Nghiên cứu thực nghiệm về ý định chấp nhận tiền điện tử của thế hệ Z bằng việc vận dụng lí thuyết về hành vi có kế hoạch

Nghiên cứu - Trao đổi
Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá ý định hành vi của thế hệ Z (thế hệ sinh ra từ năm 1997 đến năm 2012) đối với việc chấp nhận tiền điện tử. Bằng việc vận dụng lí thuyết về hành vi có kế hoạch để thực hiện phân tích ý định hành vi chấp nhận tiền điện tử, nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất riêng phần (PLS) với cách tiếp cận để phân tích mẫu 230 người thuộc thế hệ Z.
aa

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá ý định hành vi của thế hệ Z (thế hệ sinh ra từ năm 1997 đến năm 2012) đối với việc chấp nhận tiền điện tử. Bằng việc vận dụng lí thuyết về hành vi có kế hoạch để thực hiện phân tích ý định hành vi chấp nhận tiền điện tử, nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất riêng phần (PLS) với cách tiếp cận để phân tích mẫu 230 người thuộc thế hệ Z. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức có ảnh hưởng đáng kể đến ý định hành vi chấp nhận tiền điện tử. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy rằng, nhận thức không có ảnh hưởng đáng kể đối với ý định hành vi chấp nhận tiền điện tử của thế hệ Z.

Từ khóa: Ý định sử dụng, công nghệ tài chính và thế hệ Z, tiền điện tử, lí thuyết về hành vi có kế hoạch.

EMPIRICAL RESEARCH ON THE INTENTION TO ACCEPT CRYPTOCURRENCIES OF Z GENERATION
BY APPLYING THE THEORY OF PLANNED BEHAVIOR


Abstract: This study aims to explore the behavioral intentions of Z Generation towards cryptocurrencies adoption. By applying the theory of planned behavior to perform a behavioral intention analysis of crypto adoption, the study uses partial least squares (PLS) with an approach the sample analysis of 230 people of Z Generation . Research results indicate that attitude, subjective norm and perceived behavioral control have a significant influence on behavioral intention to accept cryptocurrencies. In addition, the results also show that perception has no significant effects on the behavioral intention to accept cryptocurrencies of Z Generation.

Keywords: Intention to use, fintech and Z Generation, cryptocurrency, theory of planned behaviour.

1. Tổng quan bối cảnh nghiên cứu

Sự nổi lên của các loại tiền điện tử như Bitcoin, Ethereum đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới truyền thông và nhà đầu tư trong những năm gần đây. Tiền điện tử là một dạng tiền kĩ thuật số sử dụng công nghệ mã hóa và blockchain để bảo vệ các giao dịch tài chính (Sudzina và cộng sự, 2019). Những đổi mới trong công nghệ tài chính sử dụng công nghệ blockchain và tiền điện tử đã cho phép giao dịch toàn cầu một hệ thống tài chính không biên giới. Tiền điện tử là một trong những thành tựu nổi tiếng nhất của công nghệ hiện tại. Bitcoin là tiền điện tử đầu tiên từng được đề xuất và sử dụng vào năm 2009 bởi Satoshi Nakamoto. Có rất nhiều loại tiền điện tử trên toàn cầu có các tính năng cụ thể và hoạt động giống như một máy tính được kết nối với mạng người dùng và lưu giữ hồ sơ của tất cả các giao dịch do nhà giao dịch tạo ra. Theo nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới, công nghệ blockchain sẽ được sử dụng để giữ 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu vào năm 2025. Cả hai khía cạnh có lợi và dễ mất đi của tiền điện tử có thể gây ra nhiều vấn đề cho các cá nhân tham gia đầu tư. Gần đây, có nhiều nghiên cứu về tiền điện tử trên các khía cạnh pháp lí, thực trạng cũng như bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Tuy vậy, việc nghiên cứu cũng như xác định các thành phần ảnh hưởng còn những khoảng trống cần được nghiên cứu lấp đầy.


Thế hệ Z có sự hiểu biết và quan tâm đến công nghệ, đồng thời có kiến thức và nhận thức tốt hơn về tiền điện tử

1.1. Công nghệ tài chính

Công nghệ tài chính là sự kết hợp giữa tài chính và công nghệ để tạo và cung cấp các dịch vụ tài chính (Kaur và Dogra, 2019). Đổi mới tài chính, chẳng hạn như tiền điện tử, thường chưa được chấp nhận nhưng một khi được chấp nhận rộng rãi, nó có tiềm năng định hình lại tương lai của ngành tài chính (Chuen và Teo, 2015). Việc áp dụng đổi mới tài chính đề cập đến ý định của người tiêu dùng sử dụng tiền điện tử làm thương mại và đo lường sự giàu có. Tiền điện tử có thể phát huy hết tiềm năng khi được người dùng cuối chấp nhận rộng rãi, ngược lại, nếu không chào đón rộng rãi thì tác động của nó sẽ rất khiêm tốn.

Bất chấp sự mơ hồ liên quan đến tương lai của tiền điện tử tại Việt Nam, các khoản đầu tư vào tài sản kĩ thuật số, đặc biệt là Bitcoin, đã chứng kiến ​​sự gia tăng vượt bậc kể từ năm 2020. Theo báo cáo của Cointelegraph, Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới về tỉ lệ đầu tư Bitcoin trong năm 2020, đáng chú ý, nền kinh tế của Việt Nam hiện xếp thứ 53 nếu xét trên tổng sản phẩm quốc nội. Ngày càng có nhiều người chấp nhận tiền điện tử cho thấy sự thay đổi mô hình tài chính ở một quốc gia vốn được biết đến với việc đầu tư chủ yếu vào bất động sản và các tài sản an toàn khác.

Bất chấp những rào cản đối với việc áp dụng, lợi ích của công nghệ blockchain là rõ ràng do gần như chắc chắn rằng dữ liệu được truyền và nhận không thể bị sửa đổi, do đó nâng cao tính bảo mật và minh bạch của dữ liệu cho tất cả các bên. Các tổ chức đang tăng cường nỗ lực đổi mới và áp dụng tiền điện tử, dự đoán sự tăng trưởng trong việc sử dụng các loại tiền kĩ thuật số. Người ta nhận thấy rằng, việc sử dụng tiền điện tử cho các giao dịch dẫn đến chi phí giao dịch thấp hơn và giảm đáng kể lượng thời gian cần thiết cho các giao dịch do không trung gian. Nghiên cứu này với mục tiêu xem xét ý định của thế hệ Z đối với tiền điện tử cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận của thế hệ Z đối với tiền điện tử.

1.2. Lí thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)

Lí thuyết hành vi có kế hoạch là một trong hai lí thuyết chính giải thích tại sao nhận thức và thái độ là những thước đo cần thiết trước khi áp dụng thực tế. TPB là mô hình phổ biến được sử dụng thường xuyên trong việc áp dụng các công nghệ để dự đoán hành vi của con người, ý định áp dụng đổi mới dựa trên công nghệ là một chức năng chính của thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan của một cá nhân, khả năng kiểm soát hành vi nhận thức và mức độ nhận thức.

2. Giả thuyết, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Bằng việc vận dụng lí thuyết hành vi có kế hoạch, nghiên cứu tổng hợp bao gồm bốn giả thuyết:

H1: Thái độ có mối quan hệ với ý định chấp nhận tiền điện tử.

H2: Chuẩn chủ quan có mối quan hệ với ý định chấp nhận tiền điện tử.

H3: Kiểm soát hành vi nhận thức có mối quan hệ với ý định chấp nhận tiền điện tử.

H4: Nhận thức có mối quan hệ với ý định chấp nhận tiền điện tử.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên bảng câu hỏi khảo sát để hoàn thành các mục tiêu của nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là thế hệ Z, vì họ có mức độ sử dụng Internet thường xuyên và có xu hướng áp dụng đổi mới. Bảng câu hỏi đã được gửi cho đáp viên và thu về 230 khảo sát hợp lệ có thể sử dụng được và được thực hiện phân tích dữ liệu cho nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Mô hình đo lường và cấu trúc đã được phân tích trên SmartPLS 3 để tiến hành phân tích và đánh giá: Cronbach's Alpha, tính nhất quán bên trong, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và độ phù hợp của mô hình đo lường với dữ liệu thực nghiệm.

Bảng 1. Tóm tắt các hệ số qua mô hình PLS-SEM


Nguồn: Kết quả ước lượng SmartPLS

3.1. Kiểm định độ tin cậy và tính giá trị của thang đo

Kết quả từ Bảng 1 cho thấy rằng, hệ số tải của các cấu trúc đều > 0,8; hệ số CA đều lớn hơn 0,8 và hệ số CR các cấu trúc > 0,8. Như vậy, thang đo đã đạt được độ tin cậy. Giá trị hội tụ được đánh giá thông qua hệ số AVE, kết quả cho thấy hệ số này đều lớn hơn 0,5 và nhỏ nhất là 0,720. Nghiên cứu được ước lượng qua việc sử dụng phương pháp chỉ số Heterotrait - Monotrait, kết quả tại Bảng 2 cho thấy, các chỉ số HTMT đối với tất cả các cặp biến nghiên cứu của yếu tố bậc một đều nhỏ hơn 0,9 nên thỏa mãn điều kiện chuẩn. Do đó, tác giả kết luận rằng mỗi cấu trúc nghiên cứu đã đạt được độ tin cậy và tính giá trị.


Bảng 2. Giá trị phân biệt theo phương pháp chỉ số HTMT

Nguồn: Kết quả ước lượng SmartPLS


3.2. Kiểm định về đa cộng tuyến và độ phù hợp của mô hình

Qua kết quả ước lượng tại Bảng 2 cho thấy, hệ số VIF của tất cả các biến quan sát đều nhỏ hơn 5 và lớn hơn 0,2, do đó các biến tiềm ẩn không vi phạm về tính đa cộng tuyến. Độ phù hợp của mô hình nghiên cứu đề xuất được đánh giá thông qua hệ số R² của các biến tiềm ẩn nội sinh, theo kết quả trong Bảng 1, giá trị R² đạt giá trị 0,605 (lớn hơn 0,5) đạt yêu cầu kiểm định cho thấy mô hình đủ khả năng giải thích cho tất cả các biến tiềm ẩn nội sinh. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng chỉ số Stone-Geisser (Q2) và chỉ số mức độ phù hợp toàn cầu (GoF). Các giá trị Q2 lớn hơn ngưỡng giá trị 0 với giá trị nhỏ nhất là 0,2 và giá trị GoF bằng 0,65 đã chỉ ra độ phù hợp của mô hình trong mức từ vừa đến lớn. Đồng thời, SRMR = 0,059 < 0,08 và NFI = 0,86 > 0,85. Như vậy, kết quả trên cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu thực nghiệm.

3.3. Đánh giá mô hình cấu trúc

Bảng 3. Kết quả ước lượng qua mô hình PLS - SEM trên SmartPLS 3

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả


Nghiên cứu đề xuất bốn giả thuyết trực tiếp như trong Bảng 3. Các giả thuyết H1, H2 và H3 đều được chấp nhận vì p-value < 0,05 và giả thuyết H4 bị bác bỏ vì p-value > 0,05. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thái độ (β = 0,71 và p = 0,000), chuẩn chủ quan (β = 0,73 và p = 0,000) và kiểm soát hành vi nhận thức (β = 0,37 và p = 0,002) đã có ảnh hưởng đáng kể đến ý định hành vi chấp nhận tiền điện tử và nhận thức (β = 0,101 và p = 0,075) không có ý nghĩa tác động đối với hành vi có ý định chấp nhận tiền điện tử.

Ngoài ra, Cohen (1988) chỉ ra rằng, kích thước ảnh hưởng (f2) đạt 0,02 là nhỏ, 0,15 là vừa và 0,35 là mạnh. Từ Bảng 3, suy ra thái độ (1,20), chuẩn chủ quan (1,40) là 2 yếu tố có quy mô ảnh hưởng lớn, kiểm soát hành vi nhận thức (0,13) là một quy mô ảnh hưởng vừa phải và yếu tố chuẩn chủ quan (0,00) là một quy mô ảnh hưởng rất nhỏ hoặc không đáng kể.

4. Kết luận

Mục đích của nghiên cứu này là để khám phá việc chấp nhận tiền điện tử trong thế hệ Z để cung cấp kiến ​​thức đầy đủ về các yếu tố quyết định việc chấp nhận tiền điện tử. Sự phát triển của các công nghệ tài chính là rất cần thiết cho sự tăng trưởng của các thị trường tài chính hiện có. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức là các yếu tố có mối quan hệ với ý định chấp nhận tiền điện tử đối với thế hệ Z.

Theo Mazambani và Mutambara (2019), các yếu tố trên cần được chú ý đối với ý định chấp nhận tiền điện tử về tăng trưởng trong công nghệ tài chính. Thế hệ Z có sự hiểu biết sâu sắc hơn và quan tâm đến công nghệ, đồng thời có kiến ​​thức và nhận thức tốt hơn về tiền điện tử. Nghiên cứu này góp phần củng cố mô hình lí thuyết trong việc nghiên cứu về hành vi dự định. Ngoài ra, kết quả hi vọng sẽ đóng góp cho các cơ quan quản lí và các nhà hoạch định chính sách trong việc xem xét hợp pháp hóa tiền điện tử và cung cấp bức tranh tổng thể hơn về tiền điện tử nhằm có những chính sách phù hợp cho cơ chế hoạt động tiền điện tử nếu áp dụng tại Việt Nam cũng như nâng cao hơn nhận thức cho người dân để tránh mọi thiệt hại về tài chính.

Tài liệu tham khảo:

1. Chuen, D. L. K., & Teo, E. G. (2015). Emergence of FinTech and the LASIC principles. The Journal of Financial Perspectives: Fintech, pages 24-37.
2. Cohen, M. A. (1988). Some new evidence on the seriousness of crime. Criminology, 26(2), pages 343-353.
3. Kaur, J., & Dogra, M. (2019). FinTech companies in India: a study of growth analysis. Abhigyan, 37(1), 21.
4. Mazambani, L., & Mutambara, E. (2019). Predicting FinTech innovation adoption in South Africa: the case of cryptocurrency. African Journal of Economic and Management Studies.
5. Sudzina, F., & Pavlicek, A. (2019). Impact of personality traits (BFI-2-XS) on use of cryptocurrencies. In Hradec Economic Days 2019, pages 363-369.

Nguyễn Minh Trí
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường chúng ta đi".
Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, kiên định mục tiêu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là nhiệm vụ then chốt để củng cố nền tảng tư tưởng, bảo vệ định hướng phát triển quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách   ​​​​​​​

Thiết kế tài chính mở: Phân tích so sánh các mô hình triển khai và hàm ý chính sách ​​​​​​​

Bài viết phân tích sự nổi lên của tài chính mở (Open finance) như một trụ cột của chuyển đổi số tài chính, làm rõ các mô hình triển khai và tác động hệ thống trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam theo hướng cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới, bảo đảm ổn định và bảo vệ dữ liệu.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong ngành Ngân hàng: Vai trò của thanh tra, giám sát và công tác chính trị, tư tưởng

Bài viết phân tích vai trò và mối quan hệ gắn bó giữa công tác thanh tra, giám sát ngân hàng với công tác chính trị, tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ yêu cầu kết hợp hai trụ cột này nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, củng cố niềm tin xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Xem thêm
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng