tác giả


Sau khi thực hiện khảo sát, nghiên cứu rút ra kết luận rằng, mặc dù mức độ công bố thông tin ENV của các ngân hàng còn thấp, như việc một số ngân hàng không đạt được điểm nào vào năm 2018 và có sự biến động lớn về mức độ công bố thông tin giữa các năm, nhưng có sự gia tăng trong các thông tin liên quan, cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường của ngân hàng đang dần cải thiện trong những năm gần đây.

Vào năm 2023, nhiều ngân hàng đã đạt được điểm tuyệt đối về mức độ công bố thông tin ENV, cho thấy xu hướng tăng mạnh trong hoạt động này của các ngân hàng khi vào năm 2018, mức điểm này đều ở dưới ngưỡng 0,6. Việc công bố số liệu chi tiết, cụ thể về lượng nhiên liệu tiêu thụ trong hoạt động của ngân hàng, cùng việc quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng và thực hiện các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường đã nâng mức điểm công bố thông tin của các ngân hàng.

Hình 3: Công bố thông tin ESG theo chủ đề của một số NHTM

giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả

Nhìn chung, xu hướng gia tăng điểm công bố thông tin của các ngân hàng trong 6 năm đã được cải thiện nhờ việc tập trung vào hoạt động tín dụng xanh và giảm thiểu tác động đến môi trường từ hoạt động văn phòng của mình. Hơn nữa, một số ngân hàng đã tổ chức các chương trình bảo vệ môi trường thiết thực tới cộng đồng như lập Quỹ vì môi trường (NHTM cổ phần Đông Nam Á - SSB), dự án “Gần lại O” (NHTM cổ phần Á Châu - ACB), chiến dịch “Chung tay trồng cây qua ứng dụng” (MBB)... Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn cần nỗ lực để hoàn thiện và thực hành các hoạt động về môi trường hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng thông tin về hoạt động này. (Hình 4)

Hình 4: Mức độ công bố thông tin ENV của một số NHTM

giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả


2.2. Khảo sát mức độ công bố thông tin SOC tại NHTM

Thực hiện thống kê các câu hỏi khảo sát theo chủ đề SOC, kết quả cho thấy các hoạt động hỗ trợ nghiệp vụ, phát triển kỹ năng cho người lao động và giải pháp nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện được các ngân hàng công bố nhiều nhất. Trong khi thông tin được công bố ít nhất là thông tin liên quan đến các chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức tài chính dành cho khách hàng và các hoạt động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới của ngân hàng. (Bảng 2)

Bảng 2: Thống kê kết quả công bố thông tin SOC

Nguồn: Tính toán của tác giả

Khác với thông tin ENV, thông tin SOC không có sự chênh lệch nhiều về mức độ công bố giữa các năm. Điều này cho thấy các ngân hàng đã tích cực thực hiện hoạt động xã hội giúp nâng cao hình ảnh và uy tín của mình. Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, nhiều ngân hàng đã chủ động chuyển đổi hình thức đào tạo tập trung sang E-learning. Từ đó, kế hoạch đào tạo vẫn được thực hiện hiệu quả, bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh dịch bệnh. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Nhờ việc duy trì và đẩy mạnh các hoạt động xã hội, vào năm 2023, nhiều ngân hàng đã đạt mức điểm tối đa (1,0) trong việc công bố thông tin xã hội như ACB, BIDV, HDB, LPB, SSB, VPB... Kết quả này là minh chứng cho nỗ lực cải thiện của ngân hàng trong việc thực hiện các hoạt động an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi cho người lao động và khách hàng, thúc đẩy tài chính toàn diện, đồng thời minh bạch trong các thông tin về dịch vụ, sản phẩm của mình. (Hình 5)

Hình 5: Mức độ công bố thông tin SOC của một số NHTM

giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả


2.3. Khảo sát mức độ công bố thông tin GOV tại NHTM

Kết quả từ việc khảo sát công bố thông tin xã hội cho thấy, việc đánh giá rủi ro hoạt động, tuân thủ pháp luật và mô tả cấu trúc, cơ cấu quản trị là các thông tin được ngân hàng đề cập đến nhiều nhất. Bên cạnh đó, thông tin về nội dung quy tắc đạo đức cho toàn bộ nhân viên và thực hiện đánh giá rủi ro, phòng, chống tham nhũng trong tất cả hoạt động kinh doanh được các ngân hàng đề cập đến ít nhất. (Bảng 3)

Bảng 3: Thống kê kết quả công bố thông tin GOV

Nguồn: Tổng hợp của tác giả


Phần lớn các ngân hàng cho thấy xu hướng tăng dần mức độ công bố thông tin GOV do yêu cầu tăng cường minh bạch từ phía nhà quản lý và sự thay đổi trong nhận thức của các ngân hàng về tầm quan trọng của các thông tin liên quan đến hoạt động quản trị. Theo kết quả khảo sát, nhiều ngân hàng như ACB, BIDV, NHTM cổ phần Hàng Hải Việt Nam (MSB), SSB, VPB... đạt được điểm tuyệt đối về mức độ công bố thông tin GOV năm 2023. Hơn nữa, nhờ việc duy trì thông tin về nội dung các quy tắc đạo đức trong báo cáo đã giúp STB và VPB giữ mức điểm tối đa trong nhiều năm. Bên cạnh đó, hoạt động phòng, chống tham nhũng chỉ được đề cập bởi số ít các ngân hàng trong báo cáo, điều này giúp họ tăng mức điểm khảo sát so với phần lớn các ngân hàng khác. (Hình 6)

Hình 6: Mức độ công bố thông tin GOV

của một số NHTM giai đoạn 2018 - 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả


Có thể thấy rằng việc công bố thông tin ESG của các ngân hàng có xu hướng gia tăng đáng kể, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức và hạn chế cần vượt qua, đặc biệt là các nội dung liên quan đến ENV. Để góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường, đồng thời, cải thiện chiến lược, chính sách liên quan đến ESG. Việc xây dựng chiến lược ESG toàn diện và có hệ thống không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hình ảnh, uy tín mà còn tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng. Bằng cách liên tục cải thiện và minh bạch hóa hoạt động ESG, các NHTM tại Việt Nam không chỉ đáp ứng tốt hơn yêu cầu của cơ quan quản lý và nhà đầu tư, mà còn đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển bền vững của xã hội.

3. Một số khuyến nghị thúc đẩy công bố thông tin ESG tại các NHTM

3.1. Đối với Chính phủ

Chính phủ cần ban hành chính sách và quy định về công bố thông tin ESG. Theo đó, Chính phủ đề ra các yêu cầu về tiêu chuẩn bắt buộc và đồng bộ khi công bố thông tin ESG đối với các ngân hàng nhằm bảo đảm tính minh bạch và đầy đủ dữ liệu. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thiết lập cơ quan giám sát nhằm kiểm tra và đánh giá thực hiện công bố thông tin ESG của các ngân hàng: Cần lập cơ quan giám sát đặc biệt để kiểm tra và đánh giá việc thực hiện công bố thông tin ESG, cũng như xử phạt các vi phạm, bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục về nhận thức đối với môi trường, xã hội cho doanh nghiệp, người dân thông qua các văn bản và chính sách phù hợp nhằm khuyến khích, hỗ trợ công tác truyền thông và huy động sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc truyền bá thông điệp về ESG đến mọi đối tượng trong xã hội.

3.2. Đối với NHNN

NHNN cần tiêu chuẩn hóa về công bố thông tin ESG dành cho các NHTM thông qua việc xây dựng hệ thống ESG chuẩn hóa và nhất quán. Hệ thống này cần được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn và công ước quốc tế, đồng thời được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và đặc điểm của hệ thống tài chính Việt Nam. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí chấm điểm công bố thông tin, giúp ngân hàng xác định điểm mạnh và điểm yếu, đồng thời cho phép các cơ quan giám sát có cách nhìn tổng quan về mức độ tuân thủ ESG của NHTM. Ngoài ra, NHNN cần phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu ESG dành cho ngành Ngân hàng, giúp các bên liên quan dễ truy cập và so sánh thông tin, đồng thời, xây dựng bộ tiêu chí phân loại dự án xanh giúp bảo đảm tính thống nhất và linh hoạt của hệ thống đánh giá. NHNN cũng cần kết hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc yêu cầu các NHTM thực hiện kiểm định các dự án xanh.

3.3. Đối với NHTM

Trong việc thực hành và công bố thông tin ENV:

NHTM cần tăng cường ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm cải thiện hệ thống thu thập dữ liệu liên quan đến môi trường bằng cách sử dụng công nghệ để tối ưu hóa việc thu thập các thông tin ENV trong các hoạt động nội bộ và hoạt động kinh doanh. Tăng cường các chiến dịch truyền thông liên quan đến bảo vệ môi trường tới khách hàng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho nhân viên ngân hàng và cả khách hàng. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ quá trình giảm phát thải carbon đối với các khách hàng cũ của ngân hàng: Thực hiện theo dõi, kiểm định, khảo sát các khách hàng định kỳ về mức độ phát thải carbon hiện tại, hỗ trợ trong việc quản lý rủi ro của dự án này trong tương lai và áp dụng các chương trình lãi suất ưu đãi phù hợp. Đồng thời, tích cực nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường đối với người lao động thông qua việc tích hợp các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường vào hệ thống đánh giá hiệu suất nhân viên, tổ chức các buổi đào tạo chuyên đề về môi trường nhằm tạo ra thay đổi hành vi lâu dài và thúc đẩy một văn hóa làm việc xanh.

Trong việc thực hành và công bố thông tin SOC:

NHTM cần duy trì các hoạt động an sinh xã hội thông qua việc cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ tín dụng cho các đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục ở các khu vực khó khăn. Tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển đổi số bằng cách hợp tác với các tổ chức công nghệ tài chính để cải thiện hiệu quả quá trình số hóa, tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và bảo đảm an ninh thông tin. Bên cạnh đó, NHTM cần cải thiện mức độ phát triển của tài chính toàn diện khi triển khai các giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và tăng cường giáo dục tài chính cho khách hàng.

Trong việc thực hành và công bố thông tin GOV:

NHTM cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững vào chiến lược hoạt động lâu dài: Một chiến lược rõ ràng sẽ giúp ngân hàng xác định các mục tiêu phát triển bền vững, phân bổ nguồn lực hiệu quả và đo lường tiến trình thực hiện một cách chính xác, từ đó giúp việc thực hành và công bố thông tin đạt được hiệu quả hơn. Ngoài ra, các NHTM cần xác định danh sách nội dung công bố thông tin ESG trọng yếu phù hợp trong báo cáo phát triển bền vững/ESG độc lập: Các NHTM nên chọn lọc, xác định các chủ đề ESG dựa trên đặc điểm hoạt động và thị trường trong nước, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như GRI, tiêu chuẩn của Lực lượng đặc nhiệm về công bố tài chính liên quan đến khí hậu (TCFD) và Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Bền vững (SASB) để bảo đảm tính thống nhất và minh bạch trong báo cáo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Loan, B. T. T., Anh, T. T. L., & Hoang, T. (2024). ESG disclosure and financial performance: Empirical study of Vietnamese commercial banks.

2. Nguyen, N. (2018). The effect of corporate social responsibility disclosure on financial performance: Evidence from credit institutions in Vietnam. Available at SSRN 3101658.

3. Oanh, N. T., & Huong, N. T. (2023). ESG, corporate financial performance, and corporate financial risk of manufacturing firms in Vietnam: A qualitative comparative analysis.

4. Van Nguyen, T., Bui, H. T., & Le, C. H. (2022). The impacts of corporate social responsibility to corporate financial performance: A case study of Vietnamese commercial banks. Cogent Economics & Finance, 10(1), 2132642.


ThS. Đào Mỹ Hằng, Nguyễn Thị Minh Trang
Học viện Ngân hàng


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành