Rủi ro tín dụng ngân hàng Asean và giải pháp ứng phó của Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Tóm tắt: Sau sự sụp đổ của ba ngân hàng Mỹ: Silvergate Bank (08/3/2023), Silicon Valley Bank - SVB (10/3/2023) và Signature Bank (12/3/2023) đã khiến cho nền tài chính toàn cầu ít nhiều bị ảnh hưởng. Mặc dù các ngân hàng thuộc khu vực ASEAN vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng về tình trạng sẽ gặp khó khăn tương tự, tuy nhiên, hệ thống ngân hàng ở Đông Nam Á đang đối diện với nhiều rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Nợ xấu tăng cao trong khi tăng trưởng tín dụng chậm lại, thu nhập ngoài lãi giảm mạnh, chất lượng tài sản suy yếu. Bài viết tập trung tìm hiểu những đặc tính dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng ASEAN, trong đó có Việt Nam. Từ đó, bài viết đi sâu phân tích và làm rõ giải pháp ứng phó của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
aa

Tóm tắt: Sau sự sụp đổ của ba ngân hàng Mỹ: Silvergate Bank (08/3/2023), Silicon Valley Bank - SVB (10/3/2023) và Signature Bank (12/3/2023) đã khiến cho nền tài chính toàn cầu ít nhiều bị ảnh hưởng. Mặc dù các ngân hàng thuộc khu vực ASEAN vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng về tình trạng sẽ gặp khó khăn tương tự, tuy nhiên, hệ thống ngân hàng ở Đông Nam Á đang đối diện với nhiều rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Nợ xấu tăng cao trong khi tăng trưởng tín dụng chậm lại, thu nhập ngoài lãi giảm mạnh, chất lượng tài sản suy yếu. Bài viết tập trung tìm hiểu những đặc tính dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng ASEAN, trong đó có Việt Nam. Từ đó, bài viết đi sâu phân tích và làm rõ giải pháp ứng phó của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Từ khóa: Rủi ro tín dụng, ngân hàng, giải pháp, ASEAN, Việt Nam.

ASEAN’S BANK CREDIT RISK AND RESPONSE SOLUTIONS OF VIETNAM


Abstract: The mass collapse of American banks such as Silvergate Bank (March 8), Silicon Valley Bank - SVB (March 10) and Signature Bank (March 12) had made the global finance is more or less affected. Although banks in the ASEAN region still have no clear signs of the situation that will face similar difficulties. However, the banking system in Southeast Asian region is facing many potential credit risks. Bad debts increased while credit growth slowed down, non-interest income dropped sharply, asset quality weakened. This article focuses on understanding the vulnerable characteristics of the ASEAN banking system, including Vietnam’s. From there, the article analyzes and clarifies the response solutions of the Vietnamese banking system.

Keyword: Credit risk, bank, solution, ASEAN, Vietnam.

Các ngân hàng thuộc khu vực ASEAN vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng về tình trạng sẽ gặp khó khăn tương tự như các ngân hàng Silicon Valley Bank (Mỹ) và Credit Suisse (Thụy Sĩ). Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Tập đoàn ngân hàng HongKong và Thượng Hải HSBC (Hongkong and Shanghai Banking Corporation), các ngân hàng ASEAN được xem là một trong những “khu vực dễ bị tổn thương”, phải đối diện với nhiều rủi ro tín dụng tiềm ẩn và thu nhập từ tiền lãi giảm sút.

1. Rủi ro tín dụng hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN

Đặc tính dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN được thể hiện:

Thứ nhất, nợ xấu (Non Performing Loan - NPL) tăng cao. Nợ xấu là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại, đặc biệt tại Việt Nam khi tín dụng vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại nguồn thu nhập lớn nhất song cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất cho ngân hàng. Mối lo ngại về nợ xấu đã quay trở lại khi môi trường lãi suất tăng cao gây áp lực lên những người đi vay đang cố gắng trả nợ. Rủi ro tín dụng phủ bóng đen tới triển vọng tăng trưởng của Thái Lan. Bên cạnh nợ hộ gia đình tăng cao, khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Thái Lan tăng lên bằng mức khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nợ xấu của Thái Lan vẫn chiếm 2,7% tổng nợ1. Nợ xấu của Philippines đang cao nhất trong khối các nước ASEAN, chiếm tới 3,3% (tháng 3/2023).


Các ngân hàng ở Singapore, kể cả DBS Group Holdings và United Overseas Bank (UOB) chưa gặp khó khăn do vẫn thu được lợi nhuận kỉ lục khi lãi suất tăng. Lợi nhuận ròng trong quý I/2023 tăng 43% so với năm 2022, lên 2,57 tỉ đô la Singapore (tương đương 1,92 tỉ USD). Tuy nhiên, tỉ suất lãi ròng (NIM)2 - tức chênh lệch giữa số tiền mà ngân hàng kiếm được từ các khoản cho vay và số tiền ngân hàng phải trả cho người gửi tiền - bị giảm. Chi phí tiền gửi tiếp tục tăng khi lãi suất tăng, trong khi chi phí cho vay sẽ được định giá lại. Bởi vậy, tỉ suất NIM tổng thể sẽ giảm dần. Tỉ suất NIM được sử dụng như một chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. Các ngân hàng Singapore thường tuân theo các chính sách lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong việc định giá các khoản vay. Việc Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm vào ngày 03/3/2023 sẽ hạn chế khả năng kiếm thêm thu nhập của các ngân hàng. Do lãi suất đã tăng trong năm 2022, các ngân hàng Singapore sẽ phải tiếp tục cạnh tranh gay gắt để thu hút người gửi tiền. Khi phạm vi tăng lãi suất cho vay hạn chế, tỉ suất NIM có thể bị nén lại. Trường hợp Ngân hàng UOB của Singapore là ví dụ điển hình khi cũng lâm vào tình trạng tương tự ngân hàng DBS Group Holdings. Ngân hàng UOB đã thu lợi nhuận ròng đạt 1,51 tỉ đô la Singapore (quý I/2023), tăng 67% so với cùng kì năm 2022. Tuy nhiên, tỉ suất NIM của UOB đã giảm 8 điểm cơ bản, xuống còn 2,14% (quý IV/2022).

Thứ hai, tăng trưởng tín dụng chậm. Theo nghiên cứu Fitch Solutions, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng Malaysia sẽ giảm từ mức 4,5% năm 2022 xuống 4,3% năm 2023. Nguyên nhân là do triển vọng kinh tế yếu hơn và chi phí vay cao hơn. Rủi ro đối với sự ổn định tài chính của Malaysia vẫn ở mức khiêm tốn khi chi phí đi vay cao hơn cũng như tăng trưởng kinh tế chậm lại sẽ tiếp tục đè nặng lên nhu cầu vay vốn.

Tính đến ngày 15/6/2023, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 12,32 triệu tỉ đồng, tăng 3,36% so với cuối năm 2022, mặc dù thanh khoản được duy trì dồi dào, thậm chí dư thừa. Nguyên nhân chính khiến tín dụng khó tăng là do các doanh nghiệp không có đơn hàng, không có đầu ra nên cầu tín dụng yếu. Nhu cầu tín dụng từ phía doanh nghiệp giảm do đơn đặt hàng của khu vực sản xuất sụt giảm mạnh. Nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành như dệt may, gỗ, thủy, hải sản... đang gặp khó khăn do xuất khẩu giảm, đặc biệt ở thị trường EU và Mỹ, dẫn đến hàng hóa tồn đọng. Tín dụng cho bất động sản tăng thấp hơn so với các năm trước cũng là nguyên nhân khiến tín dụng tăng trưởng chậm.

Thứ ba, thu nhập ngoài lãi giảm mạnh. Năm 2022, các ngân hàng khu vực ASEAN đối mặt với tình trạng thu nhập từ phí bị thu hẹp, ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi giảm. Các ngân hàng lớn nhất của ASEAN đều nằm ở Singapore, bao gồm DBS Group Holdings, Oversea Chinese Banking Corporation (OCBC) và UOB, đều đang đối mặt với những khó khăn nhất định do kinh tế toàn cầu đi xuống khiến hoạt động kinh doanh và đầu tư sụt giảm, dẫn đến khối lượng giao dịch thấp hơn.

Các ngân hàng ở Singapore và Thái Lan gặp khó khăn trong quản lí tài sản, dù môi trường lãi suất tăng cao giúp các ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động cho vay. Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng OCBC đã giảm 42% (quý IV/2022) so với cùng kì, xuống còn 615 triệu đô la Singapore (456 triệu USD), dù lãi suất cao giúp OCBC đạt được lợi nhuận ròng 1,3 tỉ đô la Singapore, tăng 34%. Trong khi thu nhập ròng từ phí và hoa hồng của ngân hàng DBS - lớn nhất Đông Nam Á tính theo tổng tài sản giảm 19%, xuống còn 661 triệu đô la Singapore. Thu nhập ngoài lãi đã giảm ở gần như tất cả 5 ngân hàng lớn3 của Thái Lan, giảm từ 2% đến 30%4 so với cùng kì năm 2022. Sự sụt giảm thu nhập ngoài lãi là do doanh thu từ môi giới và quản lí tài sản giảm, đồng thời thu nhập từ mảng giao dịch và đầu tư cũng suy yếu bởi tỉ giá tăng cao và điều kiện thị trường kém.

Thứ tư, lãi suất tăng cao khiến chất lượng tài sản suy yếu. ASEAN là khu vực có thị trường tăng trưởng hấp dẫn đối với mảng ngân hàng tư nhân, quản lí tài sản cũng như ngân hàng đầu tư. Lãi suất cao hơn và lạm phát gia tăng cũng sẽ khiến các vụ vỡ nợ có khả năng gia tăng hơn nữa trong các quý tới. Dự báo, số tài sản được quản lí tại thị trường ASEAN sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025 so với năm 2021. Tuy nhiên, các ngân hàng khu vực ASEAN có thể bị hạn chế số tài sản bởi rủi ro từ các khoản nợ khó đòi.

Lãi suất tăng cao tại khu vực ASEAN năm 2022 - 2023 sẽ làm suy yếu chất lượng tài sản trên hầu hết các hệ thống ngân hàng ASEAN. Thêm nữa, chất lượng tài sản của các ngân hàng sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng từ lĩnh vực bất động sản vì: (i) Chất lượng tín dụng của chủ đầu tư bất động sản đang trên đà suy yếu do tình trạng tắc nghẽn thanh khoản cũng như chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp bất động sản suy giảm; (ii) Thu nhập của người dân suy giảm sau đại dịch, trong khi đó nhiều khoản vay mua nhà sẽ đến hạn thanh toán nợ gốc và lãi trong năm 2023; (iii) Rủi ro chéo từ “cục máu đông” trái phiếu bất động sản. Ngoài ra, gần 70% tài sản bảo đảm của các ngân hàng là bất động sản, trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay các ngân hàng không dễ để phát mãi tài sản bảo đảm và thu hồi nợ.

Lãi suất tăng cao mặc dù chính sách giảm lãi suất đã được triển khai. Muốn kéo giảm lãi suất cho vay xuống 8 - 9%/năm cần có độ trễ để các ngân hàng trung hòa hết vốn lãi cao. Do đó, khu vực sản xuất vẫn đang phải gánh chịu chi phí vay lớn. Với doanh nghiệp sản xuất, tìm kiếm lợi nhuận từ khoản lãi vay cao không dễ. Thêm nữa, quá trình vận hành, doanh nghiệp dùng nguồn vốn vay để trang trải nhiều khoản như đóng thuế, trả lương, mua máy móc thiết bị. Ở Việt Nam, tín dụng không còn là chuyện thiếu vốn, mà là có vốn nhưng doanh nghiệp không hấp thụ được, không dám vay. Sự hỗn loạn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã đẩy lĩnh vực bất động sản vào tình trạng căng thẳng, tạo áp lực đáng kể đối với chất lượng tài sản của ngân hàng. Chất lượng tài sản của ngân hàng đang đi xuống, không chỉ ở lĩnh vực cho vay bất động sản mà còn ở nhiều ngành như năng lượng tái tạo, cho vay xây dựng - vận hành - chuyển giao BOT (Build - Operate - Transfer), tài chính tiêu dùng.

2. Giải pháp ứng phó của hệ thống ngân hàng Việt Nam


Mục tiêu điều hành tín dụng của hệ thống ngân hàng là góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống, cũng như đảm bảo ổn định được thị trường tiền tệ và ngoại hối
(Ảnh: TH)

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), mặc dù chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể và ổn định trong nhóm 30 nước có chỉ số cao nhất, năm 2018, Việt Nam xếp hạng 29/190, đạt 75/100 điểm, tăng 3 bậc so với năm 2017 (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN) và Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia có tỉ lệ tín dụng/GDP cao nhất trên thế giới. Theo Moody’s, rủi ro bất ổn vĩ mô khi nền kinh tế lạm dụng đòn bẩy tín dụng. Năm 2022, tỉ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức trên 120%.

Tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2023 đạt thấp so với năm 2022, chứng tỏ sức hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu hơn mà nguyên nhân do ba vấn đề chính sau: (i) Doanh nghiệp sản xuất khó khăn về đầu ra trong việc tiêu thụ sản phẩm; (ii) DNNVV đa phần có tình hình tài chính suy yếu, không có phương án khả thi dẫn đến chưa đáp ứng được yêu cầu để vay vốn ngân hàng; (iii) Nhiều dự án của doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn về pháp lí, ít dự án được triển khai nên nhu cầu tín dụng đối với bất động sản giảm sút. Chỉ số tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp vẫn thấp không chỉ do thủ tục hành chính cồng kềnh mà còn bởi sự thiếu thông tin, thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp.

Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang chịu áp lực cung ứng vốn tín dụng lớn. Mặc dù khả năng huy động vốn trung, dài hạn của các tổ chức tín dụng thấp so với nhu cầu của nền kinh tế (nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm đến 80% trong khi dư nợ cho vay trung, dài hạn chiếm khoảng 48%). Hệ lụy là gia tăng rủi ro kì hạn, rủi ro thanh khoản, kéo theo sức ép và rủi ro lên hệ thống các tổ chức tín dụng. Cùng với những khó khăn của thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, tình trạng đầu tư công giải ngân chậm càng tạo sức ép lên tín dụng ngân hàng khi tỉ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của cả hệ thống ngân hàng ở mức cao.

Mục tiêu điều hành tín dụng của hệ thống ngân hàng là góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống, cũng như đảm bảo ổn định được thị trường tiền tệ và ngoại hối. Năm 2023, cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lí nợ xấu là nhiệm vụ ngành Ngân hàng cần gấp rút giải quyết khi nợ xấu vẫn còn tiềm ẩn, chưa xử lí hết và vốn mỏng ở một số ngân hàng. Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức tương đối mỏng so với các quốc gia trong khu vực. CAR của khối ngân hàng thương mại nhà nước là 9%, các ngân hàng thương mại cổ phần là 12%, trong khi tỉ lệ này đối với khối ASEAN 5 là 19%5. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14 - 15%, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang tập trung vào một số giải pháp sau:


Thứ nhất, rà soát hoạt động của tổ chức tín dụng và cơ cấu lại hệ thống tín dụng ngân hàng. Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lí nợ xấu là vấn đề mà ngành Ngân hàng cần gấp rút giải quyết trong năm 2023: Đẩy mạnh xử lí nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh. Nâng cao năng lực tài chính của tổ chức tín dụng. Ngăn ngừa tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo và sở hữu có tính chất thao túng, chi phối trong các tổ chức tín dụng có liên quan. Thực tế, nợ xấu vẫn còn tiềm ẩn và chưa phản ánh hết trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng nhưng không hạ chuẩn cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống.

Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động cấp tín dụng nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Rà soát mức độ tập trung tín dụng vào các khách hàng lớn, các nhóm khách hàng lớn, các khách hàng có liên quan đến cổ đông lớn của tổ chức tín dụng để ngăn chặn tình trạng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, dự án sân sau. Đây là tệ nạn có thể mang đến nhiều rủi ro cho hệ thống tài chính và cả nền kinh tế. Tiếp tục cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn vốn vay. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Theo Luật Các tổ chức tín dụng, tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng; tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Số dư này bao gồm cả trái phiếu do công ty của khách hàng phát hành cho tổ chức cho vay. Với mức cam kết đóng góp của Việt Nam là 1,1 triệu USD, các doanh nghiệp Việt Nam có quyền được nhận bảo lãnh tín dụng từ Cơ chế bảo lãnh tín dụng và đầu tư ASEAN+3 với hạn mức 140 triệu USD.

Thứ hai, thiết kế và tạo hành lang pháp lí cho việc xử lí nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Mục tiêu của ngành Ngân hàng là tiếp tục duy trì ổn định giá trị đồng tiền, cố gắng phấn đấu kiểm soát lạm phát, ổn định tỉ giá. Nhằm tạo điều kiện để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp cần đơn giản hóa thủ tục cho các khoản cho vay tiêu dùng, các khoản cho vay nhỏ lẻ phục vụ đời sống. Thực hiện chính sách hoãn, giãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ có ý nghĩa tác động trực tiếp để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp.

Đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giúp quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp được cải thiện, chỉ số tiếp cận tín dụng được nâng lên. Phát triển các tổ chức tín dụng nhỏ lẻ để đáp ứng nhu cầu vay tín chấp của người dân, thay vì "tín dụng đen", đáp ứng nhu cầu vay vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn của người dân. Phát triển đa dạng các sản phẩm tín dụng; trong đó, có những sản phẩm đặc thù cho đối tượng DNNVV như sản phẩm về ngoại tệ, các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỉ giá nhằm giúp doanh nghiệp chủ động về vốn.

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm các khoản phí, vướng mắc về vấn đề tài sản bảo đảm, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp bất động sản vay vốn và có kiểm soát chặt chẽ rủi ro trong một số lĩnh vực bất động sản đầu cơ. Tính toán giảm chi phí, giảm lãi suất huy động để giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, phải bảo đảm chất lượng tín dụng, không nới các điều kiện tín dụng nhằm hạn chế nợ xấu phát sinh, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô. Thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong khu vực thương mại, dịch vụ nhằm hỗ trợ khu vực nông nghiệp, công nghiệp, khu vực chế biến, chế tạo, phục hồi để gỡ thế kẹt cho tín dụng nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào cầu thị trường, cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục giảm lãi suất và đơn giản hóa điều kiện, thủ tục vay. Muốn khơi thông dòng chảy tín dụng, cần giảm lãi suất và tăng cung tiền. Giảm lãi suất chỉ là giải pháp mang tính giai đoạn. Vấn đề là phải phục hồi nền kinh tế một cách toàn diện, khắc phục các đứt gãy, khi các thị trường hồi phục dần, rủi ro nền kinh tế giảm thì lãi suất cũng sẽ duy trì mức thấp. Tăng cung tiền tệ và giảm lãi suất điều hành sẽ giúp nền kinh tế giải bài toán khó khăn về thanh khoản. Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) buộc phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao là vì hai lí do:

(i) Lãi suất quốc tế đồng loạt tăng nhanh và mạnh, khi lạm phát trong nước vẫn ở mức cao hơn so với năm 2021; (ii) Áp lực mất giá của đồng Việt Nam rất lớn, lên tới 9 - 10% (tháng 10/2022). Vì vậy, tăng lãi suất là giải pháp để tránh mất giá đồng tiền, khiến chi phí đầu vào tăng cao, lạm phát tăng cao. Tuy nhiên, khi ổn định được tỉ giá, lạm phát tăng chậm, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất điều hành. Cụ thể, năm 2023, NHNN đã bốn lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, lần điều chỉnh giảm lãi suất thứ tư được áp dụng từ ngày 19/6/2023. Giảm lãi suất vừa là công cụ điều hành, là thông điệp, tín hiệu cho thị trường, vừa là chỉ đạo, vận động các ngân hàng giảm lãi suất huy động và cho vay. Thực hiện áp dụng chính sách hỗ trợ 2% lãi suất đối với một số ngành, lĩnh vực thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục hạ lãi suất đối với cả lãi suất ngoại tệ và lãi suất vay tiêu dùng. Đồng thời, nhằm tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, ngành Ngân hàng thực hiện triển khai gói tín dụng 120 nghìn tỉ đồng, tập trung cho nhà ở xã hội và nhà ở công nhân ở các khu công nghiệp và khu kinh tế. Gói tín dụng thực sự rất cần cho thị trường, giúp giảm áp lực, căng thẳng cho doanh nghiệp, giảm áp lực vay mua nhà cho người dân, từ đó thị trường có xu hướng tích cực hơn. Lãi suất cho vay gói tín dụng 120 nghìn tỉ đồng sẽ thấp hơn 1,5 - 2% so với mức vay thông thường.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất không quan trọng bằng việc tiếp cận được vốn và đưa nguồn vốn đó vào sản xuất, kinh doanh. Vốn cần đến đúng, trúng và trực tiếp đối với doanh nghiệp đang có nhu cầu. Cùng với tín dụng, cần tiếp tục khơi thông các kênh dẫn vốn khác như trái phiếu, chứng khoán, đồng thời cần tiếp tục đơn giản thủ tục hành chính một cách thực chất hơn. Khơi thông các kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán. Với thị trường bất động sản, cần tập trung nguồn lực đất đai, tài chính, tháo gỡ thủ tục pháp lí, phục hồi phân khúc nhà ở giá rẻ, trên cơ sở đó, phục hồi khu vực sản xuất, vật liệu xây dựng.

Thứ tư, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV và hợp tác xã giúp phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh triển khai Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng; chính sách hoãn, giãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ để giảm bớt các khó khăn cho doanh nghiệp.

Rào cản tín dụng đối với các DNNVV và hợp tác xã mới thành lập là rất lớn, bởi quy mô siêu nhỏ, vốn tự có ít, hầu như không có tài sản thế chấp. Hiện nay, chỉ có khoảng 30% DNNVV của Việt Nam tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng. Nguyên nhân vì DNNVV thường có trình độ quản lí yếu kém, công nghệ lạc hậu, trình độ lao động thấp, thông tin kém minh bạch, khả năng đáp ứng đủ điều kiện hồ sơ vay vốn ngân hàng hạn chế. Vì vậy, cần tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho các DNNVV. Ngân hàng định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 14 - 15% (năm 2023) để đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Trong đó, DNNVV luôn là đối tượng được các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay với nhiều cơ chế ưu đãi về lãi suất, về tài sản bảo đảm, cơ chế xử lí nợ đặc thù.

Hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng ngân hàng, tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho DNNVV tiếp cận vốn; phối hợp với các bộ, ngành trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ DNNVV theo Luật Hỗ trợ DNNVV, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn thông qua Quỹ Phát triển DNNVV và Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại địa phương. Hoàn thiện hệ thống pháp luật (thể chế, chính sách) để hỗ trợ hoạt động cho các DNNVV trên cơ sở tạo điều kiện môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, lành mạnh nhằm hạn chế sự cạnh tranh với các doanh nghiệp phi chính thức. Cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay, bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật. Ưu tiên các DNNVV mới thành lập hoặc có thời gian hoạt động ngắn có thể vay theo hạn mức nhất định.

Trên cơ sở các chính sách ưu đãi tín dụng do Nhà nước ban hành, các ngân hàng triển khai các gói bảo lãnh tín dụng và các quỹ cho vay đặc biệt cho các DNNVV không có tài sản thế chấp và thiếu lịch sử tín dụng để nhóm đối tượng này có thể tiếp cận được vốn vay. Hầu hết các tổ chức tín dụng đã tham gia cho vay đối với khu vực DNNVV. Agribank là một trong những ngân hàng đầu tiên, chủ động đưa ra chương trình hỗ trợ vốn cho DNNVV với mức lãi suất thấp hơn nhiều so với mức lãi suất cho vay thông thường. Các chương trình ưu đãi của Agribank cho DNNVV được miễn, giảm phí và giá các sản phẩm bán chéo như phí thanh toán, phí bảo hiểm, phí mở tài khoản tiền gửi thanh toán, phí phát hành thẻ ATM, Internet Banking. Nhiều chương trình đã thực sự tạo ra những cú hích lớn góp phần vào tăng trưởng kinh tế đối với DNNVV.

Tóm lại, để đáp ứng yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội cũng như giảm bớt rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng, nhiều giải pháp về tín dụng được thực hiện nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng trong các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng nhưng không hạ chuẩn cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống. Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14 - 15% năm 2023, tăng CAR của các ngân hàng thương mại từ 10 - 11% năm 2023 lên 11 - 12% năm 2025.

1Huy Tiến (2023), Những thách thức đối với hệ thống ngân hàng Thái Lan (bnews.vn).

2 NIM (Net Interest Margin) còn được gọi là tỉ lệ thu nhập lãi thuần. NIM được hiểu đơn giản là tỉ lệ chênh lệch giữa thu nhập lãi ròng của tổ chức và ngân sách mà tổ chức tài chính đó phải trả.

3Năm (5) ngân hàng lớn của Thái Lan gồm: Bangkok Bank, Siam Commercial Bank, Kasikornbank, Krung Thai Bank và TMBThanachart Bank.

4Quỳnh Dương (2023), Các ngân hàng ASEAN đối mặt với tình trạng thu nhập ngoài lãi giảm mạnh, chất lượng tài sản suy yếu (thitruongtaichinhtiente.vn).

5Phan Linh (2023), Theo dấu tín dụng bất động sản - Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới (vneconomy.vn).


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Dylan Loh (2022), ASEAN banks face sharper debt risks as interest rates rise - Nikkei Asia.
2. Hữu Chiến (2023), Indonesia kêu gọi ngân hàng ASEAN phối hợp phát triển kinh tế khu vực, https://vietnamplus.vn
3. Kim Dung (2023), Các ngân hàng ASEAN mắc kẹt vì rủi ro tín dụng, lãi suất, https://vietstock.vn
4. Chí Kiên (2023), Thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, https://baochinhphu.vn
5. Song Minh (2023), Các ngân hàng ASEAN kẹt giữa biến động lãi suất và rủi ro tín dụng, https://laodong.vn
6. Phan Linh (2023), Theo dấu tín dụng bất động sản - Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới, https://vneconomy.vn
7. Long Phan (2023), Toàn cảnh nợ xấu Ngân hàng - điều gì đang diễn ra? Investing.com
8. Huy Thắng (2023), Phát huy vai trò của tín dụng, trợ lực hiệu quả hợp tác xã, https://baochinhphu.vn
9. Mai Anh (2021), Tín dụng bất động sản là một trong lĩnh vực ngành Ngân hàng quản lý rất sát sao, chặt chẽ, Theo Cổng thông tin điện tử NHNN, www.sbv.gov.vn
10. Nhuệ Mẫn (2023), UOB mua lại mảng Ngân hàng tiêu dùng của Citigroup tại ASEAN-4 | Tin nhanh chứng khoán, https://tinnhanhchungkhoan.vn
11. Quỳnh Dương (2023), Các ngân hàng ASEAN đối mặt với tình trạng thu nhập ngoài lãi giảm mạnh, chất lượng tài sản suy yếu, https://thitruongtaichinhtiente.vn
12. Ngân Thương (2023), Ưu tiên vốn cho DNNVV, https://congthuong.vn
13. Đức Thuận (2023), Ngành Ngân hàng tích cực thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, khơi thông dòng vốn tín dụng, https://tapchinganhang.gov.vn
14. Ricky Hồ (2023), Ngân hàng ASEAN ứng phó với rủi ro tín dụng gia tăng và kinh doanh giảm sút - Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, https://thesaigontimes.vn
15. Huy Tiến (2023), Những thách thức đối với hệ thống ngân hàng Thái Lan, https://bnews.vn


PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
ThS. Vũ Nhật Quang
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do

Việc định hình Việt Nam trở thành quốc gia thương mại tự do là định hướng chiến lược có thể tạo động lực mới cho hoàn thiện thể chế và tăng trưởng bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, lộ trình thực hiện cần thận trọng, đặc biệt trong tự do hóa tài chính - tiền tệ, nhằm bảo đảm tự chủ, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô trước các rủi ro từ biến động toàn cầu.
Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Công nghệ tài chính xanh và phát triển bền vững trong ngành Ngân hàng

Bài viết làm rõ vai trò của công nghệ tài chính xanh, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và chuỗi khối (Blockchain) trong thúc đẩy phát triển bền vững và chuyển đổi số ngành Ngân hàng thông qua tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro và hạn chế “tẩy xanh”. Trên cơ sở nhận diện các thách thức triển khai, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh hiệu quả và có trách nhiệm.
Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Hiệu quả của việc áp dụng tỉ lệ thanh khoản an toàn trong ngân hàng

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố Báo cáo tháng 01/2026, tập trung đánh giá các quy định về tỉ lệ thanh khoản an toàn (LCR) sau 10 năm triển khai và áp dụng.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành