Tác động của giá dầu và tỷ giá tới chứng khoán ngành nhựa tại Việt Nam

Thị trường tài chính
Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá mối quan hệ giữa giá dầu thế giới, tỷ giá USD/VND và biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa đang niêm yết trên hai sàn chứng kh...
aa

Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá mối quan hệ giữa giá dầu thế giới, tỷ giá USD/VND và biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích mô hình hồi quy phân phối trễ, dữ liệu được sử dụng theo tháng cho giai đoạn 2010-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả giá dầu và tỷ giá đều tác động mạnh mẽ và nghịch chiều tới giá chứng khoán ngành nhựa.


1. Tổng quan nghiên cứu

Mối quan hệ giữa giá dầu, tỷ giá và thị trường chứng khoán trong những năm gần đây đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Thực tế, dầu thô thường được coi là xương sống của ngành công nghiệp, sự biến động giá sẽ tác động đa chiều tới các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ dầu. Khi giá dầu tăng thì các doanh nghiệp khai thác sẽ được hưởng lợi và ngược lại đối với các doanh nghiệp tiêu thụ dầu hoặc sử dụng các nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu. Điều này dẫn đến làm thay đổi giá giữa các nhóm chứng khoán khác nhau trên thị trường. Bên cạnh đó, tỷ giá lại tác động trực tiếp đến thị trường chứng khoán nói chung và các ngành kinh doanh cụ thể.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cụ thể cho đặc thù nền kinh tế, thậm chí là đặc thù ngành vẫn chưa có được sự đồng thuận về mối quan hệ giữa giá dầu thô và thị trường chứng khoán (Degiannakis & cộng sự, 2018 và Tuna & Cộng sự, 2017). Nghiên cứu của Chen (2010) chỉ ra rằng giá dầu tác động tiêu cực tới thị trường chứng khoán. Papapetrou (2001) cũng tìm thấy mối quan hệ tiêu cực, nhưng sự tác động có độ trễ khoảng 4 tháng sau đó. Trong khi kết quả nghiên cứu của các tác giả Zhu & cộng sự (2014) lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa giá dầu và thị trường chứng khoán. Một cách giải thích khác cho mối quan hệ này, theo Chiang và cộng sự (2015) thì giá dầu không chỉ tác động tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp mà còn tác động tới danh mục của các nhà đầu tư, do dầu thô đang dần trở thành một mặt hàng để phân bổ tài sản, phân bổ rủi ro. Với kết quả nghiên cứu khác nhau tùy theo đặc thù kinh tế của mỗi quốc gia như trên chưa cho phép đưa ra được kết luận về mối quan hệ giữa biến động của giá dầu và thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu mới đây của Trần Huy Hoàng (2017) chỉ ra rằng giá dầu có tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng chỉ là một tác động nhỏ.

Thực tế, mối quan hệ giữa tỷ giá và thị trường chứng khoán, trong lý thuyết đã tồn tại rất nhiều nghiên cứu, nhưng mỗi nghiên cứu tiếp cận và giải thích vấn đề một cách khác nhau (Abouwafia & Chambers, 2015). Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, yếu tố tỷ giá thực đã có những tác động nhất định đến thị trường chứng khoán. Đặc biệt, đối với ngành nhựa, các doanh nghiệp sản xuất vừa chịu ảnh hưởng bởi giá dầu vừa chịu ảnh hưởng bởi tỷ giá. Trong khi đó chưa có nghiên cứu nào tác động riêng cũng như đồng thời của giá dầu thô thế giới và tỷ giá USD/VND đến giá chứng khoán ngành nhựa tại Việt Nam. Đây sẽ là vấn đề chính mà tác giả sẽ giải quyết trong nghiên cứu này.

2. Mô hình nghiên cứu

Tác động của giá dầu thô thế giới tới giá cổ phiếu ngành nhựa

Các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa sử dụng nguyên liệu đầu vào là hạt nhựa, trong khi hạt nhựa được sản xuất từ dầu thông qua quá trình chiết xuất các chất trung gian như Naphtha, Ethylene, Propylene... Điều này phản ánh mối quan hệ cùng chiều giữa giá dầu và chi phí sản xuất và do đó tác động nghịch chiều tới lợi nhuận và giá cổ phiếu của các doanh nghiệp nhựa. Tuy nhiên, sự tác động nghịch chiều tới giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này không hẳn là tức thời, bởi tác động gián tiếp qua nhiều khâu trung gian. Tác động tức thời của giá dầu tới giá của cổ phiếu có thể kể đến là các doanh nghiệp khai thác dầu khí hoặc dịch vụ phụ trợ cho ngành khai thác dầu khí bởi đầu ra của các doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào giá dầu. Do vậy, tác giả cho rằng giá dầu có mối quan hệ nghịch chiều với giá cổ phiếu của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa với độ trễ nhất định.

Giả thiết 01: Giá dầu tác động tiêu cực tới giá cổ phiếu ngành nhựa.
Tác động của tỷ giá USD/VND tới giá cổ phiếu ngành nhựa

Theo Abouwafia & Chambers (2015), sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ tác động đến thay đổi giá chứng khoán của các danh mục đầu tư. Trong bối cảnh Việt Nam hiện tại, chúng ta có thể thấy rằng chế độ tỷ giá đang được thả nổi có quản lý của Ngân hàng Nhà nước với dự trữ ngoại hối khá thấp ở mức khoảng 60 tỷ USD tính đến tháng 6/2018, tương đương giá trị nhập khẩu của ba tháng, là mức tối thiểu theo khuyến nghị của IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế). Khi đồng nội tệ biến động mạnh, đặc biệt là trong trường hợp bị mất giá có thể sẽ gây ra một sự hoảng loạn và kéo theo sự rút ròng đáng kể từ tất cả các loại tài sản, dẫn đến làm suy giảm giá chứng khoán. Điều này đã từng xảy ra nhiều lần tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa, ngoài việc cổ phiếu bị tác động bởi thị trường chung do tỷ giá biến động, phần lớn nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó việc tỷ giá USD/VND
biến động sẽ tác động làm tăng hoặc giảm chi phí sản xuất. Tỷ giá USD/VND tăng đồng nghĩa với việc VND mất giá, dẫn đến giá nguyên liệu nhập khẩu trở nên đắt hơn, kéo theo chi phí sản xuất cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả hoạt động kinh doanh trong khi giá bán thành phẩm chưa thể chuyển ngay sang người tiêu dùng và do đó, làm giá chứng khoán bị tác động
tiêu cực.

Giả thiết 02: Tỷ giá USD/VND tác động tiêu cực tới giá cổ phiếu ngành nhựa.

Dựa trên các giả thiết, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

PPSIt = a + ∑b1i* POILt-i +
+ ∑b2i* PERt-i + u (1)

Trong đó:
- PPSIt: Chỉ số giá ngành nhựa tại quý t
- POILt-i: Giá dầu Brent thế giới tại quý t-i
- PERt-i: Tỷ giá USD/VND tại quý t-i
- i: độ trễ của biến độc lập, chạy từ 0 đến k

3. Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, mô hình gồm các biến có chuỗi dữ liệu theo thời gian hằng quý cho giai đoạn 2010-2018 được lấy từ nguồn Bloomberg, các doanh nghiệp liên quan và các sở giao dịch chứng khoán, do vậy, tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích mô hình hồi quy phân phối trễ bằng phần mềm Eviews 10.

Dữ liệu nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu được xây dựng bao gồm một biến phụ thuộc là giá chứng khoán của các doanh nghiệp ngành nhựa và hai biến độc lập là Giá dầu và Tỷ giá. Trong đó, Giá dầu Brent thế giới và tỷ giá USD/VND (giá bán ra của Ngân hàng Vietcombank) được thu thập trực tiếp từ Bloomberg. Đối với biến phụ thuộc, tác giả thiết lập chỉ số giá chứng khoán của ngành nhựa (gọi tắt là chỉ số ngành) dựa trên giá chứng khoán của 15 doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa, đang được niêm yết trên hai sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn Hà Nội (HNX), sử dụng nguyên liệu đầu vào là hạt nhựa. Chỉ số ngành được đặt mốc 100 điểm tại quý đầu tiên của chuỗi dữ liệu, tăng trưởng hàng quý được tính bằng phần trăm thay đổi vốn hóa toàn ngành, trong khi đã điều chỉnh tác động của cổ phiếu niêm yết mới (trong giai đoạn mẫu) vào rổ chỉ số, các sự kiện doanh nghiệp như trả cổ tức bằng tiền/cổ phiếu và phát hành thêm cổ phiếu.

Phương pháp phân tích dữ liệu

Để kiểm định mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích mô hình hồi quy phân phối trễ. Trước tiên, tác giả thực hiện kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu bằng cách biến đổi dữ liệu thành dạng phần trăm thay đổi quý sau so với quý trước của các biến và sử dụng kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF Test) với ước lượng Akaike Information Criterion (AIC) có độ trễ tối đa là 4 quý (tương đương 1 năm). Kết quả kiểm định ADF cho thấy tất cả các biến đều có tính dừng với mức ý nghĩa 1%.

4. Kết quả nghiên cứu

Dựa trên kết quả kiểm định ADF, tác giả thực hiện mô hình hồi quy phân phối trễ theo phương trình (1). Thực hiện kiểm định sự có mặt của các biến không cần thiết và kiểm định biến bị bỏ sót trong mô hình, kết quả cuối cùng được trình bày theo phương trình (2). Kiểm định Breusch-Godfrey cho thấy mô hình thực nghiệm không có hiện tượng tương quan chuỗi. Tương tự, kiểm định tổng quát về phương sai thay đổi của White cho kết quả phương sai không đổi.

Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình, tác giả nhận thấy rằng R2 = 0,2549 tương đối thấp, cho thấy gần như không có hiện tượng đa cộng tuyến. Nhân tử phóng đại phương sai VIF = 1,07 xác nhận hiện tương đa cộng tuyến ở mức rất thấp. Để xác định lại hiện tượng đa cộng tuyến, tác giả lấy hồi quy giữa hai biến độc lập là OIL(-3) và ER, kết quả là R2 rất nhỏ (0,066) và không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, có thể kết luận rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến và mô hình thực nghiệm là đáng tin cậy. (Bảng 1)


Phương trình (1) được viết lại như sau:
PPSIt = 6,358 – 0,433*
POILt-3 - 3,351* PERt (2)


Mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 5% với F-statistic = 4,62, tương đương Prob(F-statistic) = 0,0188 và các tham số đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. R2 điều chỉnh = 19,98% phản ánh biến động giá của dầu Brent thế giới với độ trễ 03 quí và tỷ giá USD/VND tại thời điểm t giải thích được 19,98% biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa.

5. Kết luận


Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa giá dầu thô thế giới, tỷ giá USD/VND và chỉ số giá chứng khoán ngành nhựa tại Việt Nam cho giai đoạn từ quí 1/2010 đến quý 2/2018. Kết quả kiểm định mô hình xác nhận các giả thiết đề ra của tác giả.

Cụ thể, giá dầu thô thế giới tác động tiêu cực tới chỉ số ngành nhựa với độ trễ là 3 quí, khi giá dầu thô Brent thế giới tăng 01 điểm phần trăm sẽ làm chỉ số giá chứng khoán ngành nhựa giảm 0,433 điểm phần trăm sau 3 quí. Điều này có thể được giải thích bởi dầu là nguồn gốc của các nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất nhựa, nhưng không phải là nguyên liệu trực tiếp được sử dụng.

Trong khi tỷ giá USD/VND lại có tác động tiêu cực tức thời và rất mạnh tới chỉ số giá chứng khoán ngành nhựa, với mức biến động giảm lên tới 3,351 điểm phần trăm khi tỷ giá tăng một điểm phần trăm. Kết quả này phù hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp sản xuất nhựa tại Việt Nam. Khi tỷ giá thay đổi sẽ tác động tới danh mục đầu tư của các quỹ nước ngoài tại Việt Nam, một sự mất giá mạnh của VND có thể dẫn tới bán tháo trên thị trường và không chỉ chứng khoán ngành nhựa giảm mà là toàn thị trường. Bên cạnh đó, nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất nhựa là hạt nhựa, chủ yếu được nhập khẩu bằng đồng USD. Do vậy, tỷ giá tăng sẽ tác động làm tăng giá nguyên liệu đầu vào, kéo theo là chi phí sản xuất tăng, điều này sẽ tác động tiêu cực và tức thời tới giá cổ phiếu ngành nhựa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Trần Huy Hoàng (2017). “Tác động của giá dầu thế giới đến thị trường chứng khoán và các biến vĩ mô trong nền kinh tế: trường hợp Việt Nam.” Tạp chí Công thương, số 10, tháng 09/2017.
[2] Abouwafia, H. E., & Chambers,
M. J. (2015). “Monetary policy, exchange rates and stock prices in the Middle East region.” International Review of Financial Analysis, 37: 14–28.
[3] Chen, S.S. (2010). “Do higher oil prices push the stock market into bear territory?” Energy Economics, 32(2): 490–495.
[4] Chiang, I. H. E., Hughen, W. K., and Sagi, J. S. (2015). “Estimating oil risk factors using information from equity and derivatives markets.” The Journal of Finance, 70 (2): 769–804.
[5] Tuna, G., Göleç, N. and Tuna, V.E. (2017). “The relationship between oil and stock prices: The case of developing and developed countries.” Theoretical and Applied Economics, 24(4): 97-108.
[6] Papapetrou, E. (2001). ‘‘Oil price shocks, stock market, economic activity and employment in Greece.” Energy Economics, 23(5): 511–532.
[7] Degiannakis, S., Filis, G. and Arora, V. (2018) “Oil Prices and Stock Markets: A Review of the Theory and Empirical Evidence.” The Energy Journal, 39(5): 85-130.
[8] Zhu, H.-M., Li, R., and Li, S. (2014). “Modelling dynamic dependence between crude oil prices and Asia-Pacific stock market returns.” International Review of Economics & Finance, 29:
208–23.

TS. Đinh Xuân Cường
ThS. Phạm Ánh Dương
ThS. Đoàn Việt Nam

Nguồn: TCNH số 21/2018


https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển thị trường chứng khoán hóa tài sản gắn với xử lý nợ xấu: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chứng khoán hóa tài sản có thể trở thành công cụ thị trường quan trọng trong xử lý nợ xấu nếu được đặt trên nền tảng pháp lý đồng bộ, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường chặt chẽ, qua đó mở ra nhiều hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phát triển sàn giao dịch các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình hình thành, vận hành sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách đối với hệ thống ngân hàng trong tham gia thanh toán, quản lý dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm tài chính gắn với các-bon.
Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Phát triển thị trường công cụ phái sinh: Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và đề xuất cho Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường công cụ phái sinh đang từng bước khẳng định vai trò then chốt trong việc quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ dòng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích khung pháp lý, thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút nguồn lực tư nhân phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới: Vai trò dẫn dắt của ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ nhu cầu vốn rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời phân tích vai trò trung tâm của hệ thống ngân hàng, dưới sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong dẫn vốn, ổn định vĩ mô và đồng hành chiến lược với phát triển bền vững của kinh tế tư nhân.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Xem thêm
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng