Ngân hàng Chính sách xã hội xứng đáng với một thương hiệu đặc thù của ngành Ngân hàng

Hoạt động ngân hàng
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, Ngân...
aa

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo,

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách ra từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT). Từ ấy đến nay, đã 14 năm, NHCSXH thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong sự nghiệp giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.

Nhớ lại ngày đầu mới thành lập, dư nợ của NHCSXH chỉ có hơn 7.000 tỷ đồng với một đội ngũ cán bộ, nhân viên còn ít, chưa quen nghề, thực hiện 3 chương trình tín dụng, không trụ sở làm việc và cũng chưa có một tiền lệ nào về cơ chế tín dụng này. Qua 14 năm, với trách nhiệm được giao và cách làm sáng tạo, NHCSXH đã xác lập được mô hình quản lý tín dụng đặc thù, có hiệu lực và hiệu quả, đưa nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước xuống tận cấp cơ sở minh bạch, công khai và dân chủ. Cách làm đặc thù này của một ngân hàng kinh doanh không vì lợi nhuận đã mang lại hiệu quả kinh tế và có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn. Từ 3 chương trình, đến nay, NHCSXH đã thực hiện hơn 20 chương trình tín dụng và nhiều chương trình, dự án do các địa phương, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủy thác cho NHCSXH thực hiện. Với vai trò và vị thế của mình, trong những năm qua đã có gần 30 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn ưu đãi từ NHCSXH, góp phần giúp trên 4 triệu lượt hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút tạo việc làm cho trên 11,8 triệu lao động, xây dựng được trên 8,8 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, hỗ trợ 3,5 triệu HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, làm được 494 nghìn căn nhà vững chắc cho hộ nghèo và 104 nghìn ngôi nhà vượt lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long…

Đến nay, tổng dư nợ NHCSXH đạt trên 156.258 tỷ đồng, tăng hơn 13.729 tỷ đồng so với năm 2015 với gần 7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách đang vay vốn tại NHCSXH. Tăng trưởng dư nợ tập trung vào một số chương trình lớn là: Cho vay hộ mới thoát nghèo, nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ cận nghèo và cho vay
hộ nghèo…

Năm 2016, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội đất nước tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng NHCSXH vẫn bám sát các Nghị quyết của Chính phủ và Nghị quyết HĐQT NHCSXH, tập trung triển khai các giải pháp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách theo kế hoạch tăng dư nợ tín dụng được Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng Nông thôn mới.

Mặt khác, NHCSXH luôn coi trọng việc tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, do đó, thường xuyên chỉ đạo các đơn vị trong hệ thống thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó chú trọng vào việc chấp hành các thủ tục quy trình nghiệp vụ, chất lượng hoạt động giao dịch tại xã, hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn, công tác xử lý nợ. Đến nay nợ quá hạn và nợ khoanh của toàn hệ thống chiếm tỷ lệ 0,81% tổng dư nợ, giảm 0,03% so với cùng kỳ năm 2015, chất lượng tín dụng của toàn hệ thống được giữ vững. Công tác thu hồi nợ của NHCSXH đạt kết quả cao, doanh số thu hồi nợ đảm bảo; các khoản nợ quá hạn tiếp nhận từ các cơ quan, đơn vị cho vay trước đây về cơ bản đã được thu hồi, tỷ lệ nợ xấu giảm qua các năm…

Hoạt động hiệu quả của NHCSXH góp phần giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội trong cả nước


Từ khi NHCSXH ra đời, đã phối hợp chặt chẽ cùng các tổ chức chính trị - xã hội tập huấn, trợ giúp kỹ thuật, hướng dẫn người dân cách làm ăn, sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả. Kết quả, rất nhiều hộ vay trả được nợ cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn và thoát nghèo bền vững. Điều này lý giải vì sao trong khi tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng khác lên tới 2 chữ số, nhưng tỷ lệ nợ xấu của NHCSXH chỉ chưa tới 0,81%/tổng dư nợ.

Bên cạnh đó, NHCSXH đã chủ động theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình thiệt hại do thiên tai, hạn hán, sự cố môi trường biển xảy ra tại các địa phương, để kịp thời chỉ đạo NHCSXH nơi cho vay phối hợp với các bên liên quan hướng dẫn người vay lập hồ sơ đề nghị xử lý rủi ro theo quy định, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, cho vay mới và cho vay bổ sung để khôi phục đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chuyển đổi ngành nghề… giúp người dân ổn định cuộc sống.

Thêm một dấu ấn của NHCSXH là đã tích cực làm việc với các Bộ ngành Trung ương, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc và cấp ủy, chính quyền một số tỉnh, thành phố về triển khai tổ chức thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Kế hoạch triển khai Quyết định 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH đã tăng được hơn 2.677 tỷ đồng.

Từ một ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, theo một chuyên gia trong ngành Ngân hàng Việt Nam, nếu đây là một ngân hàng thương mại, ít nhất cũng phải cần tới 30.000 cán bộ. Với 498 cán bộ khi nhận bàn giao từ NHNo&PTNT (năm 2003), đến nay, toàn hệ thống cũng mới chỉ có trên 9.000
cán bộ.

Đồng hành cùng đội ngũ cán bộ NHCSXH là 8.000 cán bộ kiêm nhiệm từ 4 tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác. Công tác phối hợp giữa các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và NHCSXH ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn đặc biệt trong công tác củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách, đưa chất lượng hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn đi vào nề nếp, phát huy hiệu quả và nâng cao chất lượng. NHCSXH đã cùng với các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp tăng cường công tác truyền thông để cấp ủy, chính quyền và nhân dân hiểu về ý nghĩa của vốn vay ưu đãi trong công tác giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Hiện nay, 04 tổ chức chính trị - xã hội đang quản lý dư nợ ủy thác trên 154 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 98% tổng dư nợ, với 191 nghìn Tổ tiết kiệm và vay vốn. Cụ thể, Hội Phụ nữ nhận ủy thác 39,54%, Hội Nông dân nhận ủy thác 32,59%, Hội Cựu chiến binh 15,59%, Đoàn Thanh niên 12,28%. Trước năm 2003, một bộ phận lớn người nghèo không tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, nay tình trạng đó không còn. Nhờ “cánh tay nối dài” là các tổ chức hội, đoàn thể và các Tổ tiết kiệm và vay vốn nhận ủy thác cho NHCSXH. Qua hơn một thập kỷ hoạt động, phương thức ủy thác tín dụng cho các tổ chức chính trị - xã hội được đúc kết lại là một phương thức hoàn toàn phù hợp với đặc thù của tín dụng chính sách; phù hợp với năng lực quản lý và phương thức hoạt động theo chức năng của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác.

Mạng lưới có độ bao phủ rộng lớn của NHCSXH còn được thể hiện ở 11.000 Điểm giao dịch và 11.099/11.159 Chủ tịch UBND cấp xã trên toàn quốc tham gia Ban đại diện HĐQT NHCSXH cấp huyện đạt 99,5%. Trong lĩnh vực ngân hàng, đây là đơn vị duy nhất có mạng lưới giao dịch đến tất cả các xã/phường/thị trấn trong cả nước.

Điểm giao dịch được đặt tại trụ sở UBND xã/phường/thị trấn, sử dụng tài sản được trang bị trước đó, sử dụng chính những cán bộ của Phòng giao dịch huyện. Do đó, không làm tăng chi phí tài sản, tăng con người gây gánh nặng cho ngân sách. Với quy định ngày giao dịch cố định hằng tháng, tạo thuận lợi cho người dân đi lại, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, họ được tận tay nhận đồng vốn vay ưu đãi từ cán bộ tín dụng NHCSXH. Người dân nhiều vùng ở miền núi, ngày giao dịch như là ngày hội. Ngoài việc được trực tiếp vay, trả vốn cho ngân hàng, họ còn được gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với bà con trong thôn, trong xã. Đây cũng là cơ hội cho các tổ chức chính trị - xã hội, Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm lồng ghép các chương trình một cách hiệu quả, góp phần xây dựng Nông thôn mới.

Với những cố gắng không mệt mỏi trong sự nghiệp giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, NHCSXH đã nhận được sự tin yêu, đồng tình và giúp đỡ của nhân dân. Sau thời gian tìm tòi và sáng tạo, đến nay NHCSXH đã vận hành một mô hình tổ chức tín dụng phù hợp đặc thù, đạt hiệu quả cao, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội của đất nước, được Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội đánh giá tín dụng chính sách là một trong những “điểm sáng” nhất trong bức tranh chính sách, pháp luật về giảm nghèo. Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng khẳng định: Chính sách tín dụng cho hộ nghèo là chính sách được triển khai rộng rãi nhất, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn của hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực, xây dựng được mối liên kết tốt giữa Nhà nước thông qua NHCSXH với các hội, đoàn thể và người nghèo; phát huy được tính chủ động, nâng cao trách nhiệm của người nghèo với chính quyền cơ sở thông qua việc giữ mối liên hệ, hướng dẫn làm ăn, đôn đốc giải ngân, thu nợ của
ngân hàng…

Tại buổi làm việc với NHCSXH ngày 16/6/2016, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã ghi nhận, đánh giá cao hệ thống NHCSXH từ trung ương đến cơ sở đã nỗ lực phấn đấu đạt được kết quả toàn diện trên mọi lĩnh vực; tập trung huy động nguồn vốn lớn, đáp ứng cơ bản nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; góp phần thay đổi tư duy của hộ nghèo, đồng bào DTTS về quan hệ tín dụng “có vay - có trả”; đồng thời, góp phần làm giảm tín dụng đen tại các địa phương. Bên cạnh đó, NHCSXH đã xây dựng được mô hình tổ chức và phương thức quản lý tín dụng đặc thù, có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngân hàng với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, gắn bó với người dân thông qua các Tổ tiết kiệm và vay vốn do các tổ chức chính trị - xã hội thành lập; bộ máy điều hành được thiết lập gọn nhẹ, hiệu quả, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong triển khai tín dụng chính sách xã hội. Hoạt động tín dụng chính sách do NHCSXH đóng góp tích cực không chỉ về kinh tế, xã hội mà còn góp phần ổn định tình hình chính trị, bảo đảm an ninh trật tự, đặc biệt tại các khu vực biên giới; tạo niềm tin cho đồng bào vùng sâu, xa, hộ nghèo và các đối tượng chính sách đối với Đảng, Nhà nước…

Trần Giáp

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 1+2 năm 2017

https://tapchinganhang.gov.vn

Tin bài khác

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Xem thêm
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng