Thông điệp từ áp dụng ESG trong ngành Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng
ESG là bộ tiêu chuẩn đo lường những yếu tố liên quan đến hoạt động phát triển bền vững của một doanh nghiệp...
aa

Tóm tắt: Tiêu chuẩn bền vững hiện được xem là một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại. Ngày càng nhiều tổ chức tài chính áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG: Environmental - Social - Governance) vào hoạt động thực tiễn của mình để hướng tới thông điệp chung tay vì sự phát triển bền vững. Theo nghiên cứu của Tổ chức DARA International, Việt Nam là quốc gia có thể chịu tổn thất khoảng 15 tỉ USD/năm do biến đổi khí hậu, tương đương khoảng 5% GDP. Việc áp dụng các tiêu chí ESG là giải pháp để ngành Ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, cũng như nâng cao uy tín, vị thế của mình cả trong nước và quốc tế.

Từ khóa: ESG, ngân hàng xanh, tín dụng xanh, phát triển bền vững.

THE MESSAGE FROM IMPLEMENTING ESG IN THE BANKING INDUSTRY

Abstract: Sustainable standards are currently regarded as one of the most urgent issues of our time. An increasing number of financial organizations are integrating Environmental, Social, and Governance (ESG) standards into their practical operations to advocate for collective sustainable development. According to research by DARA, Vietnam can suffer losses of approximately 15 billion USD per year due to climate change, equivalent to about 5% of GDP. Applying ESG is a solution for the banking sector to contribute to promoting green growth and sustainable development, as well as enhancing its reputation and position both domestically and internationally.

Keywords: ESG, green banking, green credit, sustainable development.

1. Xu hướng và những thành quả đáng ghi nhận về áp dụng ESG

ESG là bộ tiêu chuẩn đo lường những yếu tố liên quan đến hoạt động phát triển bền vững của một doanh nghiệp. ESG cung cấp một khuôn khổ chung để xem xét tác động và sự phụ thuộc của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội cũng như chất lượng quản trị của chính doanh nghiệp.

Theo khảo sát của Finastra tại Hồng Kông và Singapore, gần 90% giám đốc điều hành tài chính cho rằng, hỗ trợ các sáng kiến ​​ESG là rất quan trọng đối với ngành dịch vụ tài chính và ngân hàng.

Việc áp dụng ESG trong ngành Ngân hàng, kênh truyền dẫn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế, đang được xem là một trong những xu hướng trên thế giới, trực tiếp và gián tiếp đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và các cam kết trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Dựa trên quy trình thẩm định rủi ro chặt chẽ, qua đó điều phối và cung cấp nguồn vốn, ngân hàng đã luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt nền kinh tế. Sự tiên phong trong việc thực thi ESG của ngành Ngân hàng đã góp phần tạo ra sự thúc đẩy lớn đối với các doanh nghiệp trong việc thiết lập những chuẩn mực mới về phát triển bền vững.

Ngoài ra, ESG cũng sẽ ngày càng ảnh hưởng đến chiến lược M&A trong tương lai khi các nhà đầu tư sử dụng các tiêu chí này để đánh giá rủi ro và xác định các cơ hội kiến tạo giá trị. Với cam kết về giảm phát thải carbon của nhiều doanh nghiệp và quỹ đầu tư tư nhân, nguồn vốn gia tăng sẽ được huy động đầu tư cho quá trình chuyển đổi sang những mô hình kinh doanh xanh hơn và có trách nhiệm với xã hội hơn.

Đồng thời, việc áp dụng ESG và kết hợp ba yếu tố ESG vào một báo cáo tích hợp và chiến lược tổng quát của ngân hàng sẽ đưa ra thông điệp rằng ngân hàng đang thực hiện các bước đi cần thiết để gia tăng tính khả thi và sinh lời trong dài hạn. Đây là một nhân tố tích cực trong việc đáp ứng các kì vọng từ bên ngoài của nhà đầu tư, cổ đông, đối tác, nhân viên, khách hàng của ngân hàng.

Sớm đồng hành cùng xu hướng này và để tạo điều kiện cho việc áp dụng các tiêu chí ESG trong ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều chỉ thị, kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Ngày 07/8/2018, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam. Đồng thời, NHNN cũng đã công bố Sổ tay đánh giá rủi ro môi trường và xã hội cho 10 ngành kinh tế trong hoạt động cấp tín dụng. Đến ngày 23/12/2022, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quản lí rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cùng với đó, NHNN đẩy mạnh công tác đào tạo, truyền thông về ngân hàng xanh, tín dụng xanh...

Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực thực thi từ ngày 01/01/2022 đã thể hiện cam kết của Việt Nam đối với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Luật đặt ra khuôn khổ để NHNN triển khai các chính sách liên quan nhằm bảo vệ môi trường thông qua dòng vốn đầu tư; qua đó, hình thành bộ khung pháp lí cơ bản về ESG dựa trên các quy định, thông lệ tại Việt Nam và tham chiếu tới 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc để tích hợp các tiêu chí ESG vào hoạt động ngành Ngân hàng.

Với các khung khổ pháp lí trên, các ngân hàng đều đã nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng xanh, ngân hàng xanh và vai trò của ESG trong hoạt động. Ngoài việc sử dụng ESG là một thước đo cho việc cung cấp dòng vốn đầu tư, các ngân hàng tại Việt Nam cũng đã phát triển và thực thi ESG trong các hoạt động của chính mình như: Ưu tiên tăng trưởng tín dụng xanh, tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan về rủi ro môi trường, xã hội; xây dựng các quy định nội bộ về quản lí rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động của ngân hàng; hoàn thiện cơ cấu tổ chức để thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh. Đặc biệt, nhiều ngân hàng chú ý loại trừ các lĩnh vực và công ty có tác động tiêu cực đáng kể đến tính bền vững; sàng lọc tốt nhất trong các công ty cùng loại theo tiêu chí ESG; liên kết các khoản vay và lãi suất với các mục tiêu bền vững; tạo mục tiêu cho vay đối với các giải pháp biến đổi khí hậu và phát triển các sản phẩm sáng tạo; đồng thời, phát triển các kế hoạch để tích hợp các chiến lược ESG vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của khách hàng...

Nhìn chung, Việt Nam hiện được đánh giá là một trong 38 thị trường đang phát triển có những bước tiến đáng kể trong nỗ lực thúc đẩy ngành tài chính - ngân hàng hướng tới phát triển bền vững và được xếp vào nhóm các quốc gia trong giai đoạn triển khai Ma trận tiến bộ của Mạng lưới ngân hàng bền vững (SBN); xếp thứ hạng cao so với các nước châu Á và toàn cầu trong các chính sách liên quan đến đóng góp quốc gia tự quyết NDCs.

NHNN cho biết: Giai đoạn 2017 - 2022, dư nợ cấp tín dụng của hệ thống đối với các lĩnh vực xanh có mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt hơn 23%/năm.

Tính đến ngày 30/9/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh đạt hơn 564 nghìn tỉ đồng, chiếm tỉ trọng khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Trong số 12 lĩnh vực xanh NHNN hướng dẫn các TCTD cho vay, dư nợ tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm gần 45%) và nông nghiệp xanh (hơn 30%).

Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Quân đội (MB) là một trong những ngân hàng đi đầu về việc thực thi ESG toàn diện trên các phương diện xã hội, môi trường, kinh tế và quản trị. Ngay từ năm 2017, Ngân hàng này đã từng bước thực thi dựa trên các tiêu chuẩn, ban hành khung chiến lược phát triển ngân hàng xanh theo cấp độ 3, từ đó hướng tới cấp độ 5 được đề xuất tại Đề án xây dựng ngân hàng xanh theo Công văn số 4141/VCL-NHNN của NHNN. Từ năm 2021 đã có đến gần 90% hoạt động nội bộ của MB không sử dụng giấy tờ, mà áp dụng số hóa trong nhiều khâu. Đến năm 2023, MB cam kết thực hiện chiến lược ESG một cách bài bản, theo chuẩn đo lường quốc tế, xấp xỉ 100% hoạt động nội bộ hoàn toàn không giấy tờ. MB cũng đã số hóa tới 90% sản phẩm tích hợp trên hệ sinh thái App MBBank cho khách hàng cá nhân, BIZ MBBank cho khách hàng doanh nghiệp, giúp tối giảm tối đa việc sử dụng giấy tờ trong các khâu, tối ưu thời gian công sức cho cả khách hàng và nhân lực ngân hàng. MB hiện đang quản lí hơn 20 triệu khách hàng cá nhân và 500.000 khách hàng doanh nghiệp. Quá trình số hóa này đã và đang giúp MB giảm đáng kể chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lí rủi ro tốt hơn đúng theo chuẩn quốc tế của ESG; cải thiện môi trường làm việc của MB theo hướng thân thiện, chuyên nghiệp và năng suất lao động tăng lên. Tỉ lệ tín dụng xanh hiện chiếm từ 10 - 11% tổng tín dụng hằng năm của MB, tăng trưởng khoảng 15 - 20% mỗi năm (hiện tại dư nợ cho vay của MB là trên 600 nghìn tỉ đồng) thì đây là con số rất lớn vì hiện nay một số ngân hàng lớn trên thế giới chỉ dùng khoảng 8% dư nợ để cho vay năng lượng tái tạo, tín dụng xanh...

Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) vừa được Tạp chí Asiamoney vinh danh là “Ngân hàng có tác động ESG tốt nhất”. Trước đó, trung tuần tháng 6/2023, FinanceAsia - Tạp chí uy tín hàng đầu châu Á trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng đã vinh danh SHB là “Ngân hàng có tác động ESG tốt nhất Việt Nam” cho những tác động tích cực liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị. SHB cũng nằm trong Top 10 doanh nghiệp xanh và phát triển bền vững theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế xanh vì một Quốc gia phát triển bền vững năm 2023 do Hiệp hội Môi trường Việt Nam tổ chức; đồng thời còn thuộc Top 10 ngân hàng thu xếp vốn đầu tư hiệu quả cho các dự án năng lượng Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021 do Hiệp hội Năng lượng Việt Nam vinh danh... Việc liên tục được các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế vinh danh các giải thưởng về ESG, tín dụng xanh là minh chứng những thành quả rõ nét của ngân hàng trong chiến lược phát triển bền vững. Xây dựng và triển khai thành công khung quản trị ESG đã giúp SHB thu hút thành công hàng tỉ USD nguồn vốn ODA từ các tổ chức quốc tế, qua đó giúp SHB đảm bảo nguồn vốn để tiếp tục hỗ trợ các dự án chuyển đổi xanh và mang lại tác động tích cực đến kinh tế - xã hội cũng như củng cố vị thế của một ngân hàng xanh và bền vững hàng đầu Việt Nam.

Hưởng ứng ESG, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) còn có một bộ phận môi trường và xã hội (E&S) thuộc Khối khách hàng doanh nghiệp, có nhóm E&S riêng; bộ phận văn phòng lãnh đạo, Khối nhân sự tham vấn cho Ban điều hành và HĐQT về ESG. Mới đây, HDBank đã kí kết thỏa thuận “Tín dụng xanh” với IFC trị giá 70 triệu USD, các khoản vay sử dụng nguồn vốn này sẽ phải tuân thủ theo chính sách E&S nghiêm ngặt của IFC. HDBank cũng đã hoàn thiện quy trình “Quản lí trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESMS)” áp dụng cho toàn danh mục của ngân hàng trong năm 2022...

2. Một số thách thức và giải pháp trong việc thực thi ESG

Thực tế cũng cho thấy, các ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức trong quá trình áp dụng ESG, như:

Thứ nhất, sự không nhất quán trong các tiêu chuẩn báo cáo về ESG ở cấp quốc tế.

Chẳng hạn, Sáng kiến ​​Báo cáo Toàn cầu (GRI) cung cấp các hướng dẫn toàn diện để xác định rủi ro ESG, trong khi Tổ chức Báo cáo giá trị (VRF) đặt ra các tiêu chuẩn để xác định giá trị doanh nghiệp. Tương tự, các tiêu chí khác nhau đã được các nhà cung cấp dữ liệu thị trường lớn sử dụng để phát triển xếp hạng ESG độc lập của mình. Ở Trung Quốc, các cơ quan quản lí và nhà đầu tư là những trọng tài chính cho các tiêu chuẩn và chính sách. Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng, chính phủ nước này sẽ không sớm đưa ra các hành động chính thức. Tại Mỹ, Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC) đã đề xuất một bộ hướng dẫn được công bố vào tháng 3/2022, nhưng sau đó bị lùi lại 7 tháng mà không có thời hạn mới nào được thiết lập. Ở châu Âu, Chỉ thị Báo cáo Phát triển Bền vững Doanh nghiệp (CSRD) do Nhóm Tư vấn Báo cáo Tài chính châu Âu (EFRAG) đề xuất một bộ nguyên tắc nâng cao và toàn diện, đồng thời thông tin được sử dụng để xác thực việc tuân thủ phải được các bên thứ ba xem xét kĩ lưỡng. Nhiều khác biệt trong phương pháp xếp hạng toàn cầu và khuôn khổ báo cáo có thể dẫn đến những lợi thế không công bằng. Một công ty hoạt động ở Mỹ, có chế độ ít nghiêm ngặt hơn, có thể có xếp hạng ESG cao hơn so với một công ty tương tự hoạt động trong chế độ chặt chẽ hơn. Các ngân hàng cũng khó đánh giá chính xác rủi ro do chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này cho thấy có rất nhiều sự chú ý đối với Ủy ban Tiêu chuẩn Bền vững Quốc tế (ISSB), nhằm mục đích phát triển một bộ tiêu chí bền vững toàn diện được thiết kế để tương thích với các tiêu chuẩn cụ thể của khu vực pháp lí.

Thứ hai, ở trong nước, nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong tìm kiếm nhân sự về E&S, dự án mang tính kĩ thuật phức tạp, tính khả thi của việc thuê chuyên gia E&S.

Ngoài việc xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động áp dụng ESG, các ngân hàng còn cần đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp và có kinh nghiệm trong các hoạt động ESG, có khả năng đánh giá rủi ro ESG để đề ra các phương án giải quyết phù hợp. Chính sự mới mẻ của khái niệm rủi ro ESG khiến việc triển khai áp dụng các công tác quản trị, đánh giá rủi ro ESG tại các TCTD gặp nhiều vướng mắc.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng yêu cầu nhiều mô hình mạnh hơn để đánh giá rủi ro. Các mô hình truyền thống thường dựa vào dữ liệu lịch sử để đưa ra các dự báo trong tương lai, nhưng điều này không đáng tin cậy. Thay vào đó, các ngân hàng cần dữ liệu và mô hình hướng tới tương lai để dự đoán các tác động của khí hậu và đánh giá rủi ro một cách chính xác.

Đối với các ngân hàng phát triển, các yếu tố như hệ thống cũ, thiếu đào tạo nhân viên và nguồn lực có thể gây khó khăn cho việc truy cập và báo cáo kịp thời về cấp dữ liệu sâu hơn, chẳng hạn như đối với phát thải khí nhà kính ở phạm vi 3.

Sử dụng dữ liệu và báo cáo để tạo ra thay đổi có ý nghĩa là một thách thức khác. Ernst & Young (EY) - một hãng dịch vụ kiểm toán chuyên nghiệp đa quốc gia có trụ sở tại London (Anh) - chỉ ra rằng, dưới 30% trong số các công ty đề cập đến các vấn đề liên quan đến khí hậu trong báo cáo tài chính của họ.

Nếu không có mối tương quan rõ ràng giữa các tác động liên quan đến khí hậu và kết quả tài chính, các tổ chức sẽ thiếu cái nhìn sâu sắc để thực hiện hành động tích cực và giảm thiểu rủi ro tài chính.

Những khó khăn trong việc sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả, cùng với việc thiếu các chỉ số rõ ràng và nhất quán để đánh giá các tác động liên quan đến khí hậu, đang khiến các ngân hàng phải cải thiện báo cáo ESG và giảm thiểu rủi ro tài chính thông qua công nghệ.

Trên thực tế, có nhiều giải pháp Fintech tự động hóa việc thu thập dữ liệu từ lượng nhiên liệu được sử dụng, sản phẩm đã mua, đến việc đi lại của nhân viên, có thể được tích hợp ngay vào quy trình làm việc của ngân hàng. Sau đó, dữ liệu được đưa vào công cụ tính toán của ngân hàng. Những giải pháp khác cho phép nhập thông tin trực tiếp từ các hệ thống ERP nội bộ để đánh giá doanh nghiệp dựa trên nhiều điểm dữ liệu.

Với các API và nền tảng mở, các ngân hàng đang thiết lập nền tảng quản lí rủi ro mở và kết nối các sản phẩm. API cung cấp chức năng “plug and play”, gần như cho phép tích hợp đơn giản với các hệ thống ERP cốt lõi.

Sau khi tích hợp các giải pháp của bên thứ ba vào khung rủi ro tiêu chuẩn, các tổ chức có thể sử dụng các kịch bản liên quan đến khí hậu và các mô hình tối ưu hóa sổ ngân hàng hiện có để hướng dẫn đạt mục tiêu danh mục đầu tư bằng không. Việc chọn đối tác nền tảng phù hợp có thể tạo điều kiện tích hợp liền mạch và nhanh chóng. Do rủi ro tài chính ESG ngày càng leo thang và yêu cầu báo cáo ngày càng tăng ở các khu vực khác nhau, cả ngân hàng phát triển và ngân hàng toàn cầu đều cần có nhiều công cụ để thu thập dữ liệu và đánh giá tác động.

Bên cạnh đó, kì vọng của các định chế phát triển khác nhau và quy định pháp luật/tiêu chuẩn của Việt Nam, khả năng thích ứng thực tế của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là một rào cản.

Bởi vậy, để tăng cường áp dụng và lan tỏa các thông điệp ESG, cần chú ý chuẩn hóa điều kiện E&S được chấp nhận rộng rãi giúp việc triển khai được đồng bộ; NHNN khuyến khích các ngân hàng thương mại thực hiện tốt E&S, phát triển bền vững; tăng cường các khóa đào tạo có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, NHNN, Bộ Tài chính, hệ thống ngân hàng thương mại đến doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2021 - 2030 và hướng tới năm 2050, ngành Ngân hàng tập trung triển khai ban hành quy định khuyến khích các TCTD tài trợ, cho vay ưu đãi đối với dự án thuộc danh mục phân loại xanh; hướng dẫn quản lí rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng... NHNN tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các TCTD tập trung bố trí nguồn vốn phù hợp để cho vay ưu đãi, khuyến khích chủ đầu tư thực hiện dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh; phát hành trái phiếu xanh phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ các TCTD tiếp nhận nguồn vốn viện trợ, cho vay ưu đãi nước ngoài để tài trợ cho dự án thuộc danh mục phân loại xanh; nghiên cứu, xây dựng kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. https://nguoiquansat.vn/esg-kim-chi-nam-cho-ngan-hang-trong-muc-tieu-so-hoa-mot-ngan-hang-duoc-vinh-danh-98464.html

2. http://khoahocnganhang.org.vn/news/vi/hoi-thao-khoa-hoc-cap-nganh-cac-rui-ro-moi-truong-xa-hoi-quan-tri-trong-hoat-dong-ngan-hang/

3. https://thitruongtaichinhtiente.vn/cac-ngan-hang-phat-trien-thuc-day-tieu-chuan-esg-thong-qua-cong-nghe-48508.html

4. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/thuc-thi-esg-ngan-hang-can-hanh-dong-manh-hon-post298552.html

5. https://thoibaonganhang.vn/esg-kim-chi-nam-cho-ngan-hang-trong-muc-tieu-so-hoa-129049.html

6. https://cafef.vn/thuc-thi-chien-luoc-esg-nhung-duoc-mat-tu-nguoi-di-tien-phong-188231020123752692.chn

7. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/du-no-cap-tin-dung-xanh-tang-binh-quan-hon-23nam-post335161.html


TS. Nguyễn Minh Phong, ThS. Nguyễn Trần Minh Trí (Hà Nội)
ThS. Nguyễn Thị Duyên (Tạp chí Ngân hàng)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Xem thêm
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành