Thông điệp từ áp dụng ESG trong ngành Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng
ESG là bộ tiêu chuẩn đo lường những yếu tố liên quan đến hoạt động phát triển bền vững của một doanh nghiệp...
aa

Tóm tắt: Tiêu chuẩn bền vững hiện được xem là một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại. Ngày càng nhiều tổ chức tài chính áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG: Environmental - Social - Governance) vào hoạt động thực tiễn của mình để hướng tới thông điệp chung tay vì sự phát triển bền vững. Theo nghiên cứu của Tổ chức DARA International, Việt Nam là quốc gia có thể chịu tổn thất khoảng 15 tỉ USD/năm do biến đổi khí hậu, tương đương khoảng 5% GDP. Việc áp dụng các tiêu chí ESG là giải pháp để ngành Ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, cũng như nâng cao uy tín, vị thế của mình cả trong nước và quốc tế.

Từ khóa: ESG, ngân hàng xanh, tín dụng xanh, phát triển bền vững.

THE MESSAGE FROM IMPLEMENTING ESG IN THE BANKING INDUSTRY

Abstract: Sustainable standards are currently regarded as one of the most urgent issues of our time. An increasing number of financial organizations are integrating Environmental, Social, and Governance (ESG) standards into their practical operations to advocate for collective sustainable development. According to research by DARA, Vietnam can suffer losses of approximately 15 billion USD per year due to climate change, equivalent to about 5% of GDP. Applying ESG is a solution for the banking sector to contribute to promoting green growth and sustainable development, as well as enhancing its reputation and position both domestically and internationally.

Keywords: ESG, green banking, green credit, sustainable development.

1. Xu hướng và những thành quả đáng ghi nhận về áp dụng ESG

ESG là bộ tiêu chuẩn đo lường những yếu tố liên quan đến hoạt động phát triển bền vững của một doanh nghiệp. ESG cung cấp một khuôn khổ chung để xem xét tác động và sự phụ thuộc của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội cũng như chất lượng quản trị của chính doanh nghiệp.

Theo khảo sát của Finastra tại Hồng Kông và Singapore, gần 90% giám đốc điều hành tài chính cho rằng, hỗ trợ các sáng kiến ​​ESG là rất quan trọng đối với ngành dịch vụ tài chính và ngân hàng.

Việc áp dụng ESG trong ngành Ngân hàng, kênh truyền dẫn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế, đang được xem là một trong những xu hướng trên thế giới, trực tiếp và gián tiếp đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và các cam kết trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Dựa trên quy trình thẩm định rủi ro chặt chẽ, qua đó điều phối và cung cấp nguồn vốn, ngân hàng đã luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt nền kinh tế. Sự tiên phong trong việc thực thi ESG của ngành Ngân hàng đã góp phần tạo ra sự thúc đẩy lớn đối với các doanh nghiệp trong việc thiết lập những chuẩn mực mới về phát triển bền vững.

Ngoài ra, ESG cũng sẽ ngày càng ảnh hưởng đến chiến lược M&A trong tương lai khi các nhà đầu tư sử dụng các tiêu chí này để đánh giá rủi ro và xác định các cơ hội kiến tạo giá trị. Với cam kết về giảm phát thải carbon của nhiều doanh nghiệp và quỹ đầu tư tư nhân, nguồn vốn gia tăng sẽ được huy động đầu tư cho quá trình chuyển đổi sang những mô hình kinh doanh xanh hơn và có trách nhiệm với xã hội hơn.

Đồng thời, việc áp dụng ESG và kết hợp ba yếu tố ESG vào một báo cáo tích hợp và chiến lược tổng quát của ngân hàng sẽ đưa ra thông điệp rằng ngân hàng đang thực hiện các bước đi cần thiết để gia tăng tính khả thi và sinh lời trong dài hạn. Đây là một nhân tố tích cực trong việc đáp ứng các kì vọng từ bên ngoài của nhà đầu tư, cổ đông, đối tác, nhân viên, khách hàng của ngân hàng.

Sớm đồng hành cùng xu hướng này và để tạo điều kiện cho việc áp dụng các tiêu chí ESG trong ngành Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều chỉ thị, kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Ngày 07/8/2018, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam. Đồng thời, NHNN cũng đã công bố Sổ tay đánh giá rủi ro môi trường và xã hội cho 10 ngành kinh tế trong hoạt động cấp tín dụng. Đến ngày 23/12/2022, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quản lí rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cùng với đó, NHNN đẩy mạnh công tác đào tạo, truyền thông về ngân hàng xanh, tín dụng xanh...

Đặc biệt, việc Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực thực thi từ ngày 01/01/2022 đã thể hiện cam kết của Việt Nam đối với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Luật đặt ra khuôn khổ để NHNN triển khai các chính sách liên quan nhằm bảo vệ môi trường thông qua dòng vốn đầu tư; qua đó, hình thành bộ khung pháp lí cơ bản về ESG dựa trên các quy định, thông lệ tại Việt Nam và tham chiếu tới 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc để tích hợp các tiêu chí ESG vào hoạt động ngành Ngân hàng.

Với các khung khổ pháp lí trên, các ngân hàng đều đã nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng xanh, ngân hàng xanh và vai trò của ESG trong hoạt động. Ngoài việc sử dụng ESG là một thước đo cho việc cung cấp dòng vốn đầu tư, các ngân hàng tại Việt Nam cũng đã phát triển và thực thi ESG trong các hoạt động của chính mình như: Ưu tiên tăng trưởng tín dụng xanh, tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan về rủi ro môi trường, xã hội; xây dựng các quy định nội bộ về quản lí rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động của ngân hàng; hoàn thiện cơ cấu tổ chức để thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh. Đặc biệt, nhiều ngân hàng chú ý loại trừ các lĩnh vực và công ty có tác động tiêu cực đáng kể đến tính bền vững; sàng lọc tốt nhất trong các công ty cùng loại theo tiêu chí ESG; liên kết các khoản vay và lãi suất với các mục tiêu bền vững; tạo mục tiêu cho vay đối với các giải pháp biến đổi khí hậu và phát triển các sản phẩm sáng tạo; đồng thời, phát triển các kế hoạch để tích hợp các chiến lược ESG vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của khách hàng...

Nhìn chung, Việt Nam hiện được đánh giá là một trong 38 thị trường đang phát triển có những bước tiến đáng kể trong nỗ lực thúc đẩy ngành tài chính - ngân hàng hướng tới phát triển bền vững và được xếp vào nhóm các quốc gia trong giai đoạn triển khai Ma trận tiến bộ của Mạng lưới ngân hàng bền vững (SBN); xếp thứ hạng cao so với các nước châu Á và toàn cầu trong các chính sách liên quan đến đóng góp quốc gia tự quyết NDCs.

NHNN cho biết: Giai đoạn 2017 - 2022, dư nợ cấp tín dụng của hệ thống đối với các lĩnh vực xanh có mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt hơn 23%/năm.

Tính đến ngày 30/9/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh đạt hơn 564 nghìn tỉ đồng, chiếm tỉ trọng khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Trong số 12 lĩnh vực xanh NHNN hướng dẫn các TCTD cho vay, dư nợ tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm gần 45%) và nông nghiệp xanh (hơn 30%).

Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Quân đội (MB) là một trong những ngân hàng đi đầu về việc thực thi ESG toàn diện trên các phương diện xã hội, môi trường, kinh tế và quản trị. Ngay từ năm 2017, Ngân hàng này đã từng bước thực thi dựa trên các tiêu chuẩn, ban hành khung chiến lược phát triển ngân hàng xanh theo cấp độ 3, từ đó hướng tới cấp độ 5 được đề xuất tại Đề án xây dựng ngân hàng xanh theo Công văn số 4141/VCL-NHNN của NHNN. Từ năm 2021 đã có đến gần 90% hoạt động nội bộ của MB không sử dụng giấy tờ, mà áp dụng số hóa trong nhiều khâu. Đến năm 2023, MB cam kết thực hiện chiến lược ESG một cách bài bản, theo chuẩn đo lường quốc tế, xấp xỉ 100% hoạt động nội bộ hoàn toàn không giấy tờ. MB cũng đã số hóa tới 90% sản phẩm tích hợp trên hệ sinh thái App MBBank cho khách hàng cá nhân, BIZ MBBank cho khách hàng doanh nghiệp, giúp tối giảm tối đa việc sử dụng giấy tờ trong các khâu, tối ưu thời gian công sức cho cả khách hàng và nhân lực ngân hàng. MB hiện đang quản lí hơn 20 triệu khách hàng cá nhân và 500.000 khách hàng doanh nghiệp. Quá trình số hóa này đã và đang giúp MB giảm đáng kể chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lí rủi ro tốt hơn đúng theo chuẩn quốc tế của ESG; cải thiện môi trường làm việc của MB theo hướng thân thiện, chuyên nghiệp và năng suất lao động tăng lên. Tỉ lệ tín dụng xanh hiện chiếm từ 10 - 11% tổng tín dụng hằng năm của MB, tăng trưởng khoảng 15 - 20% mỗi năm (hiện tại dư nợ cho vay của MB là trên 600 nghìn tỉ đồng) thì đây là con số rất lớn vì hiện nay một số ngân hàng lớn trên thế giới chỉ dùng khoảng 8% dư nợ để cho vay năng lượng tái tạo, tín dụng xanh...

Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) vừa được Tạp chí Asiamoney vinh danh là “Ngân hàng có tác động ESG tốt nhất”. Trước đó, trung tuần tháng 6/2023, FinanceAsia - Tạp chí uy tín hàng đầu châu Á trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng đã vinh danh SHB là “Ngân hàng có tác động ESG tốt nhất Việt Nam” cho những tác động tích cực liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị. SHB cũng nằm trong Top 10 doanh nghiệp xanh và phát triển bền vững theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế xanh vì một Quốc gia phát triển bền vững năm 2023 do Hiệp hội Môi trường Việt Nam tổ chức; đồng thời còn thuộc Top 10 ngân hàng thu xếp vốn đầu tư hiệu quả cho các dự án năng lượng Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021 do Hiệp hội Năng lượng Việt Nam vinh danh... Việc liên tục được các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế vinh danh các giải thưởng về ESG, tín dụng xanh là minh chứng những thành quả rõ nét của ngân hàng trong chiến lược phát triển bền vững. Xây dựng và triển khai thành công khung quản trị ESG đã giúp SHB thu hút thành công hàng tỉ USD nguồn vốn ODA từ các tổ chức quốc tế, qua đó giúp SHB đảm bảo nguồn vốn để tiếp tục hỗ trợ các dự án chuyển đổi xanh và mang lại tác động tích cực đến kinh tế - xã hội cũng như củng cố vị thế của một ngân hàng xanh và bền vững hàng đầu Việt Nam.

Hưởng ứng ESG, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) còn có một bộ phận môi trường và xã hội (E&S) thuộc Khối khách hàng doanh nghiệp, có nhóm E&S riêng; bộ phận văn phòng lãnh đạo, Khối nhân sự tham vấn cho Ban điều hành và HĐQT về ESG. Mới đây, HDBank đã kí kết thỏa thuận “Tín dụng xanh” với IFC trị giá 70 triệu USD, các khoản vay sử dụng nguồn vốn này sẽ phải tuân thủ theo chính sách E&S nghiêm ngặt của IFC. HDBank cũng đã hoàn thiện quy trình “Quản lí trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESMS)” áp dụng cho toàn danh mục của ngân hàng trong năm 2022...

2. Một số thách thức và giải pháp trong việc thực thi ESG

Thực tế cũng cho thấy, các ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức trong quá trình áp dụng ESG, như:

Thứ nhất, sự không nhất quán trong các tiêu chuẩn báo cáo về ESG ở cấp quốc tế.

Chẳng hạn, Sáng kiến ​​Báo cáo Toàn cầu (GRI) cung cấp các hướng dẫn toàn diện để xác định rủi ro ESG, trong khi Tổ chức Báo cáo giá trị (VRF) đặt ra các tiêu chuẩn để xác định giá trị doanh nghiệp. Tương tự, các tiêu chí khác nhau đã được các nhà cung cấp dữ liệu thị trường lớn sử dụng để phát triển xếp hạng ESG độc lập của mình. Ở Trung Quốc, các cơ quan quản lí và nhà đầu tư là những trọng tài chính cho các tiêu chuẩn và chính sách. Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng, chính phủ nước này sẽ không sớm đưa ra các hành động chính thức. Tại Mỹ, Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC) đã đề xuất một bộ hướng dẫn được công bố vào tháng 3/2022, nhưng sau đó bị lùi lại 7 tháng mà không có thời hạn mới nào được thiết lập. Ở châu Âu, Chỉ thị Báo cáo Phát triển Bền vững Doanh nghiệp (CSRD) do Nhóm Tư vấn Báo cáo Tài chính châu Âu (EFRAG) đề xuất một bộ nguyên tắc nâng cao và toàn diện, đồng thời thông tin được sử dụng để xác thực việc tuân thủ phải được các bên thứ ba xem xét kĩ lưỡng. Nhiều khác biệt trong phương pháp xếp hạng toàn cầu và khuôn khổ báo cáo có thể dẫn đến những lợi thế không công bằng. Một công ty hoạt động ở Mỹ, có chế độ ít nghiêm ngặt hơn, có thể có xếp hạng ESG cao hơn so với một công ty tương tự hoạt động trong chế độ chặt chẽ hơn. Các ngân hàng cũng khó đánh giá chính xác rủi ro do chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này cho thấy có rất nhiều sự chú ý đối với Ủy ban Tiêu chuẩn Bền vững Quốc tế (ISSB), nhằm mục đích phát triển một bộ tiêu chí bền vững toàn diện được thiết kế để tương thích với các tiêu chuẩn cụ thể của khu vực pháp lí.

Thứ hai, ở trong nước, nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong tìm kiếm nhân sự về E&S, dự án mang tính kĩ thuật phức tạp, tính khả thi của việc thuê chuyên gia E&S.

Ngoài việc xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động áp dụng ESG, các ngân hàng còn cần đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp và có kinh nghiệm trong các hoạt động ESG, có khả năng đánh giá rủi ro ESG để đề ra các phương án giải quyết phù hợp. Chính sự mới mẻ của khái niệm rủi ro ESG khiến việc triển khai áp dụng các công tác quản trị, đánh giá rủi ro ESG tại các TCTD gặp nhiều vướng mắc.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng yêu cầu nhiều mô hình mạnh hơn để đánh giá rủi ro. Các mô hình truyền thống thường dựa vào dữ liệu lịch sử để đưa ra các dự báo trong tương lai, nhưng điều này không đáng tin cậy. Thay vào đó, các ngân hàng cần dữ liệu và mô hình hướng tới tương lai để dự đoán các tác động của khí hậu và đánh giá rủi ro một cách chính xác.

Đối với các ngân hàng phát triển, các yếu tố như hệ thống cũ, thiếu đào tạo nhân viên và nguồn lực có thể gây khó khăn cho việc truy cập và báo cáo kịp thời về cấp dữ liệu sâu hơn, chẳng hạn như đối với phát thải khí nhà kính ở phạm vi 3.

Sử dụng dữ liệu và báo cáo để tạo ra thay đổi có ý nghĩa là một thách thức khác. Ernst & Young (EY) - một hãng dịch vụ kiểm toán chuyên nghiệp đa quốc gia có trụ sở tại London (Anh) - chỉ ra rằng, dưới 30% trong số các công ty đề cập đến các vấn đề liên quan đến khí hậu trong báo cáo tài chính của họ.

Nếu không có mối tương quan rõ ràng giữa các tác động liên quan đến khí hậu và kết quả tài chính, các tổ chức sẽ thiếu cái nhìn sâu sắc để thực hiện hành động tích cực và giảm thiểu rủi ro tài chính.

Những khó khăn trong việc sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả, cùng với việc thiếu các chỉ số rõ ràng và nhất quán để đánh giá các tác động liên quan đến khí hậu, đang khiến các ngân hàng phải cải thiện báo cáo ESG và giảm thiểu rủi ro tài chính thông qua công nghệ.

Trên thực tế, có nhiều giải pháp Fintech tự động hóa việc thu thập dữ liệu từ lượng nhiên liệu được sử dụng, sản phẩm đã mua, đến việc đi lại của nhân viên, có thể được tích hợp ngay vào quy trình làm việc của ngân hàng. Sau đó, dữ liệu được đưa vào công cụ tính toán của ngân hàng. Những giải pháp khác cho phép nhập thông tin trực tiếp từ các hệ thống ERP nội bộ để đánh giá doanh nghiệp dựa trên nhiều điểm dữ liệu.

Với các API và nền tảng mở, các ngân hàng đang thiết lập nền tảng quản lí rủi ro mở và kết nối các sản phẩm. API cung cấp chức năng “plug and play”, gần như cho phép tích hợp đơn giản với các hệ thống ERP cốt lõi.

Sau khi tích hợp các giải pháp của bên thứ ba vào khung rủi ro tiêu chuẩn, các tổ chức có thể sử dụng các kịch bản liên quan đến khí hậu và các mô hình tối ưu hóa sổ ngân hàng hiện có để hướng dẫn đạt mục tiêu danh mục đầu tư bằng không. Việc chọn đối tác nền tảng phù hợp có thể tạo điều kiện tích hợp liền mạch và nhanh chóng. Do rủi ro tài chính ESG ngày càng leo thang và yêu cầu báo cáo ngày càng tăng ở các khu vực khác nhau, cả ngân hàng phát triển và ngân hàng toàn cầu đều cần có nhiều công cụ để thu thập dữ liệu và đánh giá tác động.

Bên cạnh đó, kì vọng của các định chế phát triển khác nhau và quy định pháp luật/tiêu chuẩn của Việt Nam, khả năng thích ứng thực tế của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là một rào cản.

Bởi vậy, để tăng cường áp dụng và lan tỏa các thông điệp ESG, cần chú ý chuẩn hóa điều kiện E&S được chấp nhận rộng rãi giúp việc triển khai được đồng bộ; NHNN khuyến khích các ngân hàng thương mại thực hiện tốt E&S, phát triển bền vững; tăng cường các khóa đào tạo có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, NHNN, Bộ Tài chính, hệ thống ngân hàng thương mại đến doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2021 - 2030 và hướng tới năm 2050, ngành Ngân hàng tập trung triển khai ban hành quy định khuyến khích các TCTD tài trợ, cho vay ưu đãi đối với dự án thuộc danh mục phân loại xanh; hướng dẫn quản lí rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng... NHNN tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các TCTD tập trung bố trí nguồn vốn phù hợp để cho vay ưu đãi, khuyến khích chủ đầu tư thực hiện dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh; phát hành trái phiếu xanh phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ các TCTD tiếp nhận nguồn vốn viện trợ, cho vay ưu đãi nước ngoài để tài trợ cho dự án thuộc danh mục phân loại xanh; nghiên cứu, xây dựng kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. https://nguoiquansat.vn/esg-kim-chi-nam-cho-ngan-hang-trong-muc-tieu-so-hoa-mot-ngan-hang-duoc-vinh-danh-98464.html

2. http://khoahocnganhang.org.vn/news/vi/hoi-thao-khoa-hoc-cap-nganh-cac-rui-ro-moi-truong-xa-hoi-quan-tri-trong-hoat-dong-ngan-hang/

3. https://thitruongtaichinhtiente.vn/cac-ngan-hang-phat-trien-thuc-day-tieu-chuan-esg-thong-qua-cong-nghe-48508.html

4. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/thuc-thi-esg-ngan-hang-can-hanh-dong-manh-hon-post298552.html

5. https://thoibaonganhang.vn/esg-kim-chi-nam-cho-ngan-hang-trong-muc-tieu-so-hoa-129049.html

6. https://cafef.vn/thuc-thi-chien-luoc-esg-nhung-duoc-mat-tu-nguoi-di-tien-phong-188231020123752692.chn

7. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/du-no-cap-tin-dung-xanh-tang-binh-quan-hon-23nam-post335161.html


TS. Nguyễn Minh Phong, ThS. Nguyễn Trần Minh Trí (Hà Nội)
ThS. Nguyễn Thị Duyên (Tạp chí Ngân hàng)

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Quỹ tín dụng nhân dân trước yêu cầu tái cơ cấu và chuyển đổi số: Cơ hội, thách thức và định hướng mô hình phát triển trong giai đoạn mới

Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của hệ thống trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối