Ngân hàng với phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.Dấu ấn lớn nhất trong năm 2015 là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục...
aa


Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.Dấu ấn lớn nhất trong năm 2015 là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn có hiệu lực từ ngày 25/7/2015 thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, trong suốt giai đoạn vừa qua, ngành ngân hàng đã luôn đồng hành, gắn bó mật thiết với “ba nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân), từ việc hoạch định chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đến việc triển khai, thực thi của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên mọi lĩnh vực. Trong điều hành chính sách, NHNN luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên và đã chỉ đạo các TCTD tập trung nguồn vốn cho vay, thực hiện các giải pháp đẩy mạnh cho vay hiệu quả phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh. Có thể nhìn lại những “điểm mới” và “điểm sáng” trong chính sách mà năm 2015 NHNN đã nỗ lực xây dựng ban hành để tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân, cụ thể:

- Ngay sau khi có Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ, NHNN đã kịp thời ban hành Thông tư số 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015, với 4 điểm mới nổi bật là: (i) Đối tượng cá nhân, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh sản xuất nông nghiệp dù ngoài địa bàn cũng được hưởng chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn; (ii) Mức cho vay không thế chấp có thể tối đa lên đến 100 triệu đồng với cá nhân, 300 triệu đồng với hộ kinh doanh, lên đến 3 tỷ đồng đối với Liên hiệp Hợp tác xã; (iii) Có quy định riêng về chính sách tín dụng khuyến khích đối với mô hình liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; (iv) Có quy định về nguyên tắc và quy trình xử lý rủi ro do gặp phải thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng.

- Nghị định 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản, có hiệu lực từ ngày 25/11/2015 nhằm tháo gỡ những vướng mắc, tạo cơ hội cho ngư dân tiếp cận vốn vay tốt hơn để đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Theo đó, điểm mới nổi bật nhất là thời hạn cho vay đã được sửa đổi. Thay vì quy định thời hạn cho vay 11 năm, Nghị định 89 đã quy định thời hạn cho vay đối với từng trường hợp. Cụ thể, thời hạn cho vay hỗ trợ lãi suất 11 năm đối với trường hợp đóng mới tàu vỏ gỗ hoặc nâng cấp tàu; 16 năm đối với đóng mới tàu vỏ thép hoặc vỏ vật liệu mới. Ngoài ra, Nghị định 89 cũng tạo thuận lợi hơn cho ngư dân như: được hỗ trợ 100% chi phí thiết kế tàu vỏ thép, vật liệu mới có công suất từ 400CV trở lên; năm đầu tiên sau khi giải ngân, chủ tàu được miễn lãi và chưa phải trả nợ gốc. Theo đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 21/2015/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014 của NHNN hướng dẫn thực hiện quy định tại Nghị định 67/2014/NĐ-CP.

Song song với việc ban hành chính sách, NHNN đã sát sao chỉ đạo các TCTD thực hiện hỗ trợ ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Nhờ đó, trong những năm qua, tín dụng nông nghiệp của hệ thống ngân hàng luôn có tỷ trọng dao động ở mức xung quanh 10%, tăng bình quân trên10%/năm. Các chương trình tín dụng mục tiêu của hệ thống ngân hàng luôn được ưu tiên thực hiện và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận:

- Cho vay lĩnh vực lúa, gạo: Dư nợ cho vay lúa gạo toàn quốc ước đạt khoảng 31.500 tỷ đồng, tăng 12% so với 31/12/2014, trong đó, dư nợ tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đạt 25.000 tỷ đồng, tăng 11,4% so với 31/12/2014.

- Cho vay đối với lĩnh vực thủy sản: Dư nợ cho vay thủy sản toàn quốc đến 31/12/2015 ước đạt 66.800 tỷ đồng, tăng 9,5% so với 31/12/2014. Kết quả triển khai thực hiện theo văn bản số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách cho vay đối với chăn nuôi và thủy sản của 5 NHTM: Dư nợ cho vay đến cuối tháng 12/2015 ước đạt 45.500 tỷ đồng, tăng 12% so với 31/12/2014. Dư nợ được cơ cấu đến cuối tháng 12/2015 đối với lĩnh vực tôm và cá tra khoảng 2.000 tỷ đồng. Theo Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn: Đã có 6 ngân hàng thực hiện khoanh nợ cho 11.668 khách hàng với tổng số tiền khoanh nợ là trên 777,52 tỷ đồng tại 9 tỉnh, thành phố.

- Cho vay tái canh cà phê tại Agribank: Đến 30/11/2015, dư nợ cho vay tái canh cà phê tại Agribank là 733,36 tỷ đồng, tái canh diện tích 8.299ha, đối với 6.206 khách hàng được vay vốn theo chương trình.

- Cho vay theo chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ: Đến cuối tháng 12/2015, tổng dư nợ cho vay ước đạt khoảng 3.500 tỷ đồng, tăng 89,4% so với 31/12/2014, trong đó: (i) Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt 3.140 tỷ đồng, tăng 112% so với cuối năm 2014; (ii) Dư nợ cho vay theo lãi suất tín dụng đầu tư đạt 360 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cuối năm 2014.

- Cho vay đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67: Đã có 27/28 tỉnh, thành phố có biển đã phê duyệt được danh sách các chủ tàu đủ điều kiện vay vốn để đóng mới, nâng cấp 1.262 tàu trong đó: đóng mới 1.108 tàu (đạt 48,5% tổng số tàu cần đóng mới 2.284 tàu theo Quyết định số 3602/QĐ-BNN-TCTS của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nâng cấp 154 tàu. Thành phố Hồ Chí Minh chưa phê duyệt danh sách các chủ tàu đủ điều kiện vay vốn theo Nghị định 67. Hiện nay, 4 NHTM Nhà nước đã nhận được 534 bộ hồ sơ của chủ tàu tại 26/27 tỉnh, thành phố và đã ký hợp đồng tín dụng để đóng mới, nâng cấp 301 tàu (đóng mới 296 tàu, nâng cấp 5 tàu), với tổng số tiền các ngân hàng cam kết cho vay trên 3.150 tỷ đồng. Dư nợ đến thời điểm báo cáo đạt 1.120 tỷ đồng. Mức cho vay theo nhu cầu của khách hàng từ 60% - 95% tổng giá trị đầu tư đóng mới, nâng cấp con tàu, tài sản bảo đảm là chính con tàu. Trong 07 tháng trở lại đây, việc ký kết các hợp đồng tín dụng của ngư dân đã tăng lên đáng kể (số lượng hợp đồng tín dụng được ký kết tăng hơn 4 lần so với thời điểm 30/6/2015). Đến nay, đã có 60 con tàu hoàn thành đóng mới, nâng cấp, được hạ thủy và đưa vào hoạt động.

Kết quả cho vay vốn lưu động: Các NHTM đã thực hiện giải ngân cho 179 lượt khách hàng với tổng số tiền gần 58 tỷ đồng tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa.

- Xử lý tháo gỡ khó khăn tín dụng cho hộ nuôi tôm, cá tra theo Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ: Đã có 6 ngân hàng thực hiện khoanh nợ cho 11.668 khách hàng với tổng số tiền khoanh nợ là trên 777,52 tỷ đồng tại 9 tỉnh, thành phố. Ở thời điểm hiện tại, NHNN đã thực hiện tái cấp vốn đối với 02 ngân hàng (SCB, Agribank) với số tiền 458,25 tỷ đồng và đang tiếp tục xem xét tái cấp vốn cho các NHTM khác thực hiện khoanh nợ cho các hộ dân nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Đến 30/11/2015, các TCTD đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Quyết định số 540/QĐ-TTg đối với 39 khách hàng với dư nợ đạt khoảng 30 tỷ đồng, trong đó gia hạn nợ 27 tỷ đồng và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ 3 tỷ đồng.

- Chương trình tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ: NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp nhằm khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn; khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu. Kết quả cụ thể thực hiện chương trình này: Chương trình đã lựa chọn 31 dự án của 28 doanh nghiệp tại 22 tỉnh, thành phố tham gia thí điểm. Số tiền các NHTM đã ký kết với các doanh nghiệp tham gia chương trình lên tới hơn 5.627 tỷ đồng, đến 20/12/2015 đã giải ngân 6.125,4 tỷ đồng, dư nợ đạt 1.998 tỷ đồng. Lãi suất ngắn hạn hiện áp dụng là
6,5%/năm, một số dự án có lãi suất thấp hơn ở mức 5,4-6,3%/năm.
- Cho vay xóa đói, giảm nghèo qua các năm: Ưu đãi vốn cho 25 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách; góp phần giúp 3,6 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo việc làm cho 11,8 triệu lao động từ các chương trình chính sách; hỗ trợ trên 3,3 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 6,6 triệu công trình cung cấp nước sạch và vệ sinh ở nông thôn; xây dựng được 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách; xây dựng 700 chòi tránh lũ; trên 102 nghìn ngôi nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Các chương trình mục tiêu trên đã được NHNN nỗ lực triển khai trong suốt giai đoạn vừa qua, mục tiêu ưu tiên xuyên suốt trong các chương trình là tập trung nguồn vốn triển khai thí điểm cho vay các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng, đặc biệt đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu.

Các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao cần có sự liên kết chặt chẽ giữa 5 nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà tư vấn và nhà nông. Trong đó, doanh nghiệp với vai trò trung tâm cần phát huy được sự năng động, sáng tạo. Trên thực tế, nếu chỉ tập trung gánh nặng vào vai chính sách tín dụng ngân hàng thì hiệu quả chính sách sẽ không cao.Để phát triển các mô hình này trong nông nghiệp một cách bền vững, hiệu quả hơn cần có nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước như tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ trong nông nghiệp; xây dựng sản phẩm nông nghiệp chủ lực của quốc gia, những sản phẩm có tiềm năng như: gạo, cà phê, cao su, thủy sản, thịt lợn, sữa, lâm sản… Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình, kế hoạch đầu tư về khoa học và công nghệ trong chọn, tạo giống, tổ chức sản xuất, xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng. Cần hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao hoạt động có hiệu quả tại những vùng nông nghiệp trọng điểm. Mặt khác, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ các chính sách khác như chính sách về bảo hiểm các sản phẩm nông nghiệp; vấn đề về quy hoạch; chính sách về đất đai, dồn điền đổi thửa… Và yếu tố quan trọng không thể thiếu là sự vào cuộc của chính quyền các cấp trong quản lý quy hoạch, quản lý thị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và các mô hình liên kết trong nông nghiệp phát triển.

Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực này, nhu cầu vốn rất lớn nhưng hiện nay nguồn vốn kể cả ngắn hạn và dài hạn qua kênh ngân hàng chưa đủ đáp ứng.Mặc dù, NHNN đã chủ động, định hướng rõ trong chính sách tín dụng đối với các chương trình ưu tiên này, tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện tại các TCTD, còn thiếu những quy định, quy trình cụ thể đối với từng đối tượng vay vốn, từng mô hìnhvới những tiêu chuẩn, đặc điểm kỹ thuật khác nhau, từng vùng khác nhau… Đây không chỉ là vướng mắc trong cho vay các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao mà đối với các chương trình tín dụng mục tiêu khác mà ngành ngân hàng đang triển khai cũng gặp phải như cho vay tái canh cà phê triển khai tại Agribank…

Như vậy, để có thể phát triển nền nông nghiệp bền vững trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trước hết cần có định hướng và chỉ đạo của Nhà nước để tạo lập một khung chính sách chung cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có sự phối hợp đồng bộ, toàn diện giữa các Bộ, Ngành và chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện chính sách.

Về phía NHNN, cần có đánh giá, tổng kết về các chương trình tín dụng đang triển khai thực hiện, nhận diện những khó khăn, vướng mắc để hoàn thiện chính sách. Trong đó, cần sớm có đánh giá tổng kết đầy đủ về chương trình thí điểm cho vay theo chuỗi giá trị để nhân rộng trong các ngành hàng của sản xuất nông nghiệp. NHNN cũng cần có những nghiên cứu, điều tra, khảo sát về tình hình thực tế triển khai các chính sách tín dụng, các chương trình tín dụng mục tiêu đang thực hiện tại các địa phương khác nhau để xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện khung chính sách tín dụng và để các TCTD có cơ sở để xây dựng các quy trình cấp tín dụng riêng, phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

Tài liệu tham khảo:
ThS. Phạm Xuân Hòe, “Tín dụng ngân hàng cho nông nghiệp, nông thôn cần cách tiếp cận toàn diện và đột phá”,Hội thảo khoa học về “Đánh giá cơ chế, chính sách trong nông nghiệp nông thôn phục vụ tái cơ cấu và thu hút đầu tư”, Hà Nội, tháng 12/2015.

ThS.Nguyễn Thị Hiền
Nguồn:Tạp chí Ngân hàng số 5-2016

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 với phát triển kinh tế Thủ đô sau 1 năm thực hiện Luật Thủ đô

Bài viết làm rõ vai trò quản lý, điều tiết hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chi nhánh Khu vực 1 (NHNN Khu vực 1) trong việc khai thác hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2024, qua đó góp phần huy động, phân bổ nguồn lực và củng cố nền tảng tài chính cho phát triển kinh tế Thủ đô theo hướng bền vững.
Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Công nghệ mực không màu phát quang trong in bảo an: Cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn trên tiền và giấy tờ có giá trị

Bài viết làm rõ cơ sở khoa học, nền tảng vật liệu và yêu cầu công nghệ của mực không màu phát quang, đồng thời phân tích vai trò, thách thức và xu hướng ứng dụng của loại mực này trong hệ thống in bảo an tiền và giấy tờ có giá trị hiện đại.
Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản sau một thập kỷ: Bằng chứng nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết tổng hợp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm sau một thập kỷ triển khai Basel III, cho thấy tỉ lệ bảo đảm khả năng thanh khoản đã góp phần tăng cường chống chịu thanh khoản cho ngân hàng, song cũng đặt ra các đánh đổi về thu hẹp tín dụng, hành vi chấp nhận rủi ro và yêu cầu điều chỉnh linh hoạt trong thiết kế, giám sát và phối hợp chính sách ngân hàng trung ương.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Đối ngoại và hội nhập quốc tế góp phần tạo đà cho ngành Ngân hàng vững bước vào kỷ nguyên mới

Năm 2025, bám sát đường lối, chủ trương hội nhập quốc tế mới của Đảng và Chính phủ, với cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và mềm dẻo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thúc đẩy hiệu quả, toàn diện các kênh đối ngoại và hội nhập quốc tế trên cả bình diện đa phương, song phương cũng như trong hợp tác với các tổ chức tài chính, tiền tệ, ngân hàng quốc tế.
Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thành tựu 40 năm đổi mới và định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết khắc họa chặng đường 40 năm đổi mới của ngành Ngân hàng, khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và mở ra định hướng phát triển hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

Bài viết phân tích yêu cầu đột phá phát triển nguồn nhân lực số của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới, làm rõ những bước đi chiến lược về thể chế, đào tạo và làm chủ công nghệ nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Hoạt động ngân hàng tại địa bàn Khu vực 2: Những thành tựu nổi bật năm 2025 và định hướng năm 2026

Bài viết khái quát bức tranh hoạt động ngân hàng tại Khu vực 2 năm 2025 trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, làm rõ những kết quả nổi bật về tăng trưởng tín dụng, ổn định lãi suất, cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời định hướng vai trò đồng hành của hệ thống ngân hàng với các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.
Xem thêm
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành